Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

ĐẠO VĂN CHƯƠNG VÀ SỰ SÁNG TẠO TRONG VĂN CHƯƠNG (I)

ĐÔNG LA
ĐẠO VĂN CHƯƠNG
VÀ SỰ SÁNG TẠO TRONG VĂN CHƯƠNG (I)
           
          Lý sự nhiều rồi hôm nay tôi quay lại bàn chuyện văn chương. Nhưng rắc rối ở chỗ chuyện văn chương cũng lại có nhiều lý sự, nhất là chuyện đạo văn và thế nào là sáng tạo trong văn chương?
Chuyện ăn cắp trong đời sống nếu bị phát hiện thì ai cũng nhận ra nhưng chuyện đạo văn chương thì nhìn nhận cho đúng cũng không đơn giản. Cao hơn nữa, trả lời thế nào là sáng tạo, thế nào là giá trị trong văn chương lại càng khó hơn, không chỉ khó với người thường mà còn khó với cả người trong lĩnh vực sáng tác, thậm chí trong giới phê bình chuyên bình giá, thẩm định cũng thường cãi nhau loạn cả lên.
          Trước vụ ồn ào Hội Nhà Văn HN trao “nhầm” giải thưởng cho một tập thơ có sự đạo thơ của Phan Huyền Thư, tôi muốn viết ít dòng về chuyện nói trên và chính chuyện của Phan Huyền Thư.
          ***
          Bắt đầu từ làm thơ rồi viết văn tôi dấn tiếp sang lĩnh vực viết phê bình. Đến nay tôi đã viết rất nhiều, đã có thành tựu nhất định, đã xuất bản hai cuốn “Biên độ của trí tưởng tượng” và “Bóng tối của ánh sáng” (Có người bảo độc nghe cái tên sách đã thấy ghê rồi!) và hai lần được giải thưởng và tặng thưởng.
          Cảm nhận văn chương thì 9 người 10 ý, nên mình viết ý mình ra mà được đa số chấp nhận không phải là chuyện dễ. Phê bình một tác phẩm bình thường đã khó, phê bình một tác phẩm được giải thưởng sẽ khó hơn, còn phê phán nó lại càng khó hơn nữa vì anh phải đủ lực để phản bác những người chọn và trao giải cho nó mà họ thì đa phần đã thành danh. Vậy mà tôi đã phê phán các giải thưởng văn chương rất nhiều, kể cả giải thưởng của những trung tâm văn chương cao nhất, như giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam, giải thưởng cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà Văn VN, giải thưởng cuộc thi của Tạp chí Văn Nghệ Quân đội đến giải của Hội Nhà Văn HN, thậm chí tôi đã phê phán cả giải Hồ Chí Minh!
          Trước khi bàn thế nào là đạo hay không đạo và quan điểm của tôi về chuyện đạo thơ của Phan Huyền Thư, tôi bàn trước chuyện thế nào là cái hay, thế nào là cái cao siêu trong văn chương, cụ thể về thơ?
          ***
          Một tác phẩm văn chương luôn có hai loại ngôn ngữ, một là ngôn ngữ chung, hai là ngôn ngữ sáng tạo. Với ngôn ngữ chung ai dùng cũng được không thể cho là đạo văn, ngược lại, với ngôn ngữ sáng tạo luôn thuộc về cách viết của một tác giả, bất cứ ai viết lặp lại thì chắc chắn là đạo văn. Đạo ở đây là đạo tặc, là ăn cắp, chứ không phải đạo giáo, đạo đức, đạo hạnh!
          Vậy thế nào là ngôn ngữ chung? Như chữ “cánh đồng quê” là ngôn ngữ chung. Tôi đã dùng nó đặt tên một bài thơ. Rất có thể trước tôi có ai đó đã đặt, sau tôi có ai đó cũng sẽ đặt, và còn nhiều biến thể của nó nữa như “cánh đồng Nga”, “cánh đồng chiều”, v.v… đã có rất, rất nhiều người đặt, từ văn chương cho đến các lĩnh vực nghệ thuật khác. Cái chính là nội dung tác phẩm như thế nào? Cấu tứ như thế nào? Ngôn ngữ thế nào? Nghĩa là anh phải có những cái sáng tạo, nếu không, anh chỉ viết ra được những ngôn ngữ chung anh sẽ là kẻ bất tài, nếu anh có ngôn ngữ riêng nhưng lại copy của người ta anh lại thành kẻ cắp!
