Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

CĂN CỨ VÀO SỰ THẬT KHÁCH QUAN THỬ MÁCH NƯỚC CHO VỤ HỒ DUY HẢI

ĐÔNG LA
CĂN CỨ VÀO SỰ THẬT KHÁCH QUAN THỬ MÁCH NƯỚC CHO VỤ HỒ DUY HẢI

Tôi từng làm “luật sư” cãi thắng nhiều vụ cực kỳ khó mà luật sư thật giỏi nhất cũng không cãi được vì liên quan đến các lĩnh vực tri thức cao nhất. Như vụ ông PGS Triết học Lê Trọng Ân ở Khoa Triết, Trường ĐH KHXH & NV TPHCM (nơi ông Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Tuyên giáo, học), đã phê bình sách giáo khoa triết và bị kỷ luật. Tôi đã hỏi và biết ngay ông ấy đúng, nhưng ông ấy không cãi nổi Ban Biên tập có địa vị và bằng cấp cao hơn ông. Tôi đã viết bài cãi giúp ông, phê phán cái sai của Ban Biên tập, làm rung rinh cả Bộ Giáo dục, rồi từ đó tôi đã cố vấn cho ông Ân cãi thắng luôn, người ta buộc phải bỏ kỷ luật ông.
Vụ thứ hai cũng vô cùng khó khăn, một người tôi chưa quen là cô Vũ Thị Hoà, giúp tìm hài cốt liệt sĩ bị thất lạc bằng khả năng đặc biệt, bị Thu Uyên kết án trên sóng truyền hình quốc gia VTV1 là “lừa đảo, trục lợi trên xương máu liệt sĩ”. Tôi đã tìm hiểu thì biết ngay Thu Uyên vu khống nên đã viết bài. Ông Nhà báo Đại tá Đào Văn Sử, chính là người đưa chuyện ông Thệ ra ngoài ánh sáng, đã đến nhà tôi, nối máy cho tôi nói chuyện với cô Hoà, và từ đó tôi bắt đầu dấn thân vào một cuộc chiến bảo vệ dân oan. Cô Vũ Thị Hoà bị một số tỉnh đội, các bộ phận chức năng của QK7 và Bộ Quốc phòng đánh công văn cho cô là lừa đảo, từ cơ sở đó, Thu Uyên mới nói trên VTV; Công an Yên Bái cũng đã có giấy “mời” cô. Tôi đã gặp cô, gặp nhiều nhân chứng, biết rất rõ nên đã viết nhiều chuyện về khả năng siêu phàm của cô, và cho đến tận giây phút này, với tư cách là một người từng nghiên cứu KHTN, một nhà lý luận phê bình, tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên vì khả năng thần thông của con người là có thật, thế giới tâm linh là có thật! Tôi đã giúp cô Hoà viết đơn kiện tất cả những kẻ vu khống, gởi tất cả những nơi cần gởi, tuy không bắt được bọn chúng đi tù nhưng đã giúp cô được bình an. Gần đây tôi không viết, không liên hệ với cô nữa (mà tôi cũng đã nói trực tiếp với cô) vì tôi đã hoàn thành sứ mệnh và cuộc đời cô từ lâu cũng đã mở sang những trang khác mà tôi không biết.
***
Giờ đây lại có chuyện anh chàng Hồ Duy Hải bị kết án tử vì đã phạm tội ác dã man, cắt cổ, giết chết hai cô gái trẻ tại Bưu cục Cầu Voi, Huyện Thủ Thừa, Tỉnh Long An bởi ba phiên toà mà phiên Giám đốc thẩm được xử bởi Hội đồng Toàn thể Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, tức toàn bộ quan toà có vị trí cao nhất của nền tư pháp VN.
Phần đông dư luận cho rằng Hải đã bị oan, thực tế đã có những vụ án oan chấn động dư luận lại càng củng cố niềm tin của họ. Nhưng thực sự Hải có bị oan không? Nếu Hải không oan thì người ta nghĩ thế nào về hai cô gái trẻ xấu số khi bênh vực cho kẻ sát nhân? Chính vì vậy những người hiểu biết cần phải phân tích khách quan vụ án để dư luận hiểu chính xác hơn.
Phiên giám đốc thẩm đã kết luận "Có sai sót trong hoạt động điều tra nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án".  Từ một số Đại biểu Quốc hội, các luật sư, đến các nhà báo bênh vực Hải đều cho rằng kết luận như thế tạo “Một tiền lệ đáng lo ngại”. Nhưng từ phía quan toà, những người có chuyên môn xét xử, lại thấy chính từ những sự sai sót đó lại hé lộ những tình tiết chủ yếu chứng minh Hồ Duy Hải là thủ phạm. Bởi do không biết và không tìm thấy, các công an điều tra mới sai lầm là không lưu giữ các hung khí như cái thớt, cái ghế và con dao, để những người dọn dẹp thiêu huỷ. Chính do lời khai của Hải người ta mới biết chúng là hung khí. Dù là sai sót nhưng nó lại chứng minh sự xác định hung khí, rồi hung thủ của công an điều tra là khách quan, do Hải khai họ mới biết. Luật pháp không cho phép quan toà kết tội chỉ dựa vào lời khai của bị cáo mà không có chứng cớ, nhưng lời khai của Hải ở đây lại có ảnh chụp hiện trường (ảnh chứng) (tôi dùng “ảnh chứng” chính xác hơn hồ sơ dùng “bản ảnh”) và những người dọn dẹp (nhân chứng) xác nhận.  Đặc biệt con dao giắt ở vách được che khuất bởi cái bảng mà công an kỳ công tìm mãi không thấy, chỉ có hung thủ mới biết nó ở đâu, và chính Hải đã chỉ ra vị trí đó. Công an đã đi hỏi những người dọn dẹp và có đến 4 người đã xác nhận Hải nói đúng về con dao. Đây chính là một lời khai mở nút vụ án, chứng minh công an không thể “mớm cung” vì người ta không thể “mớm” điều người ta không biết, mà ngược lại, chính Hải đã “mớm” điều tra, kiểu “lạy ông tôi ở bụi này”, một lời khai với Hải đúng là chết người!
Chưa hết Hải còn khai cho sim điện thoại, bán đồ lấy tiền chuộc điện thoại, cắt tóc để thay đổi hình dạng, khai đốt quần áo vì ám ảnh rồi chối khai lại là đốt vì thói quen mà một thẩm phán cho là “kỳ quặc” vô lý, rồi chuyện khai đi bán vàng, v.v… Tất cả những lời khai trên đều được công an điều tra xác định khớp với thực tế.
Những lời khai trên của Hải lại được chính Hải xác nhận là không bị mớm cung, ép cung, các bản cung đều có các luật sư, có đại diện VKS tham gia, Hải đều xác định và mô tả tỉ mỉ hành vi giết người của mình.
Dù Hải có nhiều lần khai ngược lại, theo tâm lý chung là chuyện tất nhiên, nên những lời khai logic, khớp với thực tế của Hải vẫn là “những lời khai chết người”, chúng vẫn là những chứng cớ phản ánh bản chất vụ án, chứng minh Hải chính là hung thủ. Vì vậy, khi đã có những tình tiết chủ chốt như vậy, cơ quan điều tra cũng như các thẩm phán đã cho nhiều tình tiết khác là phụ, cho những thiếu sót như không lưu giữ những hung khí gây án, v.v… cũng không thay đổi bản chất vụ án. Và với một hồ sơ có kết quả điều tra như vậy thì quan toà nào cũng sẽ kết án như nhau, cũng sẽ kết án y như ba phiên toà đã kết án Hồ Duy Hải.
***
Có điều nếu vụ án Hồ Duy Hải chỉ có vậy thì hết chuyện, nhưng xung quanh vụ án còn quá nhiều chuyện mập mờ mà các cơ quan chức năng chưa làm rõ, khiến dư luận thắc mắc, và chính chúng đã được bọn xấu lợi dụng, suy diễn, chống phá, tạo ra một tâm trạng hỗn loạn chưa từng có về niềm tin đối với nền pháp luật Việt Nam.
Như nhân vật Nguyễn Văn Nghị, một bài báo đăng trên cand.com.vn từng cho là nghi can số 1, rồi được cho là có chứng cớ ngoại phạm, đã được ghi vào hồ sơ, nay cần đối chứng thì lại biến mất và còn biến thành Nguyễn Hữu Nghị; Chuyện cán bộ điều tra mời luật sư Võ Thành Quyết là “sếp” cũ của mình bào chữa cho “đẹp” vụ án; những cái chết của những người liên quan đến vụ án như nhân viên điều tra, nhà báo, công tố viên, nhân chứng, v.v…
Đặc biệt, tiếng kêu oan của mẹ, của em gái, của dì Hải đã thấu tận “Trời”. Uỷ ban Thường vụ QH khóa 13 đã thành lập đoàn giám sát do Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu, trưởng đoàn, và phó đoàn là bà Lê Thị Nga, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp. Bà Nga là người đã trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, gặp thân nhân và gặp trực tiếp Hồ Duy Hải. Bà đã viết bản “Báo cáo kết quả nghiên cứu” về việc điều tra và xét xử, có những ý: “không đầy đủ”; “không khách quan”; “có sự vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng”; “có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự".
Tôi đã đọc kỹ bản báo cáo của bà Nga thấy nó như bản bào chữa của luật sư hơn là một sự giám sát toàn diện việc điều tra và xét xử. Việc của bà Nga là đánh giá toàn diện việc điều tra và xét xử chứ không phải chỉ là việc bênh Hồ Duy Hải. Những điều sai sót bà chỉ ra thì những người xét xử cũng đã chỉ ra, phân tích, và họ cho là chúng không phản ánh bản chất vụ án. Có chỗ bà cho kết án Hồ Duy Hải cướp của là “sai lầm nghiêm trọng” bởi luật hình sự viết “cướp của” là “Người nào dùng vũ lực… nhằm chiếm đoạt tài sải”. Tôi thấy bà đã quá máy móc, Hải dùng vũ lực giết người, xong rồi mới thấy tài sản thì cướp luôn, vậy bản chất cũng là cướp của, sao lại cho là “sai lầm nghiêm trọng?”.
Còn những chứng cớ mà những người xét xử cho là phản ánh bản chất vụ án thì bà Nga không nghiên cứu. Bà đã không tự đặt những câu hỏi, tại sao Hải khai dùng thớt, ghế để đánh hai nạn nhân thì hiện trường có thớt, có ghế? Đặc biệt, bà cũng không hỏi tại sao Hải lại khai đúng vị trí để con dao hung khí như đã phân tích? Rồi một loạt lời khai của Hải logic, phù hợp với thực địa, ly kỳ như tiến trình của một bộ phim được dàn dựng rất công phu nữa. Lẽ ra bà Nga phải thấy, nếu Hải đúng như hồ sơ viết, không bị cực hình ép cung, mớm cung, tự nguyện khai, thì quan toà kết án Hải là thủ phạm như đã kết án không còn gì để bàn nữa, quốc hội không cần phải giám sát nữa.
Có điều, bà Nga cũng phải quan tâm đến những chuyện không rõ ràng, những nhân vật, những cái chết của những người liên quan đến vụ án. Đặc biệt, có một điều rất quan trọng là trong bản báo cáo, Bà Nga viết: “Bà Nguyễn Thị Loan (mẹ ruột của Hải) và bà Nguyễn Thị Rưởi (dì ruột của Hải) có phản ánh trong nhiều lần thăm gặp, Hải đã đề nghị gia đình ra Hà Nội kêu oan cho Hải. Bà Loan và bà Rưởi đều cho rằng Hải có nhiều bản cung nhận tội vì đã bị đánh (“đánh nhiều đến nỗi không đi được, phải có người dắt hai bên ở thời điểm trước khi xử phúc thẩm”). Các luật sư cũng cho bà Nga biết Hải bị mớm cung, ép cung. Tại sao là người giám sát bà không làm rõ việc tối quan trọng này?
Chỉ có việc điều tra Hải có thực sự bị đánh, có thực sự bị ép cung, mớm cung không; rồi cụ thể Hải bị mớm cung như thế nào; giải thích thoả đáng tại sao những thực địa lại khớp với lời khai của Hải; mới có thể phủ nhận được những chứng cớ chủ chốt mà các thẩm phán ở cả 3 phiên toà đã kết án Hải. Bà Lê Thị Nga hoàn toàn có đủ quyền để đề nghị các cơ quan điều tra cao nhất thực hiện việc điều tra này. Chính Hồ Duy Hải sẽ lại là nhân chứng chủ chốt, và để Hải khai đúng sự thật, cần có phương án bảo vệ và cách ly Hải khỏi những sự đe doạ. Nếu có những chứng cớ chứng tỏ đúng là Hải bị oan thì sẽ có nhiều chuyện “thú vị” được sáng tỏ.
Còn thực tế tôi thấy, những người có ý bênh Hải, từ những ông nghị to mồm, các luật sư, đến các “hội thẩm toàn dân” đều lạc đường. Cần phải bác bỏ có lý những chứng cớ chủ chốt mà các thẩm phán dùng để kết án Hải. Tại sao Hải lại khai mình giết người, lời khai lại khớp với thực tế, hãy bác bỏ đi, chứ không phải là chuyện trưng ra những cái ngoài lề chỉ làm rối thêm. Việc cần không làm lại đi công kích các thẩm phán, chửi bới họ, gây mất trật tự, là phạm pháp và chỉ góp sức đẩy Hồ Duy Hải đến cái chết mà thôi!
1-6-2020
ĐÔNG LA

