Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2020

TRẬN ĐÁNH ÁC LIỆT TRƯỚC CỬA NGÕ SÀI GÒN

Sau mấy chục năm, tôi đã viết bao ngàn trang giấy rồi, vậy mà đến tận hôm nay tôi mới viết những trang lịch sử mà mỗi nét chữ phải có biết bao xương máu của những anh hùng liệt sĩ đã đổ ra mới có thể viết nên được. Dịp 30-4 năm nay, Trần Đăng Khoa lại tung ra câu chuyện “Lý Thông” Phạm Xuân Thệ nên tôi đã viết một loạt bài phân tích khá chi tiết và đầy đủ để phản bác những nhận thức và thái độ sai trái về những sự kiện và nhân vật trong ngày 30-4-1975 lịch sử. Hôm nay tôi sẽ viết những dòng chữ để khắc ghi chính những giây phút lịch sử ấy! Đó là những giây phút hào hùng nhất của trận đánh cuối cùng, những giây phút thiêng liêng nhất kết thúc hai cuộc kháng chiến vĩ đại, kéo dài hơn một thế kỷ, từ 1858 đến 1975, tức 117 năm, khi dân ta giành lại được toàn vẹn chủ quyền, thống nhất đất nước.
22-5-2020
ĐÔNG LA

TRẬN ĐÁNH ÁC LIỆT TRƯỚC CỬA NGÕ SÀI GÒN

Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 với 5 cánh quân, tiến đánh Sài Gòn mà đích cuối cùng là Dinh Độc lập, đầu não chế độ VNCH. Quân đoàn1 đánh hướng Bắc, Quân đoàn 3 hướng Tây Bắc, Quân đoàn 4 hướng Đông Bắc; Binh đoàn Cửu Long (Đoàn 232) hướng Tây Nam, và Quân đoàn 2 hướng Đông Nam.

Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh Quân đoàn 2, chính ủy là Thiếu tướng Lê Linh. Nguyễn Hữu An từng là người trực tiếp chỉ huy trận đánh đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. 

Lần này, Quân đoàn 2 của ông được giao nhiệm vụ tiến công với chiều sâu nhiệm vụ khoảng 70 km, trên một diện rộng 86 km từ Căn cứ Nước Trong, Chi khu Long Bình, Tổng kho Long Bình, Chi khu Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, đến Cảng và Bến phà Cát Lái, hợp điểm cùng các cánh quân khác tại Dinh Độc Lập.
17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, cuộc tiến công của quân ta trên hướng Đông và Đông Nam Sài Gòn bắt đầu. Lực lượng pháo binh của Quân đoàn 2 và các đơn vị bạn đồng loạt trút bão lửa vào các mục tiêu quan trọng. Các chiến sĩ Quân đoàn 2 bắt đầu nổ súng lần lượt đánh chiếm Căn cứ Nước Trong; Khu vực Long Thành; Quận lỵ Nhơn Trạch, áp sát vùng nội đô. Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, theo lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, Tư lệnh Quân đoàn cho các trận địa pháo 130mm ở Nhơn Trạch bắn vào Sân bay Tân Sơn Nhất, mở đầu cuộc tổng công kích.
Cũng ngày 29/4/1975, Quân đoàn 2 tổ chức Binh đoàn Thọc sâu, gồm Trung đoàn 66 bộ binh, thuộc Sư 304; Lữ đoàn Thiết giáp 203, và một số đơn vị khác. Chiều 29/4/1975, Binh đoàn Thọc sâu bắt đầu xuất phát từ căn cứ Nước Trong, vượt qua cầu Sông Buông, đánh chiếm Căn cứ Long Bình, cầu Xa lộ (Đồng Nai). Vào lúc Căn cứ Cát Lái, điểm cố thủ cuối cùng của địch ở phía Đông – Nam Sài Gòn bị đập vỡ tan tành, Binh đoàn Thọc sâu đã tràn qua Quận Thủ Đức.
Khoảng 9 giờ sáng 30/4/1975, phân đội đi đầu của lực lượng thọc sâu là Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203 do Nguyễn Tất Tài, Lữ đoàn trưởng, và Bùi Văn Tùng là chính uỷ, cùng các đơn vị hiệp đồng đã tiến sát cầu Sài Gòn, bắt đầu mở cánh cửa máu, đánh vào Dinh Độc Lập.