          Vậy thế nào là ngôn ngữ riêng? Và chính tạo ra được ngôn ngữ riêng người sáng tác mới có sự sáng tạo?
          Trong ngôn ngữ phê bình người ta hay nói đến “tứ thơ” và có nhiều cách giải thích khác nhau. Còn tôi thấy tứ liên quan đến sự sáng tạo. Ý là cái chung của mọi người, còn tứ là cách thể hiện riêng của nhà sáng tác cái ý chung ấy. Như chuyện đi học là ý chung, nhưng tôi diễn tả bằng những ý riêng của tôi, cách riêng của tôi, như vậy ý thơ sẽ có tứ, bài thơ sẽ có cấu tứ. Chính sự tạo ra cái riêng ấy là chỉ dấu xác định tài năng của người sáng tác, trong đó có việc viết ra ngôn ngữ riêng, chỉ có anh là người viết như thế mà thôi.
           Như nhớ nhau là chuyện của muôn thuở, nhưng tôi viết về cái nỗi nhớ theo ý riêng của tôi thế này:
                   Anh xa em gần nửa vòng Trái Đất
                   Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa Cầu
          Câu đầu là ngôn ngữ chung có thể đã nhiều người viết còn câu có cái “nỗi nhớ cong” thì chỉ có tôi viết ra như thế mà thôi.
              Hồi ở Leningrat, một chiều tôi ra khu vườn bên chỗ ở. Tôi nhìn một cháu bé nhỏ xíu người Nga mặc áo ấm tròn như cái kẹo ngồi trên tấm mê trượt tuyết trên cái cầu trượt, tôi nhớ đứa con gái mới hơn tuổi đến đau cả tim. Tôi nhớ con, nhớ vợ, nghĩ nỗi nhớ của mình có về đến Sài Gòn thì nó phải đi cong theo dáng Trái đất. Ngay tích tắc tôi đã làm xong bài thơ 4 câu:
                   Anh xa em gần nửa vòng Trái Đất
                   Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa Cầu
                   Lúc anh thức là khi em ngủ
                   Có bao giờ nhớ và nhớ trùng nhau?
                                                          Leningrat, 1990
          Nếu trên thế giới có ai đó độc lập viết ra ý “nỗi nhớ cong” như thế thì chỉ có thể xếp vào hạng chuyện dị thường. Vô cùng hãn hữu nhưng vẫn có vì vẫn có chuyện người không sinh đôi mà giống nhau, trong khoa học cũng có những nghiên cứu độc lập mà phát minh giống nhau!
          Vì từng làm cán bộ nghiên cứu khoa học tự nhiên nên tôi rất chú trọng đến việc sáng tạo, trong đó có chuyện viết ra ngôn ngữ riêng. Như bài Cánh đồng quê là đề tài quá quen thuộc, nếu không có sáng tạo về ngôn ngữ thì viết ra chỉ công toi. Vì thế cũng viết về cánh đồng nhưng tôi viết theo kiểu của tôi, tôi cố gắng biểu đạt các ý bằng hình ảnh. Ví dụ:
Đất như bị lột da vẫn không kịp cho những vụ 
                                                                   chiêm mùa
Những vụ mùa xếp hàng chờ nhau đến lượt
Không ủ ấm được bao cuộc đời bao số phận 
                                                  mong manh
Khi những đám mây như bị phơi khô trong mùa 
                                                            hạn hán
Mặt đất cũng bị nghiêng khi mùa nước lụt tràn đê
            Trước tôi và chắc chắn sau tôi cũng có nhiều nhà thơ đã sáng tác ra những câu thơ độc đáo của riêng mình. Như Chế Lan Viên - “cha” tôi. Tôi gọi như vậy vì chính ông đã khai sinh ra cái danh xưng “nhà văn Đông La” vì ông là người đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn TPHCM từ tận năm 1986 cơ. Cũng chính ông đã đề nghị làng văn cấp dấu xác định tài thơ của tôi bằng một giải thưởng trong một cuộc thi cũng ở HNV TPHCM! Chế Lan Viên từng viết bài:
Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể
            Cái rét đầu mùa anh rét xa em
          Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa
          Nửa đắp cho em ở vùng sóng bể
          Nửa đắp cho mình ở phía không em

          Chia chăn đắp cho nhau trên giường thì chẳng có gì phải nói, ở đây Chế Lan Viên đã chia chăn đắp cho “em” của mình ở tận “vùng sóng bể” cơ!