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2020

TÌNH TRẠNG NHẬN THỨC HỖN LOẠN VỀ LUẬT PHÁP QUA VỤ ÁN HỒ DUY HẢI

ĐÔNG LA
TÌNH TRẠNG NHẬN THỨC HỖN LOẠN VỀ LUẬT PHÁP QUA VỤ ÁN HỒ DUY HẢI

Vụ án Hồ Duy Hải việc điều tra có nhiều sai sót nhưng việc xét xử công phu nhất, tuỳ theo khả năng nhận biết của mỗi người sẽ đánh giá kết quả xử án khác nhau. Nhưng chắc chắn có một điều là bọn chống phá VN, bọn cơ hội trở cờ, bọn trí thức lưu manh, bọn cán bộ thoái hoá biến chất đã lợi dụng những sai sót của vụ án chống phá thể chế, chống phá luật pháp Việt Nam điên cuồng, và có không ít “nhân dân” do trình độ có hạn, đã bị dư luận xấu “dắt mũi”.
      Tôi không có ý kiến về toà kết án Hồ Duy Hải đúng hay sai vì liên quan đến việc chết người, chuyện này đã có những người có chức trách phân định. Tôi chỉ lo lắng cho sự ổn định của xã hội VN khi có cái tình trạng hỗn loạn về nhận thức pháp luật. Và chán ở chỗ, góp phần vào cái tình trạng hỗn loạn đó, lại có “công” của nhiều nhân vật, trong đó có cả ở cấp thượng đỉnh.
Bài trước tôi đã viết: “Chủ tịch nước chỉ có quyền bác hoặc chấp nhận ân giảm án tử hình chứ không có quyền chỉ đạo việc xử án. Việc ông chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm rồi, văn phòng lại có công văn đề nghị Toà “xem lại” là không đúng pháp luật”. 
Ông bạn học của tôi tên là Xuyến viết: “Chủ Tịch nước bác ân xá xong, lại thấy có chuyện bất ổn tại sao Chủ Tich nước không có quyền giao cho vp của mình thông báo hoãn thi hành để có thời gian xem xét sau”. Tôi đã trả lời: “Ông Xuyến ơi, ông phải đọc luật đi, chủ tịch nước có quyền chỉ đạo xử án không? Ông trích dẫn điều luật ra, luật pháp nói phải có sách, o được cảm tính”.
Sự thực, chủ tịch nước có quyền rất to, rất nhiều, nhưng không có điều luật nào ghi chủ tịch nước có quyền chỉ đạo việc xét xử. Chỉ ở giai đoạn sau cùng của án tử hình, mang tính nhân đạo, chủ tịch nước có quyền, hoặc bác bỏ, hoặc chấp nhận đơn xin ân giảm của tội nhân, từ án tử hạ xuống chung thân.
Như các nước toà xử tổng thống, nếu văn phòng tổng thống có quyền can thiệp, ra lệnh đình chỉ được sao?
Như vậy, chủ tịch nước không có quyền chỉ đạo thì quan toà ở VN có thể tuỳ tiện xét xử không? Không thể, vì có những điều luật truy tố và xét xử chính quan toà, nếu toà xử sai.
Hơn nữa, pháp luật VN có cơ chế xem xét rất kỹ việc xét xử của quan toà. Vụ Hồ Duy Hải sau khi toà xử phúc thẩm, Hải không có đơn thông báo cho người có thẩm quyền để kháng nghị, chỉ có đơn xin ân giảm tử hình, nên mới có chuyện chủ tịch nước đã bác đơn đó rồi còn ra công văn “xem lại”, một việc chưa từng có tiền lệ trong lịch sử ngành xử án.
Theo đúng luật, nếu vụ án phúc thẩm có kháng nghị, vụ án đó sẽ được xử giám đốc thẩm.
Theo Luật Tố tụng Hình sự, Điều 382, Thẩm quyền giám đốc thẩm, Khoản 4, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án phúc thẩm của Tòa án Nhân dân Cấp cao, hoặc theo khoản 5, bằng Hội đồng Toàn thể với bản án có tính chất phức tạp.
Nếu toà tối cao này vẫn xử sai thì theo Điều 404, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ yêu cầu, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến, thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao phải mở phiên họp để xem xét lại. Nếu trong phiên họp đó họ không nhất trí xem xét lại thì Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Như vậy quan toà to nhất là Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, và nếu vụ án họ xử vẫn trục trặc thì người có quyết định sau cùng chính là Ủy ban thường vụ Quốc hội, tập thể đại diện cho cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội, chứ không phải chủ tịch nước.
Trong vụ Hồ Duy Hải, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam khóa 13 cũng đã xem xét. Ngày 10 tháng 2 năm 2015, bà Lê Thị Nga, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam khóa 13 đã ra bản kiến nghị. Bản kiến nghị của bà Nga giống như tài liệu bào chữa của luật sư, chứ không giám sát toàn diện việc xử án, mà điều quan trọng nhất là, phải xem việc các quan toà dùng những chứng cứ và lý lẽ chủ chốt để kết án là đúng hay sai, nếu sai, tại sao sai?
Đặc biệt ở vụ này, ông Lê Minh Trí, Viện trưởng Viện Kiểm sát cũng không làm theo luật. Trong khi quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm đang có hiệu lực, thì ông Viện trưởng lại có quyết định kháng nghị bản án, nghĩa là ông chống lại quyền của chủ tịch nước. Lẽ ra ông Nguyễn Phú Trọng đã ra quyết định huỷ quyết định cũ bác đơn ân giảm của Hồ Duy Hải, thì ông Trí kháng nghị mới đúng, còn vụ này, Văn phòng Chủ tịch nước chỉ có Công văn đề nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát xem xét theo đúng pháp luật thôi.
Ông bạn học của tôi còn viết: “Nhưng bây giờ có tin Nguyễn Hoà Bình chưa hề được phong thẩm phán”.
Thật chán cho cái ông bạn cũng thích lý sự nhưng lại theo đuôi bọn sai, bọn xấu.
Mọi người cần phải hiểu: Thẩm phán nghĩa là quan toà. “Thẩm” là thẩm tra, thẩm vấn, thẩm định; còn “phán” là phán xét, phán xử, phán quyết, tức kết án.
Thẩm phán loại thường được chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
Còn Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao phải do Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao trình Quốc hội bổ nhiệm, Quốc hội ra Nghị quyết phê chuẩn, Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, chủ tịch nước mới ra quyết định bổ nhiệm.
Thẩm phán cao nhất, tức quan toà to nhất, Chánh án Toà án nhân dân Tối cao, phải do Quốc hội bầu theo đề nghị của Chủ tịch nướcNgười được chọn phải đạt TIÊU CHUẨN CÁN BỘ THUỘC DIỆN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG, BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ QUẢN LÝ. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời cần phải có trình độ cao về Pháp luật Việt Nam, phải có đủ tiêu chuẩn chức danh Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao: Đã là Thẩm phán cao cấp từ đủ 5 năm trở lên hoặc là Người không công tác tại các Tòa án nhưng đã giữ chức vụ quan trọng, am hiểu pháp luật, v.v…
      Có đủ những tiêu chuẩn ấy, ông Nguyễn Hoà Bình đã được Quốc hội bầu làm Chánh án Toà án nhân dân Tối cao, tức thẩm phán cao nhất. Vậy mà có kẻ bảo ông không phải là thẩm phán, nên không có quyền xét xử, đã kích động bầy đàn bu vào chửi bới, nhục mạ ông. Việc ông Nguyễn Hoà Bình xấu tốt thế nào tôi không biết, riêng việc bọn kiếm cớ ông không phải là thẩm phán để chửi bới ông thì tôi thấy chúng đúng là một lũ ngu xuẩn, láo xược, và mất nhân tính.
Tôi đã trả lời ông bạn học rằng: “Ông Nguyễn Hoà Bình được Quốc hội bầu làm Chánh án Tối cao đồng nghĩa là thẩm phán, ông Trương Hoà Bình khoá trước cũng vậy, ông lại nói theo mấy thằng ngu”. Tôi viết đúng quá còn giận cái nỗi gì!
Trong việc toàn dân xử án có rất nhiều người, nếu theo luật, đã phạm pháp. Nhưng hàng triệu người phạm pháp thì sao xử? Xã hội bất ổn, hỗn loạn và sụp đổ chính là vì như thế!