Quân địch trên cầu và khu vực lân cận vẫn còn nhiều. Chúng dùng những thùng phuy chứa đầy đất cát làm nơi ẩn nấp, đồng thời làm chướng ngại vật, và dùng hỏa lực của tám chiếc xe M.113, bốn xe M.41, sáu chiếc tàu chiến đậu ở Tân Cảng, và cả máy bay, kết hợp với bộ binh chống cự quân ta quyết liệt. Ngay từ những phút đầu, hai chiếc xe tăng của ta thuộc C1 đã bị bắn cháy. Thấy đội hình phân đội xe tăng đi đầu bị dồn lại, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 xe tăng Ngô Văn Nhỡ cho lái xe vọt lên để xử lý. Bất chấp hỏa lực địch nã vào tới tấp, Ngô Văn Nhỡ vẫn bình tĩnh mở nắp xe, đứng lên chỉ huy bộ đội chiến đấu, và anh đã anh dũng hy sinh cùng với một số cán bộ, chiến sĩ xe tăng, công binh khác.
Đại tá Hoàng Đan, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, trực tiếp chỉ huy, ông lập tức lệnh cho Trung đoàn 66 tiến lên đầu cầu, chế áp hỏa lực địch. Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ lệnh cho Trung úy Hoàng Quốc Trị, Đại đội trưởng đại đội 15 ĐKZ, bắn thẳng vào 6 cụm chốt của địch. Trần Minh Công, Lữ đoàn phó, Tham mưu trưởng Lữ đoàn thiết giáp 203, đi cùng Phó Tư lệnh Hoàng Đan, lên chỉ huy đánh chiếm cầu. Đại trưởng 4 xe tăng, Bùi Quang Thận lệnh cho các xe bắn vào xe tăng địch. Địch vẫn điên cuồng chống trả, C1 bị cháy thêm hai chiếc xe tăng nữa. Cuối cùng quân ta, với sức mạnh hiệp đồng binh chủng, pháo tăng và ĐKZ đã bắn cháy 4 chiếc xe M113, hai chiếc xe M41, và 4 khẩu pháo 85 nòng dài của Trung đoàn 68 cũng hạ nòng bắn thẳng, tiêu diệt 2 tàu chiến địch ở phía hạ lưu Sông SG; hơn 100 tên địch còn lại trên mặt cầu đã kinh hoàng bỏ vũ khí tháo chạy. Vậy là khoảng 9h30, cánh cửa vào SG đã được mở toang, cái cánh cửa vô hình nhưng phải mở bằng máu, bằng lửa và bằng lòng quả cảm, tinh thần chiến đấu quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của quân giải phóng.

GIÂY PHÚT XE TĂNG HÚC ĐỒ CỔNG DINH ĐỘC LẬP VÀ CỜ GIẢI PHÓNG TUNG BAY TRÊN NÓC DINH

Lịch sử không thể tuỳ tiện sáng tác nên tôi đã cố gắng tham khảo nhiều tài liệu ghi lời kể của các nhân vật lịch sử, nhân chứng lịch sử, lắp ráp các mảnh sự thật sao cho lịch sử được ghi đầy đủ nhất. Ngoài những điều mà mọi người đã biết rõ như anh Bùi Quang Thận treo cờ nóc dinh, xe 843 đầu tiên cán đích húc và kẹt lại cổng phụ, xe 390 húc đổ cổng chính vào dinh, còn những người khác trực tiếp góp công làm nên sự kiện lịch sử còn chưa được mọi người biết. Trái lại, những người may mắn có mặt, đi theo xem, như Nguyễn Hữu Thái chẳng hạn, thì lại được tuyên truyền quá lố, thậm chí sai trái!  Vì vậy, số này tôi sẽ viết bổ sung những khiếm khuyết đó, từ người cắt điện cổng dinh, người phụ Bùi Quang Thận treo cờ, người phất cờ trên ban-công, v.v…
22-5-2020
ĐÔNG LA

GIÂY PHÚT XE TĂNG HÚC ĐỒ CỔNG DINH ĐỘC LẬP VÀ CỜ GIẢI PHÓNG TUNG BAY TRÊN NÓC DINH

Trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, ngày 21 tháng 4, "cánh cửa thép" Xuân Lộc đã bị mở toang, Quân Giải phóng đã có mặt ở cửa ngõ Sài Gòn. Thất bại này đã dẫn đến sự từ chức của Nguyễn Văn Thiệu, cũng vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, sau 10 năm làm Tổng thống Việt Nam Cộng hoà. Ông ta đã xuất hiện trên truyền hình trách móc Mỹ cắt giảm viện trợ đồng thời cũng chính là những lời tự thú mình là tổng thống của một chính quyền tay sai tồn tại bằng viện trợ, tồn tại vì viện trợ: “…các ông đưa tôi chỉ có 3 đôla mà thúc giục chúng tôi đi bằng máy bay, ghế hạng nhất, mướn phòng 300 đôla một ngày ở khách sạn, ăn ba hay bốn miếng bít-tết và uống bảy tám ly rượu Tây một bữa. Đấy là điều kỳ quặc không bao giờ làm được”. Ở lúc khác ông ta cũng nói: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!” Và rồi, trong lời tuyên bố từ chức dài đến 3 tiếng đồng hồ ấy, ông ta kết luận: “Hoa Kỳ là một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo”. Thực tế, Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình không hiểu, bởi Mỹ bỏ rơi VNCH không phải Mỹ vô nhân đạo mà vì chính Mỹ đã thất bại!
Năm 1990, Nguyễn Văn Thiệu gặp lại chiến hữu tị nạn tại Orange County, California, ông ta thú nhận thân phận nô lệ của chính quyền VNCH khi nói về “nguyên nhân mất nước”: “Bởi vì mình chịu cái sự nô lệ về viện trợ”. Viên thiếu tá biệt kích dù từng chất vấn Tổng thống Dương Văn Minh sáng 30-4-1975 tại Dinh Độc lập: “Tại sao đầu hàng?” đã chất vấn Nguyễn Văn Thiệu như một bị can: “Đào ngũ trong thời chiến phải được đem ra xử bắn hay không? Vì trong ngày tôi chiến đấu cuối cùng tại SG tôi không thấy mặt tổng thống?”
***
Còn đương kim Tổng thống VNCH thời điểm sáng 30-4-1975 là Dương Văn Minh, người mới nhận chức Tổng thống từ Trần Văn Hương vào ngày 28 tháng 4 năm 1975. Dương Văn Minh chính là người mà năm 1963 đã lãnh đạo cuộc đảo chính bắn chết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cố Vấn Ngô Đình Nhu và xử tử hình “Bạo chúa Miền Trung” Ngô Đình Cẩn. Khi Quân Giải phóng đã tấn công đến Cầu Sài Gòn, Dương Văn Minh buộc phải đọc Tuyên bố “yêu cầu hai bên cùng ngưng nổ súng”. Băng ghi âm được phát trên đài Phát thanh Sài Gòn đúng 9h30 phút.
Dù Dương Văn Minh đã đọc tuyên bố yêu cầu ngưng nổ súng như vậy, nhưng trên đường tiến công của Binh đoàn Thọc sâu của quân ta vẫn bị quân địch chống trả tới cùng.
Sau khi phá tan ổ kháng cự ở Cầu Sài Gòn, lực lượng đi đầu Binh đoàn Thọc sâu của Quân đoàn 2 vượt qua Cầu Sài Gòn. Phó Tư lệnh Hoàng Đan chỉ thị cho Lữ đoàn xe tăng 203 cho Tiểu đoàn 1 đi đầu, Tiểu đoàn 2 bám theo; chỉ thị cho Trung đoàn đặc công 116; Trung đoàn bộ binh 66 bám sát đội hình xe tăng tiến về hướng Dinh Độc Lập; Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 66 có nhiệm vụ đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn.
Đến gần 10 giờ, mũi tiến công đến ngã tư Hàng Xanh, Ngô Sĩ Nguyên, Pháo thủ số 1 trên xe tăng 390, thấy hai chiếc xe M113 và một đoàn xe ô tô, cũng là lúc anh nghe thấy lệnh của Trưởng xe Nguyễn Đăng Toàn:
-Mục tiêu!