          Trong Ban lãnh đạo Hội Nhà Văn VN có ông Chủ tịch Hữu Thỉnh và hai ông phó là Nguyễn Quang Thiều và Trần Đăng Khoa đều là nhà thơ và đều có những câu thơ độc đáo và hay.
          Vì từng thân với Nguyễn Quang Thiều và coi nhau như anh em, Thiều tặng sách tôi nhiều nên tôi đọc khá nhiều thơ Thiều, thấy không đơn giản như “anh Hảo” từng nói và lại mới nói nữa, khi “anh” cho Thiều “bênh” Phan Huyền Thư và cho thơ Thư cũng “ trường phái “Tân con cóc” do nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - một ông công an kiêm Phó chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam làm chủ soái”. Trong cuốn Biên độ của trí tưởng tượng (Nxb Văn Học, 2001), tôi đã viết về cách diễn tả riêng trong thơ Thiều:
            “Trong con mắt thơ của anh không có ranh giới của không gian: “Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi. Bàn tay kia bấu vào mây trắng”. Trong thế giới của trí tưởng tượng, anh luôn thấy tất cả đều là sinh thể, vì thế anh rất hay dùng thao tác nhân cách hóa: đây là một hình ảnh ngộ nghĩnh: “Những trái cây chín mê ngủ tuột khỏi cành rơi xuống”.
Trần Đăng Khoa, giờ đã thành một danh nhân của tỉnh Đông (Hải Dương) quê tôi, khi còn là một cậu bé đã từng làm những câu thơ khiến cho các bậc cha chú trong làng thơ ngạc nhiên và thích thú như Tố Hữu, Xuân Diệu và Chế Lan Viên, chính chúng đã làm nên cái danh xưng “thần đồng” cho Khoa. Trần Đăng Khoa từng viết hai câu mà gần như đến nay ai có chút máu văn chương đều biết cả:
          Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
          Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

          Có nhiều cách tán nhưng tán quá thành sáo rỗng, khoe chữ, không hay. Còn tôi thì thấy cái độc đáo của Khoa ở đây chính là cái tinh tế, đó là việc Khoa đã thấy “Tiếng rơi” lại “rất mỏng”, nghĩa là thấy âm thanh có hình khối, chỉ có một hồn thơ mới thấy được như thế.
           Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có những câu rất nổi tiếng vì anh nhìn thấy được cả cái ranh giới của thời gian như: “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”. Riêng tôi còn biết hai câu mà gần như chưa ai nhắc đến, lần đầu gặp anh trong bữa tiệc chiêu đãi của Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT TW mà tới nay vẫn là duy nhất, tôi thầm thì vào tai anh:
          Quàng vai bạn vô tình ta chạm phải
          Cái cựa mình tin cậy của rừng đêm
Tôi bảo: “Chỉ hồn thơ Hữu Thỉnh mới chạm vào được cái cựa mình của rừng thôi”. Một “chuyên gia” chuyên khen người khác như anh mà cũng phải xuýt xoa, mê ly khi nghe lời bình của tôi. Tất nhiên thôi, đó không phải háo danh, và tôi cũng thế, nếu có ai đó đồng cảm và thấu hiểu sâu sắc về thơ của mình.