30-5-2020
ĐÔNG LA

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

TÂM TƯ VỚI FANS CỦA MỘT NHÀ VĂN

ĐÔNG LA
TÂM TƯ VỚI FANS CỦA MỘT NHÀ VĂN


Khoảng 7 giờ tối qua, tôi đi gặp fans (những người hâm mộ), một nữ hoạ sĩ ở HN và một bạn trẻ ở TPHCM. Tôi chắc chắn không có nhiều dạng fans như Lại Văn Sâm, Hoài Linh, hay Đàm Vĩnh Hưng (mà tôi cũng không thích), nhưng lại có những người mà uy tín của họ có thể bằng hàng triệu người khác, bởi họ là những danh nhân, trí thức cao cấp. Một lần nhà thơ Hải Như (tôi chưa quen), ngang tuổi cha tôi, tác giả bài thơ nổi tiếng “Chúng cháu canh giấc ngủ , Bác Hồ ơi!”, gọi điện thoại ca ngợi hết lời một chùm thơ dự thi của tôi đăng trên báo Văn Nghệ; một lần Nhà văn Vũ Hạnh, tác giả  tác phẩm “Bút máu” danh tiếng, được viết chắc từ hồi tôi mới đẻ, gọi điện bảo nhờ Báo Văn nghệ TPHCM mới biết đt của tôi, ông muốn đến nhà tôi để mua 5 cuốn sách “Bóng tối của ánh sáng”; rồi sau đó chính ông đã dẫn tôi đến nhà Nhà Văn GS Trần Thanh Đạm nhờ ông đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn VN, không ngờ GS Trần Thanh Đạm nói: “Tôi rất vinh dự được giới thiệu một người như anh vào Hội”. Tôi đã gặp Trần Thanh Đạm tận từ hồi tôi đến nhà Nhà thơ Chế Lan Viên chơi, khi còn là “trẻ con” nên ông không để ý. v.v…
Dù có những “fans” cỡ như vậy, nhưng mỗi lần có một người mới quý trọng, muốn gặp mình, tôi vẫn thấy thinh thích (đúng là con người ta thích nghe nịnh). Hơn nữa, chỉ khi gặp trực tiếp, tôi mới có thể nói ra được những điều để những độc giả quý trọng mình hiểu mình hơn.
Nữ hoạ sĩ là Nguyễn Hồng Phi, kết bạn facebook đã khá lâu nhưng gần đây sự liên hệ được hâm nóng bởi tôi viết về chuyện “Ông Tùng, ông Thệ”. Nguyễn Hồng Phi đã nhiệt tình cung cấp thông tin qua việc giới thiệu cho tôi một “nhà giáo”, Bùi Việt Hà. Đúng là Bùi Việt Hà đã cung cấp cho tôi một vài thông tin quý giá, và còn quý hơn ở chỗ, khi đất nước ta không còn nghèo khổ như xưa thì sự tử tế lại trở thành quý hiếm; tôi đã “liếc qua” trang facebook của Bùi Việt Hà thì biết ngay, mình mới được làm quen với một người hiểu biết và tử tế.
Còn bạn trẻ là Lữ Triệu Hạ, là một độc giả có cái họ lạ (họ Lữ Bố) nên tôi đã biết tên từ lâu. Ngạc nhiên là Hạ đã mang theo cuốn sách “Biên độ của trí tưởng tượng” mà tôi đã xuất bản từ năm 2001 để “xin chữ ký”. Tôi nói với Hạ: “Ngày ấy mình còn trẻ không thể hiểu biết bằng bây giờ. Nhưng sách đã in thì làm sao mà sửa được?” Dù vậy, cái chuyện ấn tượng nhất trong cuốn sách thì không bao giờ tôi phải sửa, đó là việc tôi phê phán công trình được Giải HCM của cụ Cao Xuân Huy, người được xếp là một trong những người thầy đầu tiên của giới Khoa học Xã hội VN. Buồn cười là cái sai của cụ là hiển nhiên nhưng lại được từ ông con ruột GS Cao Xuân Hạo đến những học trò yêu như GS Nguyễn Huệ Chi, GS Hoàng Ngọc Hiến, v.v… vái lạy, xưng tụng. Như cụ chê Einstein sai khi có “mưu đồ” sáp nhập không gian-thời gian. Rồi cụ cho, con người ta nhìn thấy được các vật là do cái bản thể của con người cũng chính là cái bản thể của các vật đó. Tôi bảo, cái bản thể còn nguyên đó, sao trong bóng tối người ta không nhìn thấy? Còn ở ngoài sáng, những người khiếm thị cũng không nhìn thấy? Rồi ông Cao Xuân Hạo ca ngợi cái ý của cha mình là “cái gì trong thế giới cũng có âm, có dương”, tôi bảo, cái ánh sáng tràn ngập mà người ta luôn thấy hàng ngày đó, nó là photon, là năng lượng, nên không có cả âm lẫn dương!
Đó chính là cái hệ quả của cái tật sính chữ của các nhà “tưởng mình thông thái” của nền học thuật nước ta. Họ luôn tưởng tượng ra những điều huyền ảo, cao sâu mà thực tế họ không biết là gì cả.
***
Nguyễn Hồng Phi cũng nghĩ như bao người tôi phải là “cái gì đó” thì mới viết như đã viết. Tôi nói sự thực tôi “chẳng là cái gì” cả, tôi cứ viết tự nhiên theo bản tính và tri thức của tôi mà thôi.
Thực tế, tôi còn từng là nạn nhân của những gì còn yếu kém của đất nước chúng ta, từng bị cướp công khi làm chủ nhiệm một đề tài nghiên cứu chiết xuất thuốc chống ung thư. Nhưng tại sao tôi lại không đi “đấu tranh dân chủ”? Sao tôi không đi chống chế độ? Tôi hỏi, thứ nhất mình có chống được không? “Thắng làm vua, thua làm giặc”, chống không được bị bắt đi tù, sao cãi? Ví dụ mình có phép tiên “thắng” được chế độ này, nhưng chỉ với những con người VN như hiện có, liệu ta có thể thành lập được một chế độ lý tưởng theo ý của ta không? Mà trên thế giới có nước nào có chế độ lý tưởng? Vì vậy, đừng có ngu mà đi chống chế độ, bởi đó là phạm pháp, bị công an bắt đúng quá còn cãi cái gì? Còn tự tin mình hiểu biết, có tâm với dân với nước, luật pháp đâu có cấm mình tố cáo quan chức phạm pháp nếu có chứng cớ; đâu có cấm mình phản biện, phê phán xã hội, nếu có lý lẽ và tinh thần xây dựng. Có điều làm như thế thì bọn quấy rối ăn tiền ăn gì? Chống chế độ là một cái nghề kiếm cơm của chúng, nếu chế độ sụp thì chúng sẽ thất nghiệp.
Tôi cho Phi biết, tôi không làm công chức thì làm tư chức. Rất may nhờ phúc đức cha ông tôi cũng sống được. Nhà nước chỉ có thể tạo điều kiện cho ta làm ăn thôi, chứ có nhà nước nào đè người dân đổ hạnh phúc vào mồm đâu? Còn với xã hội ta, tổng thể cái tốt đẹp tất phải nhiều hơn cái xấu xa thì mới phát triển được như hôm nay chứ. Anh em mình hôm nay mới được ngồi uống nước ở một quán sân vườn như thế này chứ, ở Mỹ không thể có cái quán như thế này đâu. Ở Mỹ quán thường nhỏ, nhưng sân thì rất to vì cần chỗ để xe hơi.
***
Chuyện ông Tùng, ông Thệ đã quá rõ, nên Nguyễn Hồng Phi lại chuyển đề tài hỏi ý tôi về vụ án Hồ Duy Hải.
Thật khó nói, nhưng điều quan trọng nhất là phải tìm ra thủ phạm để an ủi linh hồn hai cô gái xấu số!
Tiếc là tôi thấy vụ án Hồ Duy Hải thể hiện sự yếu kém toàn diện của nền luật pháp nước ta. Cả nước đang cùng tự do xử án là thứ dân chủ quá trớn, mầm mống của sự hỗn loạn. Nếu nước ta đúng là nhà nước pháp quyền thì khi Toà án tối cao, Viện Kiểm sát tối cao không kháng nghị bản án tử hình, Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm, thì bản án đó phải được thực hiện. Chủ tịch nước chỉ có quyền bác hoặc chấp nhận ân giảm án chứ không có quyền chỉ đạo việc xử án. Việc ông chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm rồi, văn phòng lại có công văn đề nghị Toà “xem lại” là không đúng pháp luật. Bởi xử án là một chuyên môn như bao chuyên môn khác như Khoa học Kỹ thuật, như triết học, v.v… chủ tịch nước không thể có chuyên môn chỉ đạo. Chỉ có nhà nước độc tài thì mới có thể còn với nhà nước pháp quyền thì không. Toà án, theo luật, có quyền kết án, nhưng cũng theo luật, toà không thể kết án tuỳ tiện mà phải chịu trách nhiệm; nếu quan toà xử sai cũng sẽ bị tố cáo, cũng bị xét xử và đi tù!
Một vụ án có khi chuyện điều tra gần như sai toàn diện nhưng họ lại may là chính nghi phạm đã giúp họ phá án. Ở ta quyền im lặng chưa được hiểu rõ. Xem phim phá án của Mỹ luôn thấy câu “Anh có quyền im lặng. Mỗi lời của anh đều có thể là bằng chứng toà kết tội anh trước toà”. Nên lời tự thú của nghi phạm, nếu có những điều xác nhận là đúng, chính là những chứng cớ quan trọng nhất, chúng giống như lạy ông tôi ở bụi này.
Nếu cơ quan điều tra tìm ra chứng cớ chủ yếu phản ánh bản chất vụ án thì mọi chuyện khác trở thành thứ yếu, kể cả những chứng cớ tưởng như rất quan trọng. Giả sử một chuyện, có anh chàng đến gặp người yêu, làm tình xong, vì ghen tuông đánh tím mặt người yêu, rồi bỏ đi, sau đó cô người yêu bị người khác giết, thì công an do tìm thấy vân tay của anh chàng người yêu để lại mà kết tội anh ta thì anh ta vẫn bị oan. Như có bộ phim Mỹ “Tội phạm đích thực”, người ta phát hiện trong một cửa hàng tạp hoá, một anh chàng ở bên một cô gái đã bị bắn chết, ông chủ cửa hàng cho biết trước đó, anh chàng và cô bán hàng có cãi nhau về tiền bạc, vậy là cảnh sát và toà đã dễ dàng kết án anh ta án tử hình. Nhưng anh chàng một mực kêu oan, anh chàng đang tìm cách cứu giúp cô gái chứ không phải giết cô gái. Một phóng viên đã tìm hiểu và tận khi anh chàng tử tội đang bị thi hành án, đã bị tiêm mũi thuốc đầu tiên (Tiêm 3 mũi mới chết hẳn), thì người phóng viên đã tìm ra được một vật chứng phản ánh đúng được bản chất vụ án, khẳng định kẻ giết người là người khác. Một bà già không có quan hệ gì với cô gái đã bị giết lại đeo cái dây chuyền có mặt đá của cô, bởi đứa cháu của bả chính là kẻ đã giết cô gái, cho bả cái dây chuyền đó. Bắn xong, nó đã biến ngay, không để lại dấu vết, còn anh chàng bị can ở phòng vệ sinh chạy ra thấy cô gái bị bắn đã tìm cách cứu gúp thì bị bắt quả tang!
Một cú điện thoại gọi đến nơi xử án kịp thời đã cứu được anh chàng bị oan.
Ở ta, vụ án vườn điều của ông Bùi Minh Hải ở Nhơn trạch Đồng Nai, cũng bị oan tương tự như bộ phim Mỹ. Ông Hải do uống rượu say đã đánh rơi cái đồng hồ ở gần xác một cô gái đã bị giết, vì cái vật chứng này ông đã bị toà kết án chung thân, đến khi kẻ sát nhân đích thực nhận tội từ vụ giết người khác thì ông mới được giải oan.
Vì vậy, việc suy diễn máy móc từ hiện trường, vật chứng, dấu tích cũng rất dễ dẫn tới oan sai. Nên chỉ có các thẩm phán có kinh nghiệm và tài năng mới có thể nhận ra trong vô vàn chi tiết, cái chi tiết nào phản ánh được đúng bản chất vụ án.
***
Vụ án Hồ Duy Hải đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội đã bị dư luận chi phối. Nếu quyết định cho Toà án Tối cao xử lại thì tôi tin kết quả sẽ lại như cũ, vậy tốt nhất nên chăng cho bà Lê Thị Nga làm chánh án, ông Nhưỡng, ông Vân, ông Tạo, ông Nghĩa làm thẩm phán, xét xử lại là hay nhất, và nếu kết án sai các vị này cũng sẽ bị đi tù.
Còn ý tôi, nếu Hội đồng thẩm phán tối cao đã quyết kết án Hồ Duy Hải theo thẩm quyền thì chủ tịch nước nên ân giảm Hồ Duy Hải xuống tội tù chung thân. Như vậy những người bênh vực Hồ Duy Hải vẫn có cơ hội và tha hồ thời gian minh oan cho Hải, nếu thành công, Hải sẽ được tha, được đền tiền, và họ hoàn toàn có thể bắt “bọn thẩm phán độc ác” của một “chế độ độc ác” đi tù!
28-5-2020
ĐÔNG LA

