Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

Ngô Quỳnh Lan CHUYỆN LẠ TRONG ĐÊM Ở NGHĨA TRANG HÀNG DƯƠNG

                 CHUYỆN LẠ TRONG ĐÊM Ở
                NGHĨA TRANG HÀNG DƯƠNG

   Lời giới thiệu: Mấy ngày nay dư luận trên truyền thông sôi nổi phản ứng chuyện ông Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A, nhà thơ Nguyễn Duy bịa đặt nữ liệt sĩ anh hùng Võ Thị Sáu là một người "điên"...Rõ ràng họ xúc phạm một liệt nữ cả dân tộc kính trọng. Những người hiểu biết ai cũng thấy được mục đích của họ. Tôi không góp thêm sự phản đối mà xin gửi đến độc giả bài viết của nhà báo Ngô Quỳnh Lan kể chuyện có liên quan đến vấn đề tín ngưỡng Liệt sĩ Võ Thị Sáu. Bài in ở sách "Một thời làm báo" (tập 8), Của Các Nhà Báo Cao Tuổi Tại TP. HCM. NXB Thanh Niên năm 2011.
                      (Một Độc Giả Thân Thuộc của Đông La).

(Nhà báo Ngô Quỳnh Lan)

  "Ngày 30-4-1998, huyện Côn Đảo là đơn vị đầu tiên của cả nước tổ chức lễ dâng hương các liệt sĩ và đồng bào yêu nước hy sinh tại Côn Đảo. Các nghĩa trang Hàng Dương, Hàng Keo và Bãi Sọ Người đều có hàng vạn liệt sĩ quê ở mọi miền Tổ Quốc, từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau nằm yên nghỉ nơi đây. 7 giờ sáng ngày 30-4, tôi cùng với quay phim Việt Thắng của VTV (Đài Truyền hình Việt Nam) ra Côn Đảo quay buổi lễ dâng hương và những hoạt động của huyện đảo. Đoàn đi dự lễ dâng hương gồm các đồng chí lãnh đạo của các thời kỳ ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo nên máy bay hết cả chỗ. Đồng chí Nguyễn Trọng Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu liền nhường chỗ cho tôi rồi vào ngồi trong buồng lái cùng với các phi công. Tôi cảm động quá chừng!

Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

NHỮNG KHÚC QUANH CUỘC ĐỜI (Truyện ngắn)

ĐÔNG LA
NHỮNG KHÚC QUANH CUỘC ĐỜI
(Truyện ngắn)


Người bạn bị ung thư của tôi có những kỷ niệm để đời với tôi được viết trong cái truyện ngắn này. Trong truyện có câu “Cái chết của cha tôi thật kỳ lạ! Như một sự sắp xếp tai ác của định mệnh, ông chết vào đúng hôm tôi bay từ Liên Xô về Sài Gòn”. Người giúp tôi “chạy trốn” khỏi Liên Xô rồi cùng bay về Sài Gòn chính là người bạn trên: Nguyễn Khắc Kế. Tối hôm tôi và Kế nhậu vui vẻ với nhà vợ tôi ở Hồ Biểu Chánh, Phú Nhuận, thì đúng là lúc cha tôi chết.
(Tôi và Kế tại Leningrat, 1990)
Còn bệnh của Kế tôi tính bảo Kế giữ kín, ồn ào ảnh hưởng xấu đến tâm lý, chưa kể những kẻ ác còn muốn mình chết đi, nhưng Kế đã dũng cảm công khai, còn vào facebook của tôi comment.
Bước đầu ăn chay bệnh tình của Kế đã có dấu hiệu tốt, lúc phát bệnh từ lúc chưa có gì sau ba tháng đã mọc mấy u, nay sau mổ cũng đã gần 3 tháng vẫn không có gì, chỉ còn men gan cao. Có lẽ siêu vi B vẫn “quậy”nên phải trị cả nó.
Kế, bạn tôi, đúng là đang gặp “khúc quanh” của cuộc đời cũng như tôi từng gặp những khúc quanh và tôi tin Kế cũng sẽ vượt qua được như tôi đã vượt qua. Vì vậy mà hôm nay muốn đăng lại cái truyện này.
25-3-2017
ĐÔNG LA
      
Từ tận đáy của những nỗi tuyệt vọng, sự chông chênh của một cuộc sống bất định, bất an, thiếu thốn, tôi bất ngờ “đổi đời” như có một sự huyền nhiệm. Đúng ra trò khoe mẽ cũng không hay ho gì nhưng trong chuyện này cũng có nhiều chuyện đáng nói.