***
Với tư cách một nhà phê bình tôi thấy những câu thơ đẹp và tinh tế như trên đúng là độc đáo, làm nên cái hay của thơ, nhưng vẫn chưa đủ, bởi bản chất cốt lõi của văn chương là “Văn dĩ tải đạo”. Đạo ở đây là đạo làm người, những con đường tu sửa, những bài học làm người. Văn chương rất cần cái hay, cái đẹp, nhưng nếu chỉ có thế thì nó lại thành cái đèm đẹp, hay hay; vậy ngoài cái đẹp, cái hay, văn chương còn cần cái sâu sắc, cái cao cả, tức tính tư tưởng. Chính tính tư tưởng mới là những phẩm chất cao quý nhất của văn chương. Nhưng quan niệm về cái sâu sắc, cái cao cả ở ta cũng dần thay đổi. Thời kháng chiến ta cần tuyên truyền cổ động, các nhà sáng tác coi trọng việc ca ngợi “người tốt việc tốt”, coi trọng viết về những chiến thắng. Sau hòa bình quan niệm được mở rộng, để ca ngợi cái thiện, bồi đắp thiện tính, nhà sáng tác không chỉ viết về cái thiện mà còn phải viết cả về cái ác, cái xấu, chỉ ra thế nào là ác, thế nào là xấu? Để thấy rõ hơn, thấy hết chiều kích cái thành quả vĩ đại của cách mạng, người ta không chỉ viết về chiến thắng mà còn phải viết về những thất bại, về những mất mát lớn lao. Cũng như coi xã hội như một cơ thể, nó không chỉ cần mật ngọt mà còn cần cả thuốc đắng. Những nhà văn lớn có tư tưởng chính là những bác sĩ của xã hội.
Tôi có ông bạn facebooker, TSBS Lương Chí Thành, tự nhận là không thích thơ, không hiểu thơ, có lẽ do ông bạn học Y thiên về sinh học. Lúc đầu tôi học hóa cũng thế, cũng không thích và không quan tâm đến văn chương, nhưng rồi qua cô Anh Thơ đến chú Chế Lan Viên, tôi đã dấn thân vào văn chương và đột nhiên ngộ ra tất cả, như đã tìm thấy một nửa bản thể còn khuất mặt của chính mình. Tôi đã thấy các vẻ đẹp đích thực, cao sâu của văn chương. Cũng giống như trạng thái của ông TS Thành reo lên khi đọc bài thơ Dưới ánh sáng của những ngôi sao của tôi viết về chuyện đưa hai đứa con đi học và chuyện học hành của hai đứa con:
          Nhưng qua cái cảm nhận như vậy tôi biết ông bạn của mình với văn chương chỉ dừng lại là độc giả thôi. Vì ông bạn không nhận ra tâm tư tôi gởi gắm trong bài thơ không phải ở câu thơ tình cảm dễ hiểu trên mà ở đoạn chuyên chở tư tưởng này:
Ngày ngày cha chở các con trên những con đường
                     như những dòng sông luôn dâng lên vô tận           
Chi chít người xe
Chi chít số phận
Tất cả bị bó chặt bởi những giới hạn
Nhưng các con có biết không?
Chúng ta đang đi trong giới hạn không phải của lề                                                   đường mà giới hạn của những suy nghĩ
Chúng không thể mở ra bằng xẻng cuốc mà chỉ bằng
                                                                           những con chữ.
           Bài Sau chiến tranh, chỉ bằng hình ảnh giọt nước mắt của mẹ thôi, tôi đã diễn tả cả cái còn cái mất lớn lao sau một cuộc chiến tàn khốc:
          Trước bàn thờ khói hương lãng đãng
          Mẹ đứng lặng rì rầm
          Gọi anh con về ăn cỗ
          Con bỗng giật mình thấy nhăn nheo giọt nước mắt
          Có già nửa phần buồn và non nửa phần vui
          Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có những câu thơ viết về sự mất mát sau chiến tranh. Với những độc giả bình thường chắc chắn sẽ thích hai câu thơ “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu” của anh hơn những câu miêu tả cảnh người vợ ở hậu phương có chồng ở nơi chiến tuyến:
                   Một mình một mâm cơm
                   Ngồi bên nào cũng lệch
          Hoặc:
Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc 
          Còn tôi, với tư cách là nhà phê bình nghiên cứu, tôi phải thích những câu dưới hơn. Vì những câu trên của anh dù hay, dù độc đáo cũng chỉ là những câu thơ tả cảnh đơn thuần, còn những câu dưới, dù rất giản dị, nhưng chúng lại chất chứa những sự hy sinh lớn lao của những người phụ nữ nơi hậu phương. Vì thế mà chúng hay hơn. 