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2020

NHỮNG GIÂY PHÚT THIÊNG LIÊNG NHẤT KẾT THÚC HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN VĨ ĐẠI

ĐÔNG LA 
NHỮNG GIÂY PHÚT THIÊNG LIÊNG NHẤT KẾT THÚC HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN VĨ ĐẠI

Trong chuyện lùm xùm “ông Tùng, ông Thệ”, đúng là đã có thể hoàn toàn kết luận được ông Tùng sai, ông Thệ đúng, bởi biết bao điều tôi đã phân tích và hôm nay tôi có thêm một lời chứng có trọng lượng nhất, đó là lời của chính ông Tùng ngay sau 30-4-1975. Dù chưa hoàn toàn chính xác vì ông nói từ điểm nhìn của ông, trong đơn vị mình, nhưng ông đã xác nhận ông cùng Phạm Xuân Thệ bắt và buộc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh, không như sau này ông “đấu tranh”, đòi cắt hết “công” của nhóm Phạm Xuân Thệ và được bọn xuyên tạc lịch sử gào thét ủng hộ. Ông Tùng nói: “Sau khi chiếm Dinh Độc lập, bắt Dương Văn Minh, TT Nguỵ quyền SG, ra đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Tôi và đ/c Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh giải Dương Văn Minh ra đài phát thanh, lúc này ta đã chiếm giữ, buộc Dương Văn Minh phải hạ lệnh cho sĩ quan, binh lính hạ vũ khí, giải tán chính quyền từ trung ương đến địa phương, và đầu hàng không điều kiện”. (Xin xem https://www.youtube.com/watch?v=HEzFq2gmpFs)

Thú vị ở chỗ, ngay thời điểm 1975 này, anh Bùi Quang Thận cũng nói xe 390 là xe húc đổ cổng vào Dinh Độc lập đầu tiên.
Hơi tiếc ở chỗ viết những trang sử oai hùng thiêng liêng nhất của dân tộc mà độc giả “like” hơi ít, trong khi có những trang viết nhăng cuội, kể cả xuyên tạc, phản động, lại có hàng ngàn, hàng chục ngàn người vào “like”! Thực tế môn sử phải thi mà học sinh còn không chịu học kia mà!
Trang của tôi người đọc không quá nhiều nhưng cũng không quá ít, vì nhiều người bảo tôi thường xuyên vào đọc nhưng không xuất hiện, có người thấy “hay quá chịu không được” thì họ nhắn tin cho tôi! Đặc biệt trang tôi có những độc giả còn hơn cả hàng triệu người đọc vì họ là người có chức trách, có người còn liên lạc với tôi, và tôi đã đôi lần gặp trực tiếp, kể cả đi nhậu vui vẻ!
Hôm Nay tôi sẽ đăng bài viết cuối cùng về những giây phút thiêng liêng nhất trong ngày 30-4-1975 lịch sử. Ngày giải phóng, ngày mang lại niềm vui cho tất cả mọi người bởi không còn chiến tranh, không còn chết chóc, ai cũng có cơ hội thành đạt, hạnh phúc, kể cả quân “địch”. Như chú vợ tôi là cha tuyên uý, đi cải tạo 12 năm về, nhưng rồi cuối đời ông vẫn thành cha sở một nhà thờ lớn là Nhà thờ Chí Hoà. Khi ông mất, có lãnh đạo Quận Tân Bình tham dự lễ tang, đưa tang, có công an đứng thông đường cho xe chạy thẳng qua các ngã tư.
Như đã hứa, không phải là chuyện tranh cãi vặt, nên tôi sẽ biên tập loạt bài đã viết gởi cho những nơi có liên quan như Tổng Cục Chính trị QĐNDVN, Viện Lịch sử Quân sự VN, Hội Nhà Văn VN, v.v…
26-5-2020
ĐÔNG LA