***
Tôi sinh tại một vùng quê, cũng gần Hà Nội thôi, nhưng cứ thấy xa thăm thẳm. Bởi muốn về quê, phải đi qua những con đường huyện, đường thôn chi chít những ổ gà, ổ trâu mà xe chạy trên đó không khác gì chạy dưới ruộng. Quê tôi cũng có mấy ông làm to. Nghe nói tỉnh đã định sửa đường mấy lần để các cụ về thăm quê cho đàng hoàng nhưng cứ chuẩn bị khởi công thì các cụ lại chết! Sau mấy năm đi bộ đội, hòa bình về tôi được đi học, rồi sinh sống luôn tại Sài Gòn; một mình ở Sài Gòn, không một người thân. Giờ nghĩ lại thấy có chút gì đó phiêu lưu. Tất nhiên không phải như những trò mạo hiểm mà chính là sự phiêu lưu trên con đườnng đi tìm thành công ở cõi đời này. Đã có những lần người này người nọ nói, kể ra tôi là con một ông to; kể ra tôi khôn ngoan… Tôi sẽ được… Nhưng tôi không có những cái đó. Cha tôi là nông dân, ông là y sĩ nhưng cũng là y sĩ nông dân. Đời ông không để lại cho con cái của cải gì, ông chỉ để lại cho tôi cái tính “Mình làm đúng thì không sợ thằng nào hết”. Có thể ông đúng ở một xã hội thôn quê đơn giản. Nhưng cuộc sống ở đô thị với dằng dịt mối quan hệ không như thế. Nó cần có một nghệ thuật sống. Tôi rất biết nhưng lại không có. Bởi người ta sinh ra trên đời luôn mang trong mình dòng máu của cha ông, cái cốt cách của một vùng đất mà tuổi thơ ta đã lớn lên.
Sau khi tốt nghiệp, tôi cũng được chọn trong số những người đỗ đầu các chuyên ngành về làm việc tại một viện nghiên cứu về Dược của Bộ Y tế.
Vừa ra trường, được một nơi sang trọng đến rước ngay, được làm công việc yêu thích, là một điều chỉ có trong giấc mơ của sinh viên. Tôi thực sự hạnh phúc. Ở nơi này, vốn là những hãng bào chế của chế độ cũ, từ hội trường lớn, các phòng thí nghiệm lấp loáng những dụng cụ thủy tinh, thư viện, đến các phòng ăn, phòng tắm… tất cả, tất cả đều sang trọng, sáng choang. Tôi thầm nghĩ, mình khỏe mạnh, đầu óc không đến nỗi tồi, cha là chiến sĩ giải phóng Điện Biên, mình thì giải phóng Sài Gòn, còn điều gì phải lo nữa, cứ làm việc cho tốt là tiến lên thôi…
Bây giờ nghĩ lại mà buồn cười. Tôi nhớ đến bạn bè trong lớp thuở nào. Sau hơn chục năm ra trường, đứa làm quan, đứa không, đứa làm chuyên môn, đứa không, đứa giàu, đứa nghèo, đứa hạnh phúc, đứa bất hạnh … Nhưng có điều lạ, không phải cứ tài năng, cứ thông minh, học giỏi, đức độ hơn thì thành đạt hơn; nhưng cũng không phải cứ ngu dốt, cứ đểu cáng, gian manh, lừa lọc thì được… Như có một sự mầu nhiệm, huyền linh trong cõi sống này. Cả cõi sống như một bàn cờ vĩ đại.
Còn tôi, có thành đạt không? Tôi không biết. Tôi đã có được những cái mà ngày xưa trong mơ cũng không có, nhưng còn quá nhiều chuyện lẽ ra phải khác. Người ta bảo ông Trời cũng so đo tính toán lắm, lại còn bảo có luật bù trừ nữa!
Sau một thời gian về viện, một hôm, vào thời kỳ mà ở viện đã bắt đầu có những chuyện lộn xộn, anh bạn cùng lớp tên T. đến chơi. Một cuộc gặp gỡ khó quên. Chính từ nó, một nửa con người tôi vẫn đang lịm ngủ bỗng trỗi dậy, đã trộn thêm không biết bao nhiêu phức tạp vào cuộc đời vốn đã rất phức tạp của tôi. Nhưng đến giờ tôi cũng không biết như vậy là tốt hay xấu nữa. T. rủ:
- Tao có bà đồng hương là nhà thơ nổi tiếng (1), bà cũng có một đứa con gái. Nhà gần đây. Tao với mày sang chơi đi.