            Có điều, để hiểu những điều sâu sắc, chứa đựng những tâm tư, những tư tưởng lớn lao không chỉ khó khăn với độc giả mà còn khó khăn với chính các nhà thơ nếu họ khuôn cái nhìn theo tài năng hạn hẹp của mình; nó cũng khó khăn với cả các nhà phê bình nếu họ khuôn cái nhìn theo tri thức hạn hẹp của họ.
          Chuyện nhận định về thơ Nguyễn Quang Thiều có thể là một ví dụ sinh động nhất.

(Đông La (phải, trẻ nhất) trong hội thảo thơ Nguyễn Quang Thiều 
ở Viện Văn Học)
Tôi đã viết:
“Ngoài cựu binh Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng cũng chính là một “sát thủ thơ Nguyễn Quang Thiều” thứ thiệt! Đỗ Hoàng cho thơ NQT là loại thơ “Vô lối”, với định nghĩa sau:
Điển hình của Vô lối là triệt tiêu một trăm phần vần điệu, xóa bỏ cách nghĩ, cách cảm của ông cha và thơ ca truyền thống dân tộc và thế giới, tắc tỵ, rắc rối, tù mù, dài dòng văn tự, dây cà ra dây muống, nhạt nhẽo, đánh đố mình, đánh đố người đọc, dung tục, tình dục bệnh hoạn, sính dùng chữ nước ngoài một cách tùy tiện, tuỳ hứng…”; “Đỗ Hoàng cho thơ NQT là “một loại quái thai của văn chương”; và còn bậy bạ hơn nữa, thậm chí phạm pháp khi Đỗ Hoàng vu cáo, phỉ báng cá nhân cũng như cả cơ quan nhà nước khi viết: “mà lại được đám ba đầu sáu tay tung hô hết cỡ”, rồi: “các học giả, nhà phê bình, giáo sư đại học, cánh hẩu viết bài lăng xê, ca ngợi hết lời”.
Ông ta viết: “Nguyễn Quang Thiều cố tìm một cách nói, cách lập ngôn như việc đặt tên tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” … Đọc thấy lạ tai, không theo cách nói cách viết thuần Việt, nó như là cách viết của Tây… Mất ngủ chỉ một trạng thái tâm lý của con người do lao lực, do nghĩ ngợi đau khổ nhiều, thần kinh yếu, do chấn động thần kinh, do chấn thương sọ não… nên dẫn đến mất ngủ… Người khỏe mạnh, cứng rắn, người ta chưa ngủ hoặc người ta không ngủ để lo quốc gia đại sự, chứ họ không bị chứng bệnh mất ngủ!
          Vì vậy việc đặt tên tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” vừa không Việt hóa, vừa thừa chữ, thừa lời, vừa không ổn trong nhận thức”.
          Tôi đã phản bác:
Nếu NQT viết “Sự mất ngủ của Đỗ Hoàng” thì bình thường, ai cũng viết được, ai cũng hiểu được, còn “Sự mất ngủ của lửa” là một sự lao động sáng tạo, cụ thể đó là một phép ẩn dụ, chứ chẳng phải lai Tây hay lai Tàu gì hết”; “Nguyễn Đình Thi cũng có một thao tác ngôn ngữ y hệt Nguyễn Quang Thiều, mà viết trước Nguyễn Quang Thiều cả mấy chục năm, thì chẳng thấy ai cho là lai Tây cả, ngược lại, lại tôn vinh là những câu thơ hay nhất không chỉ của riêng Nguyễn Đình Thi mà của cả nền thơ VN:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Nguyễn Đình Thi có quyền viết “cánh đồng chảy máu”, còn Nguyễn Quang Thiều không có quyền viết “sự mất ngủ của lửa” sao?”
          Nên tôi đã kết luận:
Cái thằng Đỗ Hoàng nào đó cái đầu đề "Sự mất ngủ của lửa" mà cũng không hiểu thì còn làm thơ với bình thơ cái nỗi gì. Chắc nó chỉ nhìn thấy sự mất ngủ của trâu bò thôi”! 