NHỮNG GIÂY PHÚT THIÊNG LIÊNG NHẤT KẾT THÚC HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN VĨ ĐẠI

Trong ngày lịch sử 30-4-1975, sự kiện quan trọng nhất là việc Đại uý Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 66, Sư 304, Quân đoàn 2, cùng các đồng đội là Trợ lý Tác chiến Nguyễn Văn Nhu, Trợ lý Cán bộ Phùng Bá Đam, Lái xe Đào Ngọc Vân, và hai chiến sĩ thông tin Bàng Nguyên Thất, Nguyễn Huy Hoàng đã bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các Chế độ tay sai Việt Nam Cộng Hoà, buộc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trên Đài phát thanh Sài Gòn. Đó chính là những giây phút thiêng liêng nhất, chấm dứt hai cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta, kéo dài đến 117 năm, giành lại chủ quyền, hoà bình và thống nhất đất nước. Trong hành trình dài đằng đẵng ấy đã có biết bao xương máu và mồ hôi của bao thế hệ cha anh đã đổ ra để Phạm Xuân Thệ và các đồng đội, cũng bất chấp hy sinh, tới được đích kết thúc cuộc kháng chiến đầu tiên!
Trung đoàn bộ binh 66 có Trung đoàn trưởng là Nguyễn Sơn Văn, Chính trị viên là Lê Xuân Lộc, được giao nhiệm vụ cùng Lữ đoàn Xe tăng 203 và các đơn vị khác thuộc Binh đoàn Thọc sâu đánh chiếm mục tiêu chính là Dinh Độc lập và các mục tiêu khác. Tiểu đoàn 8 (D8), có Trương Quang Siều làm tiểu đoàn trưởng, Hoàng Trọng Tình làm chính trị viên, được giao nhiệm vụ chính là đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn. Trong trận đánh ác liệt ở Cầu Sài Gòn, D8 đã bị thương và hy sinh gần chục chiến sĩ. Vượt qua Cầu Sài Gòn, sau khi quân ta tiếp tục đập tan chốt chặn cuối cùng của địch ở cầu Thị Nghè, Đại đội 6 (D8) cùng với Tiểu đoàn 7 và Đại đội 4 của Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào dinh Độc Lập, phần còn lại của D8 rẽ phải tiến theo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, vào đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn. Đúng 10 giờ 30 phút, Đồng chí Toàn, trung đội trưởng Trung đội 1, kéo cờ Giải phóng lên cột cờ ở Đài. Cùng thời gian đó, Đại đội 7 đã chiếm Cục An ninh Quân đội và một chiến sĩ của Đại đội đã hy sinh!
Còn Đại uý Phạm Xuân Thệ, đêm trước ngày 30/4 lịch sử, được Ban Chỉ huy Trung đoàn và Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đi đầu của Trung đoàn 66, cùng Lữ đoàn xe tăng 203 tiến về Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc lập, Đài phát thanh, và Bộ tư lệnh Hải quân.
Phạm Xuân Thệ ngồi trên chiếc xe Jeep (chiến lợi phẩm lấy từ Đà Nẵng) do Đào Ngọc Vân lái, bám theo đội hình đi đầu của mũi thọc sâu. Trên đường qua Cầu Thị Nghè vào dinh Độc Lập quân ta cũng không biết đường. Phạm Xuân Thệ phải cho xe dừng lại để hỏi. Bỗng trong đám đông đứng bên đường, một người tay cầm cờ giải phóng nói:
- Tôi biết đường.
Phạm Xuân Thệ mừng quá nói:
- Mời ông lên xe
Phùng Bá Đam mở cửa xe kéo ông lên ngồi cạnh. Đến đường Thống Nhất, mọi người trên xe nhìn thấy Dinh Độc lập mầu trắng xa xa, phía cuối đường. Tiếp tục cho xe chạy thẳng đến Dinh Độc Lập, từ xa, Lái xe Đào Ngọc Vân thấy cổng vẫn đóng nhưng sau đó, anh thấy chiếc xe tăng đi đầu hùng dũng lao tới, húc vào cổng phụ, nhưng bị mắc kẹt tại đó; chiếc thứ hai trên đường từ phía phải tới, rẽ phải, húc đổ cổng chính và lao vào sân. Phạm Xuân Thệ lệnh cho lái xe bám theo xe tăng lao qua cổng, tiến thẳng vào sân dinh.
Trong sân dinh, binh lính địch đã hạ vũ khí đầu hàng, mặt mày ủ rũ, sợ hãi… Sau đó, xe tăng và bộ binh của quân ta cũng nhanh chóng ập vào.
Phạm Xuân Thệ và đồng đội nhảy xuống xe Jeep, mấy nhà báo xúm lại chỉ cho họ chạy lên trên, chỗ nội các chính quyền Sài Gòn đang chờ. Vào dinh, người đầu tiên Phạm Xuân thệ gặp là ông Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Quân lực VNCH, người thân tín của Tổng thống Dương Văn Minh. Nguyễn Hữu Hạnh nói:
-Toàn bộ nội các đang trong phòng họp, xin mời cấp chỉ huy vào làm việc!
Phạm Xuân Thệ thấy bất ngờ, thoáng chút lo lắng, Anh chỉ nghĩ mình dẫn đồng đội vào Dinh cắm cờ chứ đâu nghĩ đến chuyện “làm việc” với Dương Văn Minh, cấp trên cũng không lường trước được tình huống này để dặn dò các anh. Đến phòng họp, anh thấy rất rộng, có khoảng 40 - 50 người ngồi. Thấy quân giải phóng, tất cả lục tục đứng dậy. Một người cao lớn, mặt vuông chữ điền, đeo kính trắng bước lên. Nguyễn Hữu Hạnh giới thiệu: “Báo cáo cấp chỉ huy, đây là ông Dương Văn Minh, Tổng thống”. Rồi ông ta chỉ tay vào một người hơi thấp, trán cao, đeo kính trắng, giới thiệu: “Đây là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu”, ông Mẫu khẽ cúi đầu chào đáp lễ.
Ông Dương Văn Minh bước tới, nói thận trọng:
-Chúng tôi biết Quân giải phóng tiến vào nội đô. Chúng tôi đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao.
Nghe tới đó, Phạm Xuân Thệ không biết chuyện bàn giao như thế nào, nên buột miệng phản ứng ngay, giọng kiên quyết:
-Các ông đã thất bại, đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngay, không có bàn giao gì cả!
Khi đó, ngoài sân, những tiếng súng nổ ăn mừng chiến thắng của Quân Giải Phóng vang khắp Dinh Độc Lập, khiến nội các của Dương Văn Minh lo sợ! Trong đầu Phạm Xuân Thệ lúc này chỉ nghĩ phải buộc Dương Văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng ngay, tránh tiếp tục đổ máu vô ích càng sớm càng tốt, anh nói tiếp:
-Yêu cầu ông phải sang đài phát thanh tuyên bố đầu hàng ngay, tránh tàn quân của các ông kháng cự, đổ máu vô ích!
Dương Văn Minh ngập ngừng:
-Cấp chỉ huy có thể cho tôi thâu băng ở ngay đây được không? Bây giờ súng nổ như vầy, e rằng ra ngoài đường sẽ nguy hiểm.
Phạm Xuân Thệ ngần ngừ, anh cũng chưa có kiến thức về chuyện ghi âm rồi phát trên đài, nên chưa biết trả lời ra sao thì Dương Văn Minh đã nói với Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin, đi kiếm máy thu băng. Phạm Xuân Thệ cũng đành chờ xem sao.
Lúc này, Bùi Văn Tùng, Trung tá, Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 bước vào. Ông thấy Phạm Xuân Thệ tay lăm lăm súng ngắn, tưởng là cán bộ quân đoàn đang làm việc, nên không tham gia. Dương Văn Minh thấy ông Tùng cao to, đứng tuổi, nghĩ là cấp chỉ huy, nên cũng nói lại câu nói bàn giao chính quyền, Bùi Văn Tùng cũng phản bác và nói chỉ có đầu hàng vô điều kiện thôi. Thấy giọng Bùi Văn Tùng điềm đạm không quyết liệt như Phạm Xuân Thệ, Dương Văn Minh bình tĩnh hơn và nói đang cho người đi lấy máy để ghi âm lời tuyên bố đầu hàng.
Nhưng rồi mãi không thấy Lý Quý Chung quay lại, Nguyễn Hữu Hạnh nói với Bùi Văn Tùng:
-Ở ngoài đường sợ không có an ninh, sợ phe đối lập nó ám hại!
Bùi Văn Tùng trấn an:
-Cả Sài Gòn quân giải phóng đã giải phóng rồi. Ông Dương Văn Minh đi với chúng tôi, xong việc, chúng tôi đưa ông Minh về lại đây đảm bảo an ninh.
Phạm Xuân Thệ sốt ruột, không thể chờ thêm được nữa, anh cương quyết bắt Dương Văn Minh phải ra đài phát thanh ngay. Thấy Dương Văn Minh lo sợ khi nghe thấy tiếng súng, anh đã trấn an Dương Văn Minh: “Đó là tiếng súng Quân Giải phóng ăn mừng. Chúng tôi đã làm chủ Sài Gòn, sẽ bảo đảm an toàn cho ông đi”. Khi xuống đến tiền sảnh, Dương Văn Minh vẫn chưa hết lo lắng và nói: “Mời các ông đi xe của tôi, xe của tôi là xe chống đạn”. Nhưng Phạm Xuân Thệ không đồng ý, buộc Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu phải lên chiếc xe Jeep của mình. 

Anh xếp cho Dương Văn Minh ngồi ghế đầu, phía trong, anh ngồi phía ngoài để canh giữ, che chắn. Ghế sau gồm có Vũ Văn Mẫu ngồi giữa, hai bên là Nguyễn Văn Nhu và Phùng Bá Đam. Sau cùng là Bàng Nguyên Thất và Nguyễn Huy Hoàng. Bùi Văn Tùng lên xe thứ hai cùng với Nhà báo Hà Huy Đỉnh, Borries Gallasch (báo Der Spiegel, Tây Đức), Nguyễn Hữu Thái, và Huỳnh Văn Tòng. Chiếc xe chạy thứ 3 là của Nhà báo Kỳ Nhân, phóng viên hãng AP, ông chở một số chiến sĩ nhảy lên xe ông.  
Hành trình ngắn ngủi Phạm Xuân Thệ chỉ huy đồng đội áp giải Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu từ trong Dinh Độc lập ra sân, đi một đoạn rồi lên xe, đã được nhà báo người Úc Neil Davis quay, trở thành thước phim quý giá, ghi lại giây phút lịch sử sống động trưa ngày 30/4/1975 ở Dinh Độc lập.
Từ Dinh Độc Lập ra đài phát thanh khoảng 3km, Lái xe Đào Ngọc Vân được Dương Văn Minh chỉ đường. Trên đường đi, Phạm Xuân Thệ hỏi Dương Văn Minh:
-Ông thấy sức mạnh của Quân giải phóng thế nào?
Dương Văn Minh đáp:
-Tôi biết, khi Quân giải phóng tiến công vào là chúng tôi sẽ thất bại!
Phạm Xuân Thệ hỏi tiếp:
-Tại sao ông biết thất bại mà không tuyên bố đầu hàng trước?
Dương Văn Minh trả lời:
-Khi Quân giải phóng chưa tiến công vào, bên dưới tôi còn rất nhiều người chưa đồng tình với tôi, nếu tôi tuyên bố đầu hàng trước, thì họ sẽ khử tôi ngay.
Khi xe của Phạm Xuân Thệ đến Đài Phát thanh thì Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 66 đã chiếm giữ. Tiểu đoàn trưởng Trương Quang Siều và Chính trị viên Hoàng Trọng Tình ra đón và báo cáo: 
-Báo cáo Trung đoàn phó, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, chiếm giữ đài an toàn, nhưng chưa tìm được nhân viên. 
Phạm Xuân Thệ:
-Tôi biểu dương Tiểu đoàn 8 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!
Nói xong, anh nói nhỏ với hai cán bộ chỉ huy D8: “Mình đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu sang đây để tuyên bố đầu hàng đấy. Các cậu lên phương án bảo vệ và cử ngay người đi tìm kỹ thuật viên”. 
Sau khi Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu yên vị trong phòng bá âm, Bàng Nguyên Thất và Nguyễn Huy Hoàng chốt giữ cửa ra vào. Hoàng Trọng Tình tìm cách kiếm nhân viên đài phát thanh. Rất may có nhà báo Kỳ Nhân, ông đề nghị:
-Các anh theo tôi về làng báo chí, mười mấy ông chuyên viên làm ở đây đều cùng ở làng báo chí Thảo Điền với tôi.
 Hoàng Trọng Tình liền cử Trần Viết Cả và Đinh Văn Lâm ở đơn vị trinh sát đi với nhà báo Phạm Kỳ Nhân.
Trong lúc chờ người đi tìm nhân viên đài phát thanh thì Phạm Xuân Thệ nói với các trợ lý Phùng Bá Đam, Đinh Thái Quang, và Nguyễn Văn Nhu cùng bàn bạc để thống nhất nội dung bản thảo lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện cho Dương Văn Minh. Mấy người liền chụm đầu góp ý cho Phạm Xuân Thệ chắp bút. Nguyễn Văn Nhu nói:
-Em nhớ hồi xem phim Giải phóng của Liên Xô đánh Phát-xít Đức, khi Đức đọc lời đầu hàng có ý “đầu hàng không điều kiện”, nên mình phải cho ý này vào anh Thệ ạ.
Mấy người làm gần xong thì họ thấy một người cao lớn bước vào, chính là Bùi Văn Tùng, ông hỏi:
-Các anh là ai, đơn vị nào?
Phạm Xuân Thệ trả lời:
-Tôi là Phạm Xuân Thệ, Phó đoàn Đông Sơn (biệt danh của Trung đoàn 66).
Bùi Văn Tùng tự giới thiệu:
-Tôi là Bùi Tùng, Trung tá, Chính ủy Lữ đoàn 203. Tôi tưởng các anh là người của Quân đoàn nên tôi không tham gia. Tôi vào dinh, thấy các anh đưa Dương Văn Minh sang đây, nên tôi đến đây luôn.
-May quá, chúng tôi đang bàn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh, mời anh cùng làm luôn.
Sau khi lời tuyên bố đầu hàng được hoàn tất, mọi người bàn nhau, ta phải có lời tuyên bố chấp nhận sự đầu hàng và họ đề nghị Trung tá Bùi Tùng là người cấp bậc cao nhất, quê lại ở Đà Nẵng, miền Nam, nói là phù hợp. Bùi Văn Tùng thoáng chút ngần ngừ rồi cũng đồng ý ngồi viết. Phạm Xuân Thệ đưa cho Dương Văn Minh đọc bản thảo lời tuyên bố đầu hàng nhưng ông ta loay hoay mãi không đọc nổi chữ của anh, nên đề nghị: “Cấp chỉ huy đọc lại cho tôi chép”. Anh Thệ đọc cho Dương Văn Minh chép. Khi anh đọc đến từ “tổng thống”, Dương Văn Minh dừng lại đề nghị: “Chỉ nên nói là Đại tướng thôi, chức tổng thống tôi mới nhận từ ông Trần Văn Hương”. Anh em bộ đội không đồng ý, Bùi Văn Tùng nói: “Không được, dù làm một ngày, một giờ thì cũng phải chịu trách nhiệm, ông nhận chức tổng thống từ Trần Văn Hương những hai, ba ngày rồi”. Dương Văn Minh đành chấp thuận, tiếp tục viết.
Dương Văn Minh chép xong, Đinh Thái Quang lấy cái máy Hitachi và cuộn băng mà họ mang từ Đà Nẵng vào, ghi âm lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, nhưng băng bị rối, không ghi được. Trong lúc Quang đang loay hoay sửa máy thì Borries Gallasch đề nghị dùng máy của ông, và được chấp thuận ngay. Ông ngồi xuống bên Dương Văn Minh, ghi âm toàn bộ lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh: 
"Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam".
Sau đó, ghi âm tiếp lời Vũ Văn Mẫu: "Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn của chính quyền Cách mạng".
Và cuối cùng là ghi lời của Bùi Văn Tùng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh: "Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố: Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của Tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn".