Ngô Sĩ Nguyên bóp ngay cò súng, các quả đạn bay trúng mục tiêu làm hai chiếc xe M113 toác ra và cháy bùng lên.
Đoàn quân được lệnh tiếp tục rẽ trái tiến lên. Đi đầu là xe tăng 387 của trưởng xe Lê Tiến Hùng, khi xe 390 dừng lại bắn xe địch, xe 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã vượt lên đi thứ hai, xe 390 của Trưởng xe Chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn đi thứ ba . Tiếp theo sau là chiếc xe Jeep chở Đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 66...
Đến Cầu Thị Nghè, một ổ kháng cự của địch có cả xe tăng M41 và xe thiết giáp M113 đã bất ngờ bắn vào đội hình quân ta. Xe 387 dẫn đầu bị trúng đạn. Trưởng xe Lê Tiến Hùng bị thương và một chiến sĩ công binh ngồi trên xe đã hy sinh. Xe 843 của Bùi Quang Thận dừng lại lập tức bắn cháy các xe của địch, dập tắt ổ kháng cự cuối cùng. Xe tăng 390 lại lao lên dẫn đầu. Ngoài Trưởng xe Vũ Đăng Toàn, trên xe 390 còn có Ngô Sĩ Nguyên, Pháo thủ số 1; Lê Văn Phượng, Đại đội phó kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2; và Lái xe Nguyễn Văn Tập. Xe tăng 843 bám theo xe 390. Trên xe 843, ngoài Trưởng xe Bùi Quang Thận có Thái Bá Minh, Pháo thủ số 1; Nguyễn Văn Kỷ, Pháo thủ số 2; và Lái xe Lữ Văn Hỏa.
Các chiến sĩ đều được hướng dẫn trước, qua cầu Thị Nghè, đi qua 7 ngã tư, rẽ trái là sẽ tới Dinh Độc lập. Nhưng lần đầu đi giữa phố phường của một thành phố lớn, san sát nhà cửa, các chiến sĩ bị ngợp, không chỉ có các ngã tư mà còn có các ngã ba, khiến các chiến sĩ không thể nhận diện chính xác thứ tự các ngã tư. Xe 390 đã đi quá đường, vượt qua ngã tư thứ 7 là Hồng Thập Tự-Công Lý (nay là Nguyễn Thị Minh Khai-Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Đi khoảng hơn chục mét đến cổng một trường học thấy bảng hiệu ghi là trường Lê Quý Đôn, nhận ra đã lạc đường, Lái xe Nguyễn Văn Tập nói với Trưởng xe Vũ Đăng Toàn:
-Xe mình có khi bị lạc rồi!
Vừa lúc đó có một thanh niên đi ngược tới, Nguyễn Văn Tập ngừng xe, xuống giữ ngay anh chàng lại, nói với trưởng xe:
-Anh Toàn ơi, bảo nó dẫn mình tới Dinh Độc lập.
Chàng thanh niên sợ hãi:
-Các ông cho con về cất đồ.
Chờ một chút thấy chàng trai rẽ vào đường gần đó mất hút luôn, Nguyễn Văn Tập nhớ ra sau lưng mình chính là ngã tư thứ 7, nên anh cho xe lùi ngay lại, “đánh vào tay trái”, rẽ về hướng Dinh Độc lập.
Trong khoảng thời gian đó, ở trong xe 843, Bùi Quang Thận cũng không nhớ chính xác thứ tự các ngã tư,
Còn ở xe 843, Bùi Quang Thận cũng không biết mình đã vượt qua bao nhiêu ngã ba, ngã tư, đến một ngã tư anh lệnh cho xe rẽ trái, chạy hết một dãy phố đến một ngã ba đầu một con đường lớn. Nơi đó có chiếc cổng sắt lớn dẫn vào một công viên ghi “SỞ THÚ SÀI GÒN”. Anh ra lệnh dừng xe, đứng dưới lòng đường. Đang bối rối, rất may, từ phía trước, anh thấy một phụ nữ đi xe máy lao tới. Trong đầu anh thoáng nghĩ đúng là một cơ hội hiếm hoi, Anh ra hiệu cho xe dừng lại, nhưng chiếc xe vẫn lao đi như không biết đến cử chỉ của tôi. Anh lập tức bắn ba phát chỉ thiên. Người phụ nữ phanh gấp chiếc xe máy chững lại. Trước mắt anh, một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi mặt mày tái mét, mặc dù đã có lớp son phấn phủ lên. Chắc cô đã kinh hồn bạt vía bởi luôn bị tuyên truyền, khi Việt Cộng chiếm thành phố sẽ có một “cuộc thảm sát đẫm máu”, “sẽ rút móng tay của từng cô gái một vì sơn móng tay”, sẽ bắt và giết hết những đứa con lai của những người phụ nữ quan hệ với lính Mỹ.