          Về “ông anh” Trần Mạnh Hảo, khi bình bài “Bầy chó của tôi”, đã cho Nguyễn Quang Thiều là: “nhìn con chó thật ghê tởm”, nhìn “một cách kinh hãi”. Quả thật, nếu nhìn những con chó chỉ là những con chó, thì thấy việc nhà thơ tả cảnh chúng cắn xé, tranh giành nhau đúng là kinh hãi thật; và với một quan điểm thẩm mỹ cho tính thơ cao nhất chỉ là những mây trăng hoa lá, xanh xanh đỏ đỏ, thì không thể nào đồng cảm được những câu này thật:
Bầy chó gầy bẩn thỉu ốm đau
Ngày lùng sục kiếm ăn
Liếm cả vào lưỡi dao sắc ngọt
Lưỡi bị cứa máu trào ra ở  đó
Con đến sau lại liếm máu bầy mình
Với tôi, đây là những câu thơ hay nhất, thơ Việt Nam trước Nguyễn Quang Thiều chưa có cách biểu đạt như thế. Viết vậy Nguyễn Quang Thiều đã tiếp cận sâu, cụ thể những vấn đề chính yếu, không chỉ buồn mà còn đau, còn khắc nghiệt, luôn hiện diện trong cuộc sống muôn loài, kể cả loài người chúng ta: sự đấu tranh sinh tồn!
Còn Chế Lan Viên, trong bài viết về Bác Hồ Người đi tìm hình của nước cũng viết hai câu tuyệt hay. Từ cái chí hướng lớn lao của nhà cách mạng đã nhận ra cái bé mọn của bản thân và người đời. Hai câu thơ như sự sám hối về tính vị ngã theo tinh thần vị tha của Đạo Phật:
Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con.
***
Sáng tác nếu không tạo ra được những cái riêng là điều rất không hay. Người đọc bình thường thì chỉ thấy hay là thích, nhưng trong giới sáng tác, nhất là dưới con mắt nhà phê bình, cái hay còn phải là cái riêng của chính tác giả đó viết ra. Về hình thức có một thời rất dài thơ ca coi trọng niêm luật, vần điệu chặt chẽ (thơ Đường, thơ lục bát). Nhưng sự câu nệ hình thức tất dẫn đến sự gò bó ý tưởng. Có khi chỉ vì sự bắt vần mà ý tưởng bị lắp ráp một cách khiên cưỡng. Bản năng thẩm mỹ cơ bản của con người là không đổi. Nhưng khi cuộc sống thay đổi, nền văn minh phát triển, trí tuệ, trí thông minh của con người thay đổi, tất dẫn đến chuyện tư tưởng, tình cảm cũng sẽ thay đổi theo, sẽ phong phú hơn. Niêm luật cứng nhắc gò bó của thơ dường như không thể chứa đựng nổi sự thay đổi ấy.  Nếu coi trọng cái riêng, cái mới, ta sẽ rất chán khi thấy cả nền thơ chỉ như một dàn đồng ca, đi đều bước. Chính vậy thể thơ không vần, câu thơ dài ngắn khác nhau, các nhà thơ tự do thể hiện đã ra đời. Thơ tôi cũng vậy, câu thơ dài ngắn khác nhau, những câu dài phải xuống dòng không viết hoa đầu dòng, phải đọc hết mỗi câu mới có nghĩa, còn không hiểu, tưởng mỗi dòng một câu người đọc sẽ không hiểu gì cả.
Vì cái riêng, cái mới về hình thức, tầm tư tưởng ở nội dung chính là những cơ sở để xác định giá trị của tác phẩm và tài năng của thi sĩ nên người viết nào cũng muốn như thế. Nhưng chỉ có những tài năng đích thực mới đạt được mà thôi. Tiếc là thực tế có nhiều người bất tài nhưng lại tham vọng, người ta không thể đi theo chính đạo nên đã phải theo tà đạo, cố tạo ra cái riêng bằng được bằng sự lập dị, lộn ngược tất cả. Chính vậy người đọc mới thấy có những “tác phẩm” kỳ quái và buồn cười, và không hiểu tại sao lại có những loại "thơ" như vậy.
(Còn tiếp)
26-10-2015
ĐÔNG LA