Khi tất cả đã được chuẩn bị chu đáo, các nhân viên kỹ thuật cũng được tìm về, buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày lịch sử trọng đại 30-4-1975, ngay tại Thành phố SG vừa mới được giải phóng, bắt đầu. Nguyễn Hữu Thái, cựu Chủ tịch tổng hội sinh viên Sài Gòn, đã trở thành phát thanh viên "bất đắc dĩ":
-Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của Chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này.
Tiếp theo, đài phát lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh, lời của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và lời của Chính uỷ Bùi Văn Tùng thay mặt quân giải phóng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh. Đồng hồ lúc này chỉ 13h20 (giờ Hà Nội là 12h20).
Một đám đông kéo đến đài phát thanh, trong đó có Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Được mời phát biểu trực tiếp trên sóng, ông xúc động nói và hát vang bài “Nối vòng tay lớn”!
***
Mọi việc xong, Phạm Xuân Thệ đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu trở lại Dinh Độc Lập. Anh đã hành động một cách quyết liệt chỉ với một suy nghĩ làm sao để hai bên tránh đổ máu vô ích càng sớm càng tốt, nhưng đó chỉ là suy nghĩ tự phát của anh. Về dinh, biết một cán bộ quân đoàn có thái độ rất căng khi ông đến dinh mà không thấy Dương Văn Minh đâu, Phạm Xuân Thệ đã rất lo lắng, không biết là mình đã làm đúng hay sai? Chỉ đến khi người đứng đầu quân đoàn, Tư lệnh Nguyễn Hữu An ôm anh chảy nước mắt xúc động, nói anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì anh mới an tâm và tràn trề hạnh phúc. Anh mới thấy mình may mắn hơn biết bao đồng đội. Chiến công là của chung, của cả dân tộc, nhưng lịch sử đã chọn anh có mặt trong giây phút thiêng liêng nhất, bắt sống tổng thống một chế độ tay sai, chấm dứt hai cuộc kháng chiến vĩ đại dài hơn một thế kỷ của dân tộc. Còn Tướng Nguyễn Hữu An, người từng chỉ huy đánh đồi A1 trong Trận Điện Biên Phủ, nay lại chỉ huy một trong năm cánh quân của Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã đánh chiếm được Dinh Độc lập, đầu não của quân thù, trong hồi ký của mình đã viết, giọt nước mắt của ông chảy ra khi ôm Phạm Xuân Thệ là giọt nước mắt hạnh phúc nhất trong suốt cuộc đời chinh chiến của ông!
TP Hồ Chí Minh ngày 26-5-2020
ĐÔNG LA  

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

ĐÍNH CHÍNH BÀI: GIÂY PHÚT XE TĂNG HÚC ĐỒ CỔNG DINH ĐỘC LẬP VÀ CỜ GIẢI PHÓNG TUNG BAY TRÊN NÓC DINH

ĐÔNG LA
ĐÍNH CHÍNH BÀI: GIÂY PHÚT XE TĂNG HÚC ĐỒ CỔNG DINH ĐỘC LẬP VÀ CỜ GIẢI PHÓNG TUNG BAY TRÊN NÓC DINH

Viết chính xác về lịch sử dựa vào lời kể các nhân vật quả là khó vì thời gian trôi đi trí nhớ của các nhân vật hao mòn đi.  Sự tái hiện sự thật cũng phụ thuộc khả năng của nhà báo, nhà văn. Đến nay, đã có quá nhiều thông tin viết về hành trình đánh chiếm Dinh Độc lập nhưng có nhiều chi tiết mâu thuẫn nhau. Cùng một sự việc những nhân vật tham gia nói khác nhau, như anh Bùi Quang Thận, trưởng xe 843 kể: “Suốt chặng đường tiến vào Dinh Độc Lập, xe tăng 843 do tôi trực tiếp làm trưởng xe luôn dẫn đầu, tiếp sau là xe 390 của Chính trị viên Đại đội Vũ Đăng Toàn”. Nhưng phía xe 390, trưởng xe Vũ Đăng Toàn, pháo thủ Lê Văn Phượng kể: “Xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng dẫn đầu, đến xe 390, rồi xe đồng chí Thận 843 lần lượt đi”.
Đối chiếu với thực tế, tôi thấy xe đi đầu thường gặp địch và tiêu diệt, vậy đoạn từ cầu SG đến Ngã tư Hàng Xanh, xe 390 đi trước xe 843, nên đã dừng lại bắn cháy xe địch. Khi rẽ vào đường tiến về Cầu Thị Nghè, xe 843 đã vượt lên thứ hai trước xe 390, và khi xe địch bắn cháy xe đi đầu ở Cầu Thị Nghè, xe 843 đã dừng lại bắn cháy xe địch, và xe 390 lại vọt lên dẫn đầu đến Dinh Độc lập.
Còn đoạn đường cuối cùng trên đường Thống Nhất (Lê Duẩn) tôi đã viết theo Bùi Thanh (báo Tuổi trẻ, ghi chú là phỏng vấn Bùi Quang Thận) viết xe 843 từ Hồng Thập Tự quẹo vào Pasteur rồi quẹo vào Thống Nhất. Đến nay tôi phát hiện thêm thông tin lời kể của Bùi Quang Thận trên báo congannghean.vn:
“Chúng tôi đến trước một công viên sở thú, tôi không biết mình đã vượt qua bao nhiêu ngã ba, ngã tư. Tôi ra lệnh dừng xe, đứng dưới lòng đường”.
Thì ra Bùi Quang Thận cho xe 843 rẽ trái ngay ngã tư đầu tiên (Ngày nay là Nguyễn Thị Minh Khai-Nguyễn Bỉnh Khiêm) đến ngã ba đầu đường Thống nhất ngay trước cổng Sở thú Sài Gòn (Nay là Thảo Cầm Viên SG). Vì vậy nhìn từ đầu đường, Dinh Độc lập ở cuối đường, nên anh mới thấy: “Dinh Độc Lập không đồ sộ như suy nghĩ của tôi, nhưng nó là khu nhà bề thế nằm sau rừng cây”.
Thực tế, Dinh Độc lập rất lớn, trước nó có cái sân rất lớn, và trước nữa là một công viên um tùm cây cối cũng rất lớn, đến tận Nhà thờ Đức Bà, nhưng nhìn xa từ cổng Sở thú, nó đúng giống như “nằm sau rừng cây”. Như vậy, Nguyễn Khắc Nguyệt viết đúng trong cuốn sách là người phụ nữ chỉ Bùi Quang Thận Dinh Độc lập là “ngôi nhà mầu trắng thấp thoáng phía xa”, nhưng chỗ rẽ đó là ngã tư đầu tiên chứ không phải là ngã tư thứ 7 như ông Nguyệt viết. Ông Nguyệt cũng viết sai, xe 390 đi sau, nhận ra xe 843 lạc đường, xe 390 vượt qua ngã tư đó đi thẳng luôn, rồi gặp và bắn cháy xe địch. Thực tế, xe 390 đã bắn cháy xe địch ở tận ngã tư Hàng Xanh cơ!
   Vì vậy, tôi đã đính chính, hôm nay xin đăng lại bản sửa sau đây cho chính xác hơn.
24-5-2020
ĐÔNG LA