Với giọng từ tốn, anh đã trấn an được người phụ nữ, rồi đề nghị:
- Chị chỉ hộ tôi đường vào Dinh Độc Lập.
- Tôi chỉ xong ông cho tôi đi chứ - người phụ nữ vừa nói vừa run.
- Vâng, xong việc, chị hoàn toàn tự do- Anh quả quyết.
- Ông đang đứng trước hướng Dinh Độc Lập đó – cô nói mà không dám chỉ tay - nó phía sau tàn cây như rừng phía cuối đường nầy đó.
Bùi Quang Thận nhìn thẳng, từ cuối đường Thống Nhất anh thấy Dinh Độc Lập không đồ sộ như suy nghĩ của anh, nhưng nó là khu nhà bề thế như nằm sau rừng cây. Anh lập tức lên xe, lệnh tiến thẳng đến cổng Dinh Độc lập. Qua ngã tư cuối cùng, Bùi Quang Thận thấy Dinh Độc lập sừng sững trước mặt. Xe 843 rú ga vượt qua đoạn đường cuối tới đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) ngay trước cổng dinh. Không biết quân địch trong Dinh thế nào, Bùi Quang Thận lệnh cho Pháo thủ Thái Bá Minh bắn pháo lên trời để thị uy, nhưng Minh bóp cò 2 lần đạn vẫn không nổ. Minh hét bảo Pháo thủ 2 Nguyễn Văn Kỷ thay đạn, và đó cũng là lúc Lái xe Lữ Văn Hỏa đã lái xe đến gần cổng Dinh có những hàng rào kẽm gai và chướng ngại vật. Bùi Quang Thận hô:
-Cứ lao thẳng vào!
Vì xe đang chạy nhanh, lại tránh chướng ngại vật, xe lạng sang phía trái về phía cổng phụ, Lữ Văn Hỏa vội kéo cần lái phải, chỉnh thẳng hướng, đâm xe thẳng vào cổng. Phải đâm ba lần cánh cổng mới bật ra, lần thứ 3, bánh xe đâm vào trụ cổng trái rất vững, làm xe chết máy, dừng lại.
Lúc này, xe 390 từ hướng Đường Công Lý cũng vừa chạy đến. Lái xe Nguyễn Văn Tập thấy xe 843 dừng lại trước cổng phụ, nói với Trưởng xe Vũ Đăng Toàn:
-Bây giờ thế nào?
Vũ Đăng Toàn quát, giọng hơi gắt:
-Tông vào đi chứ còn thế nào nữa!
Tập lập tức nghiến răng kéo cần lái phải, đánh vuông góc, chỉnh đầu xe đúng giữa, húc tung cánh cổng chính, thực hiện một “đường cua” đẹp nhất trong cuộc đời lái xe tăng của anh. Pháo thủ Lê Văn Phượng, lúc xe ở ngay trước cổng, đứng trên tháp pháo, anh nhìn thấy thấp thoáng một nhà báo cầm máy ảnh, chạy lom khom trong sân Dinh. Đó chính là nữ nhà báo người Pháp Francoise Demulder, người đã chụp được khoảnh khắc lịch sử, chiếc xe tăng 390 của Quân Giải phóng húc đổ cổng chính Dinh Độc lập. Nguyễn Văn Tập tiếp tục rú ga cho xe chạy nhanh đến cửa dinh, rồi dừng lại. Pháo thủ Ngô Sĩ Nguyên cầm AK nhảy ngay xuống xe thì thấy một người chạy lại nói:
-Vừa rồi tôi không cắt cầu dao điện bánh xe thì xe của anh chắc cháy rồi!
Nguyên trả lời:
-Cảm ơn nhé!