GIÂY PHÚT XE TĂNG HÚC ĐỒ CỔNG DINH ĐỘC LẬP VÀ CỜ GIẢI PHÓNG TUNG BAY TRÊN NÓC DINH

Trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, ngày 21 tháng 4, "cánh cửa thép" Xuân Lộc đã bị mở toang, Quân Giải phóng đã có mặt ở cửa ngõ Sài Gòn. Thất bại này đã dẫn đến sự từ chức của Nguyễn Văn Thiệu, cũng vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, sau 10 năm làm Tổng thống Việt Nam Cộng hoà. Ông ta đã xuất hiện trên truyền hình trách móc Mỹ cắt giảm viện trợ đồng thời cũng chính là những lời tự thú mình là tổng thống của một chính quyền tay sai tồn tại bằng viện trợ, tồn tại vì viện trợ: “…các ông đưa tôi chỉ có 3 đôla mà thúc giục chúng tôi đi bằng máy bay, ghế hạng nhất, mướn phòng 300 đôla một ngày ở khách sạn, ăn ba hay bốn miếng bít-tết và uống bảy tám ly rượu Tây một bữa. Đấy là điều kỳ quặc không bao giờ làm được”. Ở lúc khác ông ta cũng nói: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!” Và rồi, trong lời tuyên bố từ chức dài đến 3 tiếng đồng hồ ấy, ông ta kết luận: “Hoa Kỳ là một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo”. Thực tế, Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình không hiểu, bởi Mỹ bỏ rơi VNCH không phải Mỹ vô nhân đạo mà vì chính Mỹ đã thất bại!
Năm 1990, Nguyễn Văn Thiệu gặp lại chiến hữu tị nạn tại Orange County, California, ông ta thú nhận thân phận nô lệ của chính quyền VNCH khi nói về “nguyên nhân mất nước”: “Bởi vì mình chịu cái sự nô lệ về viện trợ”. Viên thiếu tá biệt kích dù từng chất vấn Tổng thống Dương Văn Minh sáng 30-4-1975 tại Dinh Độc lập: “Tại sao đầu hàng?” đã chất vấn Nguyễn Văn Thiệu như một bị can: “Đào ngũ trong thời chiến phải được đem ra xử bắn hay không? Vì trong ngày tôi chiến đấu cuối cùng tại SG tôi không thấy mặt tổng thống?”
***
Còn đương kim Tổng thống VNCH thời điểm sáng 30-4-1975 là Dương Văn Minh, người mới nhận chức Tổng thống từ Trần Văn Hương vào ngày 28 tháng 4 năm 1975. Dương Văn Minh chính là người mà năm 1963 đã lãnh đạo cuộc đảo chính bắn chết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cố Vấn Ngô Đình Nhu và xử tử hình “Bạo chúa Miền Trung” Ngô Đình Cẩn. Khi Quân Giải phóng đã tấn công đến Cầu Sài Gòn, Dương Văn Minh buộc phải đọc Tuyên bố “yêu cầu hai bên cùng ngưng nổ súng”. Băng ghi âm được phát trên đài Phát thanh Sài Gòn đúng 9h30 phút.
Dù Dương Văn Minh đã đọc tuyên bố yêu cầu ngưng nổ súng như vậy, nhưng trên đường tiến công của Binh đoàn Thọc sâu của quân ta vẫn bị quân địch chống trả tới cùng.
Sau khi phá tan ổ kháng cự ở Cầu Sài Gòn, lực lượng đi đầu Binh đoàn Thọc sâu của Quân đoàn 2 vượt qua Cầu Sài Gòn. Phó Tư lệnh Hoàng Đan chỉ thị cho Lữ đoàn xe tăng 203 cho Tiểu đoàn 1 đi đầu, Tiểu đoàn 2 bám theo; chỉ thị cho Trung đoàn đặc công 116; Trung đoàn bộ binh 66 bám sát đội hình xe tăng tiến về hướng Dinh Độc Lập; Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 66 có nhiệm vụ đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn.
Đến gần 10 giờ, mũi tiến công đến ngã tư Hàng Xanh, Ngô Sĩ Nguyên, Pháo thủ số 1 trên xe tăng 390, thấy hai chiếc xe M113 và một đoàn xe ô tô, cũng là lúc anh nghe thấy lệnh của Trưởng xe Nguyễn Đăng Toàn:
-Mục tiêu!
Ngô Sĩ Nguyên bóp ngay cò súng, các quả đạn bay trúng mục tiêu làm hai chiếc xe M113 toác ra và cháy bùng lên.
Đoàn quân được lệnh tiếp tục rẽ trái tiến lên. Đi đầu là xe tăng 387 của trưởng xe Lê Tiến Hùng, khi xe 390 dừng lại bắn xe địch, xe 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã vượt lên đi thứ hai, xe 390 của Trưởng xe Chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn đi thứ ba . Tiếp theo sau là chiếc xe Jeep chở Đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 66...
Đến Cầu Thị Nghè, một ổ kháng cự của địch có cả xe tăng M41 và xe thiết giáp M113 đã bất ngờ bắn vào đội hình quân ta. Xe 387 dẫn đầu bị trúng đạn. Trưởng xe Lê Tiến Hùng bị thương và một chiến sĩ công binh ngồi trên xe đã hy sinh. Xe 843 của Bùi Quang Thận dừng lại lập tức bắn cháy các xe của địch, dập tắt ổ kháng cự cuối cùng. Xe tăng 390 lại lao lên dẫn đầu. Ngoài Trưởng xe Vũ Đăng Toàn, trên xe 390 còn có Ngô Sĩ Nguyên, Pháo thủ số 1; Lê Văn Phượng, Đại đội phó kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2; và Lái xe Nguyễn Văn Tập. 

Xe tăng 843 bám theo xe 390. Trên xe 843, ngoài Trưởng xe Bùi Quang Thận có Thái Bá Minh, Pháo thủ số 1; Nguyễn Văn Kỷ, Pháo thủ số 2; và Lái xe Lữ Văn Hỏa.

Các chiến sĩ đều được hướng dẫn trước, qua cầu Thị Nghè, đi qua 7 ngã tư, rẽ trái là sẽ tới Dinh Độc lập. Nhưng lần đầu đi giữa phố phường của một thành phố lớn, san sát nhà cửa, các chiến sĩ bị ngợp, không chỉ có các ngã tư mà còn có các ngã ba, khiến các chiến sĩ không thể nhận diện chính xác thứ tự các ngã tư. Xe 390 đã đi quá đường, vượt qua ngã tư thứ 7 là Hồng Thập Tự-Công Lý (nay là Nguyễn Thị Minh Khai-Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Đi khoảng hơn chục mét đến cổng một trường học thấy bảng hiệu ghi là trường Lê Quý Đôn, nhận ra đã lạc đường, Lái xe Nguyễn Văn Tập nói với Trưởng xe Vũ Đăng Toàn:
-Xe mình có khi bị lạc rồi!
Vừa lúc đó có một thanh niên đi ngược tới, Nguyễn Văn Tập ngừng xe, xuống giữ ngay anh chàng lại, nói với trưởng xe:
-Anh Toàn ơi, bảo nó dẫn mình tới Dinh Độc lập.
Chàng thanh niên sợ hãi:
-Các ông cho con về cất đồ.
Chờ một chút thấy chàng trai rẽ vào đường gần đó mất hút luôn, Nguyễn Văn Tập nhớ ra sau lưng mình chính là ngã tư thứ 7, nên anh cho xe lùi ngay lại, “đánh vào tay trái”, rẽ về hướng Dinh Độc lập.
Trong khoảng thời gian đó, ở trong xe 843, Bùi Quang Thận cũng không nhớ chính xác thứ tự các ngã tư,
Còn ở xe 843, Bùi Quang Thận cũng không biết mình đã vượt qua bao nhiêu ngã ba, ngã tư, đến một ngã tư anh lệnh cho xe rẽ trái, chạy hết một dãy phố đến một ngã ba đầu một con đường lớn. Nơi đó có chiếc cổng sắt lớn dẫn vào một công viên ghi “SỞ THÚ SÀI GÒN”. Anh ra lệnh dừng xe, đứng dưới lòng đường. Đang bối rối, rất may, từ phía trước, anh thấy một phụ nữ đi xe máy lao tới. Trong đầu anh thoáng nghĩ đúng là một cơ hội hiếm hoi, Anh ra hiệu cho xe dừng lại, nhưng chiếc xe vẫn lao đi như không biết đến cử chỉ của anh. Anh lập tức bắn ba phát chỉ thiên. Người phụ nữ phanh gấp chiếc xe máy chững lại. Trước mắt anh, một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi mặt mày tái mét, mặc dù đã có lớp son phấn phủ lên. Chắc cô đã kinh hồn bạt vía bởi luôn bị tuyên truyền, khi Việt Cộng chiếm thành phố sẽ có một “cuộc thảm sát đẫm máu”, “sẽ rút móng tay của từng cô gái một vì sơn móng tay”, sẽ bắt và giết hết những đứa con lai của những người phụ nữ quan hệ với lính Mỹ.
Với giọng từ tốn, anh đã trấn an được người phụ nữ, rồi đề nghị:
- Chị chỉ hộ tôi đường vào Dinh Độc Lập.
- Tôi chỉ xong ông cho tôi đi chứ - người phụ nữ vừa nói vừa run.
- Vâng, xong việc, chị hoàn toàn tự do- Anh quả quyết.
- Ông đang đứng trước hướng Dinh Độc Lập đó – cô nói mà không dám chỉ tay - nó phía sau tàn cây như rừng phía cuối đường nầy đó.
Bùi Quang Thận nhìn thẳng, từ cuối đường Thống Nhất anh thấy Dinh Độc Lập không đồ sộ như suy nghĩ của anh, nhưng nó là khu nhà bề thế như nằm sau rừng cây. Anh lập tức lên xe, lệnh tiến thẳng đến cổng Dinh Độc lập. Qua ngã tư cuối cùng, Bùi Quang Thận thấy Dinh Độc lập sừng sững trước mặt. Xe 843 rú ga vượt qua đoạn đường cuối tới đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) ngay trước cổng dinh. Không biết quân địch trong Dinh thế nào, Bùi Quang Thận lệnh cho Pháo thủ Thái Bá Minh bắn pháo lên trời để thị uy, nhưng Minh bóp cò 2 lần đạn vẫn không nổ. Minh hét bảo Pháo thủ 2 Nguyễn Văn Kỷ thay đạn, và đó cũng là lúc Lái xe Lữ Văn Hỏa đã lái xe đến gần cổng Dinh có những hàng rào kẽm gai và chướng ngại vật. Bùi Quang Thận hô:
-Cứ lao thẳng vào!
Vì xe đang chạy nhanh, lại tránh chướng ngại vật, xe lạng sang phía trái về phía cổng phụ, Lữ Văn Hỏa vội kéo cần lái phải, chỉnh thẳng hướng, đâm xe thẳng vào cổng. Phải đâm ba lần cánh cổng mới bật ra, lần thứ 3, bánh xe đâm vào trụ cổng trái rất vững, làm xe chết máy, dừng lại.
Lúc này, xe 390 từ hướng Đường Công Lý cũng vừa chạy đến. Lái xe Nguyễn Văn Tập thấy xe 843 dừng lại trước cổng phụ, nói với Trưởng xe Vũ Đăng Toàn:
-Bây giờ thế nào?
Vũ Đăng Toàn quát, giọng hơi gắt:
-Tông vào đi chứ còn thế nào nữa!
Tập lập tức nghiến răng kéo cần lái phải, đánh vuông góc, chỉnh đầu xe đúng giữa, húc tung cánh cổng chính, thực hiện một “đường cua” đẹp nhất trong cuộc đời lái xe tăng của anh. Pháo thủ Lê Văn Phượng, lúc xe ở ngay trước cổng, đứng trên tháp pháo, anh nhìn thấy thấp thoáng một nhà báo cầm máy ảnh, chạy lom khom trong sân Dinh. Đó chính là nữ nhà báo người Pháp Francoise Demulder, người đã chụp được khoảnh khắc lịch sử, chiếc xe tăng 390 của Quân Giải phóng húc đổ cổng chính Dinh Độc lập. 