Người đàn ông đó chính là Lê Văn Hinh, một tình báo viên với mật danh H5. Trong vai “thiếu úy cảnh sát dã chiến”, từ ngày 18/4, anh đã được cử vào làm bảo vệ khu vực Dinh Độc lập. Sáng ngày 30/4/1975, anh biết đoàn xe tăng của quân giải phóng sẽ không thể húc đổ cổng được vì tất cả hàng rào đã bị cài điện. Khoảng 10 giờ 30 phút, ông đã tìm gặp ngay viên thiếu tá cảnh sát, người đang giữ chìa khóa hệ thống điện trong Dinh Độc lập, khôn khéo thuyết phục “người anh em” ngắt toàn bộ cầu dao trung tâm điều khiển điện của hàng rào. Vì vậy, đoàn xe tăng của quân giải phóng đã húc đổ cổng chính và cổng phụ, an toàn tiến vào sân dinh.
Cũng vào lúc xe 390 vừa ngừng, Trưởng xe Vũ Đăng Toàn định cầm cờ nhảy xuống xe, lên cắm cờ, Lê Văn Phượng vỗ vai Toàn:
-Thôi anh, đã có đồng chí Thận đang cầm cờ chạy theo xe mình vào kia rồi!
Toàn nghe Phượng, khi Bùi Quang Thận chạy đến ngang xe 390, anh nói anh em sẵn sàng chi viện, mình xách khẩu AK nhảy xuống bảo vệ Bùi Quang Thận cầm cờ tiến vào Dinh.
Còn Bùi Quang Thận, trước đó ít phút, khi xe 843 chết máy, kẹt lại cổng phụ của Dinh, anh quyết định thoát ly khỏi xe, chạy bộ vào cắm cờ. Anh giao nhiệm vụ cho các đồng đội chi viện cho mình và dặn: “Các cậu ở lại, mình vào Dinh. Nếu không thấy mình quay ra, cũng không thấy lá cờ này nhô lên, thì tức là mình đã chết ở trong Dinh rồi!” Chạy đến xe 390, anh thấy Vũ Đăng Toàn xách khẩu AK nhảy xuống bảo vệ mình cầm cờ. Khi vượt qua các bậc tam cấp, lao vào trong Dinh, anh bỗng thấy mình bị va vào một khoảng không vô hình, buộc phải dừng lại. Thì ra anh đã va vào cánh cửa bằng kính khổng lồ, trong suốt, mà cả một thời lớn lên ở làng quê, rồi xông pha nơi trận mạc, anh chưa bao giờ được nhìn thấy cái đồ vật xa xỉ ấy!
Nhà báo Hà Huy Đỉnh có mặt lúc đó chứng kiến:
-Thì anh ấy chạy lên đấy, đụng nghe “cái rầm”! Sau khi đụng chạm thì có người hướng dẫn ảnh chạy lên tiếp.
Lúc này, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh ở tầng trên, cho một người xuống đón quân giải phóng tay cầm một miếng vải trắng. Người này chỉ cửa cho Bùi Quang Thận vào, dẫn anh lên lầu 1 gặp Nguyễn Hữu Hạnh (mặc quân phục) tại cầu thang. Anh quát:
- Ông nào là Dương Văn Minh? Cho tôi gặp ngay Dương Văn Minh!
- Dạ thưa, cấp chỉ huy gặp Tổng thống có việc chi ạ?
- Để ông ấy dẫn tôi đi cắm cờ.
- Dạ... dạ, cái việc ấy thì ông này làm được. Chỉ có ông ấy mới biết chỗ.
“Ông này” chính là Đại tá Vũ Quang Chiêm, Chánh văn phòng Phủ Tổng thống. Nguyễn Hữu Hạnh yêu cầu Vũ Quang Chiêm đưa Bùi Quang Thận đi cắm cờ.
Bùi Quang Thận bảo Vũ Đăng Toàn ở lại canh giữ nội các Dương Văn Minh, còn mình theo Vũ Quang Chiêm lên nóc Dinh. Lúc này có hai người tên là Nguyễn Hữu Thái và Huỳnh Văn Tòng cũng chứng kiến nên đã đi theo. Giây phút tiếp theo, Đại uý Phạm Xuân Thệ cùng đồng đội ở Trung đoàn 66 lao vào phòng bắt Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các. (chi tiết sẽ viết số sau)
Đoàn người theo Bùi Quang Thận cắm cờ đi theo một hành lang dài, rồi rẽ phải đến một thang máy nhỏ. Ông Chiêm bấm nút mở cửa, mời Bùi Quang Thận bước vào. Anh lần đầu thấy thang máy nên ngần ngừ bước vào, rồi lại quay ra ngay lập tức, nghi ngờ, “Hắn định giở cái trò khỉ gì thế này? Mình đi cắm cờ, nó lại giam mình vào cái hộp bằng inox này sao đi cắm cờ được?” Vũ Quang Chiêm giải thích, "Dạ thưa, ông vào đi. Đây là cái thang máy. Tôi đưa ông đi cắm cờ mà". Anh thấy gã có vẻ thành thật nhưng vẫn cảnh giác, vì không có súng, anh bắt gã vào trước, úp mặt vào tường. Vũ Quang Chiêm bấm nút, thang máy đưa Bùi Quang Thận và nhóm người lên đến tầng thượng, ra đến cột cờ, anh thấy lá cờ địch quá to, còn lá cờ của mình chỉ là cờ hiệu trên nóc xe tăng nên quá nhỏ giữa cái không gian lồng lộng của nóc Dinh. Vì lá cờ địch được chằng buộc rất kỹ vào dây kéo nên Bùi Quang Thận phải dùng răng cắn đứt mép rồi xé ra. Lúc này, Trần Đức Tình, chiến sĩ thuộc Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, QĐ2, cũng đã có mặt trên nóc dinh. Thấy Bùi Quang Thận cứ dứt dứt không đứt, Tình nói:
-Thôi tội gì, tôi có dao đây!
Nói xong, anh cầm dao cắt rời mối nối góc cờ địch với dây kéo.
Gỡ xong cờ địch, Bùi Quang Thận thay lá cờ giải phóng lỗ chỗ vết đạn của mình vào, rồi kéo lên. Bất chợt, anh lại hạ cờ xuống, đưa tay xem đồng hồ, lấy bút thận trọng ghi: 11 giờ 30 ngày 30-4 và ký tên Thận lên góc lá cờ, xong, anh lại kéo cờ lên trở lại.
Cùng lúc Bùi Quang Thận lên treo cờ trên nóc dinh, dưới sân, Trung úy Phạm Duy Đô thuộc Trung đoàn 116 đặc công, cũng ngồi cùng xe với Đại úy Phạm Xuân Thệ, tiến vào dinh. Khi xe dừng, anh đã lao lên ban công, rút lá cờ trong túi ra phất báo hiệu cho các xe tăng tiến vào. Đào Ngọc Vân, lái xe jeep của Phạm Xuân Thệ, cũng lấy lá cờ của người đàn ông đi theo chỉ đường, chạy lên ban công phất cờ. Trên ban công, mọi người thường thấy hai người phất cờ là vì như vậy.
***
Lúc này, dưới sân, nhiều xe tăng đã vào sân, dàn đội hình. Các chiến sĩ bộ binh cũng đã vào nhiều, họ gom toàn bộ số lính ngụy đưa vào góc sân dinh và canh giữ những vị trí cần thiết. Còn ngoài đường Thống Nhất, xe tăng, xe bọc thép, xe ô tô chở bộ binh vẫn nối đuôi nhau tiến về hướng dinh. Tiếng súng bắn chỉ thiên mừng chiến thắng của quân giải phóng nổ vang trời. Nhưng vẫn còn lẻ tẻ đâu đó những tiếng súng kháng cự hận thù lầm lạc của những người lính thuộc một chính quyền tay sai bại trận. Từ phía trụ sở Bộ Ngoại giao (nay là Sở Ngoại vụ TP.HCM), những tay súng biệt kích dù 81 đã bắn trúng Tô Văn Thành, chiến sĩ tiểu đoàn 7 bộ binh đang ngồi trên thành xe tăng. Đó là chiến sĩ giải phóng cuối cùng hi sinh ngay trước Dinh Độc Lập.
Còn trong dinh, Phạm Xuân Thệ đang buộc Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh SG đọc lời Tuyên bố đầu hàng!
24-5-2020
ĐÔNG LA
(Còn số cuối)