Nguyễn Văn Tập tiếp tục rú ga cho xe chạy nhanh đến cửa dinh, rồi dừng lại. Pháo thủ Ngô Sĩ Nguyên cầm AK nhảy ngay xuống xe thì thấy một người chạy lại nói:
-Vừa rồi tôi không cắt cầu dao điện bánh xe thì xe của anh chắc cháy rồi!
Nguyên trả lời:
-Cảm ơn nhé!
Người đàn ông đó chính là Lê Văn Hinh, một tình báo viên với mật danh H5. Trong vai “thiếu úy cảnh sát dã chiến”, từ ngày 18/4, anh đã được cử vào làm bảo vệ khu vực Dinh Độc lập. Sáng ngày 30/4/1975, anh biết đoàn xe tăng của quân giải phóng sẽ không thể húc đổ cổng được vì tất cả hàng rào đã bị cài điện. Khoảng 10 giờ 30 phút, ông đã tìm gặp ngay viên thiếu tá cảnh sát, người đang giữ chìa khóa hệ thống điện trong Dinh Độc lập, khôn khéo thuyết phục “người anh em” ngắt toàn bộ cầu dao trung tâm điều khiển điện của hàng rào. Vì vậy, đoàn xe tăng của quân giải phóng đã húc đổ cổng chính và cổng phụ, an toàn tiến vào sân dinh.
Cũng vào lúc xe 390 vừa ngừng, Trưởng xe Vũ Đăng Toàn định cầm cờ nhảy xuống xe, lên cắm cờ, Lê Văn Phượng vỗ vai Toàn:
-Thôi anh, đã có đồng chí Thận đang cầm cờ chạy theo xe mình vào kia rồi!
Toàn nghe Phượng, khi Bùi Quang Thận chạy đến ngang xe 390, anh nói anh em sẵn sàng chi viện, mình xách khẩu AK nhảy xuống bảo vệ Bùi Quang Thận cầm cờ tiến vào Dinh.
Còn Bùi Quang Thận, trước đó ít phút, khi xe 843 chết máy, kẹt lại cổng phụ của Dinh, anh quyết định thoát ly khỏi xe, chạy bộ vào cắm cờ. Anh giao nhiệm vụ cho các đồng đội chi viện cho mình và dặn: “Các cậu ở lại, mình vào Dinh. Nếu không thấy mình quay ra, cũng không thấy lá cờ này nhô lên, thì tức là mình đã chết ở trong Dinh rồi!” Chạy đến xe 390, anh thấy Vũ Đăng Toàn xách khẩu AK nhảy xuống bảo vệ mình cầm cờ. Khi vượt qua các bậc tam cấp, lao vào trong Dinh, anh bỗng thấy mình bị va vào một khoảng không vô hình, buộc phải dừng lại. Thì ra anh đã va vào cánh cửa bằng kính khổng lồ, trong suốt, mà cả một thời lớn lên ở làng quê, rồi xông pha nơi trận mạc, anh chưa bao giờ được nhìn thấy cái đồ vật xa xỉ ấy!
Nhà báo Hà Huy Đỉnh có mặt lúc đó chứng kiến:
-Thì anh ấy chạy lên đấy, đụng nghe “cái rầm”! Sau khi đụng chạm thì có người hướng dẫn ảnh chạy lên tiếp.
Lúc này, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh ở tầng trên, cho một người xuống đón quân giải phóng tay cầm một miếng vải trắng. Người này chỉ cửa cho Bùi Quang Thận vào, dẫn anh lên lầu 1 gặp Nguyễn Hữu Hạnh (mặc quân phục) tại cầu thang. Anh quát:
- Ông nào là Dương Văn Minh? Cho tôi gặp ngay Dương Văn Minh!
- Dạ thưa, cấp chỉ huy gặp Tổng thống có việc chi ạ?
- Để ông ấy dẫn tôi đi cắm cờ.
- Dạ... dạ, cái việc ấy thì ông này làm được. Chỉ có ông ấy mới biết chỗ.
“Ông này” chính là Đại tá Vũ Quang Chiêm, Chánh văn phòng Phủ Tổng thống. Nguyễn Hữu Hạnh yêu cầu Vũ Quang Chiêm đưa Bùi Quang Thận đi cắm cờ.
Bùi Quang Thận bảo Vũ Đăng Toàn ở lại canh giữ nội các Dương Văn Minh, còn mình theo Vũ Quang Chiêm lên nóc Dinh. Lúc này có hai người tên là Nguyễn Hữu Thái và Huỳnh Văn Tòng cũng chứng kiến nên đã đi theo. Giây phút tiếp theo, Đại uý Phạm Xuân Thệ cùng đồng đội ở Trung đoàn 66 lao vào phòng bắt Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các. (chi tiết sẽ viết số sau)
Đoàn người theo Bùi Quang Thận cắm cờ đi theo một hành lang dài, rồi rẽ phải đến một thang máy nhỏ. Ông Chiêm bấm nút mở cửa, mời Bùi Quang Thận bước vào. Anh lần đầu thấy thang máy nên ngần ngừ bước vào, rồi lại quay ra ngay lập tức, nghi ngờ, “Hắn định giở cái trò khỉ gì thế này? Mình đi cắm cờ, nó lại giam mình vào cái hộp bằng inox này sao đi cắm cờ được?” Vũ Quang Chiêm giải thích, "Dạ thưa, ông vào đi. Đây là cái thang máy. Tôi đưa ông đi cắm cờ mà". Anh thấy gã có vẻ thành thật nhưng vẫn cảnh giác, vì không có súng, anh bắt gã vào trước, úp mặt vào tường. Vũ Quang Chiêm bấm nút, thang máy đưa Bùi Quang Thận và nhóm người lên đến tầng thượng, ra đến cột cờ, anh thấy lá cờ địch quá to, còn lá cờ của mình chỉ là cờ hiệu trên nóc xe tăng nên quá nhỏ giữa cái không gian lồng lộng của nóc Dinh. Vì lá cờ địch được chằng buộc rất kỹ vào dây kéo nên Bùi Quang Thận phải dùng răng cắn đứt mép rồi xé ra. Lúc này, Trần Đức Tình, chiến sĩ thuộc Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, QĐ2, cũng đã có mặt trên nóc dinh. Thấy Bùi Quang Thận cứ dứt dứt không đứt, Tình nói:
-Thôi tội gì, tôi có dao đây!
Nói xong, anh cầm dao cắt rời mối nối góc cờ địch với dây kéo.
Gỡ xong cờ địch, Bùi Quang Thận thay lá cờ giải phóng lỗ chỗ vết đạn của mình vào, rồi kéo lên. Bất chợt, anh lại hạ cờ xuống, đưa tay xem đồng hồ, lấy bút thận trọng ghi: 11 giờ 30 ngày 30-4 và ký tên Thận lên góc lá cờ, xong, anh lại kéo cờ lên trở lại.
Cùng lúc Bùi Quang Thận lên treo cờ trên nóc dinh, dưới sân, Trung úy Phạm Duy Đô thuộc Trung đoàn 116 đặc công, cũng ngồi cùng xe với Đại úy Phạm Xuân Thệ, tiến vào dinh. Khi xe dừng, anh đã lao lên ban công, rút lá cờ trong túi ra phất báo hiệu cho các xe tăng tiến vào. Đào Ngọc Vân, lái xe jeep của Phạm Xuân Thệ, cũng lấy lá cờ của người đàn ông đi theo chỉ đường, chạy lên ban công phất cờ. Trên ban công, mọi người thường thấy hai người phất cờ là vì như vậy.
***
Lúc này, dưới sân, nhiều xe tăng đã vào sân, dàn đội hình. Các chiến sĩ bộ binh cũng đã vào nhiều, họ gom toàn bộ số lính ngụy đưa vào góc sân dinh và canh giữ những vị trí cần thiết. Còn ngoài đường Thống Nhất, xe tăng, xe bọc thép, xe ô tô chở bộ binh vẫn nối đuôi nhau tiến về hướng dinh. Tiếng súng bắn chỉ thiên mừng chiến thắng của quân giải phóng nổ vang trời. Nhưng vẫn còn lẻ tẻ đâu đó những tiếng súng kháng cự hận thù lầm lạc của những người lính thuộc một chính quyền tay sai bại trận. Từ phía trụ sở Bộ Ngoại giao (nay là Sở Ngoại vụ TP.HCM), những tay súng biệt kích dù 81 đã bắn trúng Tô Văn Thành, chiến sĩ tiểu đoàn 7 bộ binh đang ngồi trên thành xe tăng. Đó là chiến sĩ giải phóng cuối cùng hi sinh ngay trước Dinh Độc Lập.
Còn trong dinh, Phạm Xuân Thệ đang buộc Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh SG đọc lời Tuyên bố đầu hàng!
24-5-2020
ĐÔNG LA
(Còn số cuối)