Tuổi đôi mươi, nghe thấy có con gái là mắt sáng như sao rồi. Tôi đi ngay. Nhà bà chỉ cách khu tập thể tôi ở có mấy trăm mét, trong một hẻm nhỏ yên tĩnh, một trệt, một lầu. Tôi thấy ban-công được phủ kín một giàn thiên lý; bờ giậu ngoài cửa sổ phòng khách có treo mấy chậu kiểng nhỏ gì đó, luôn túa xuống những cọng dài, từng khúc, từng khúc lại mọc ra một chùm lá thanh mảnh mềm mại. Bà trạc tuổi mẹ tôi, khoảng 60, tiếp chúng tôi rất niềm nở, có quan tâm đến tâm lý người đối thoại. Bà nói, bà muốn tôi thường xuyên đi lại nhà bà vì nhà neo người. Bà còn hứa sẽ làm mối cho tôi một cô giáo trẻ đẹp lắm. Tôi ngồi ngắm nhìn một giá sách nhỏ để riêng những tác phẩm của bà, không ngờ từ lâu đã tồn tại một Hội Nhà văn và đã có biết bao tác phẩm chào đời. Vốn chỉ thích học Tự nhiên, tôi thực sự chỉ biết nước Việt Nam mình có vài nhà văn, nhà thơ, mà do phải học môn văn trong trường, tôi mới biết đến mà thôi. Không biết mọi người có vô tâm với văn chương như tôi không nhỉ? Nhưng tôi biết một cách chắc chắn rằng, bạn bè cùng học, giới kỹ thuật rất ít đọc sách văn chương; nếu có, họ chỉ đọc loại văn chương của những tên tuổi mà tầm tư tưởng đủ sức chinh phục họ.
Chiều ấy, tôi đã tìm mua một tờ Văn nghệ xem văn chương như thế nào. Tôi đã đọc hoàn toàn hồn nhiên, không bị ràng buộc bởi bất cứ một quy tắc nào mà những cây bút ít tài lại khệnh khạng, thời gian đã đắp điếm thêm cho bao hư danh, đã đặt ra cho nghệ thuật; và thấy rất khó đọc. Có một vẻ gì đó lê thê và khô cứng.
Tôi nghĩ đến những bài thơ đầu tay của mình. Thực ra tôi cũng đã có làm thơ. Thật lạ, từ một người không bao giờ quan tâm đến văn chương, thế mà tự dưng lại đi làm thơ. Đó chính là kết quả của mối tình đầu. Tôi đã mang sang đưa cho nhà thơ xem. Đọc xong bà nói:
- Hình như cháu cũng có năng khiếu. Nhưng thơ cháu chưa được. Thơ bây giờ phải thực, phải tình cảm, sâu sắc và đặc biệt là không được giống ai.
Đó có lẽ là bài học thơ ca đầu tiên và duy nhất của tôi. Đến bây giờ thì tôi hiểu thơ ca không phải chỉ có thế. Nhưng hồi ấy nó đã giúp tôi nhiều trong việc làm ra các bài có thể đăng báo được. Lúc đầu nghe bà nói tôi tự ái. Không định làm nhà thơ mà cũng tự ái. Đêm ấy tôi cắn bút. Thơ thực thì dễ, tình cảm cũng dễ, còn sâu sắc thì mông lung lắm biết thế nào. Cứ viết về mẹ là chắc ăn nhất. Để “không giống ai”, tôi nghĩ mình sẽ chỉ viết ra những cái chính mắt mình nhìn thấy, những tâm tư của chính mình, và tôi đặt bút viết về hình ảnh mẹ tôi gánh lúa, một công việc nặng nhọc nhất và cũng là đặc trưng nhất của những bà mẹ nông dân:
Tuột quai dép dẫm hòn sỏi nhỏ
Xót xa nhớ về bóng mẹ đường dài
Nắng đốt mặt đường đất bốc hơi
Chân đất vai gầy oằn gánh nặng…

Đêm thoáng lạnh trùm chiếc chăn nhẹ
Nhớ gió Bấc khô thổi rụng lá xoan vàng
Mẹ ơi nếp da dầy chân mẹ!
Đã bao nhiêu rồi vết nứt nẻ dọc ngang?
Cứ thế, không khó khăn lắm, sau một lúc thì tôi làm xong bài thơ. Nhưng có phải là thơ? Có hay không?... thì quả thật tôi không biết.
Sáng sớm hôm sau, tôi sang đưa bài thơ mới làm cho nhà thơ coi. Tâm trạng hồi hộp như chờ đợi một kết quả thi cử. Không ngờ bà nói:
- Bài này ai làm đây?
- Cháu làm đó cô.
- Cô không tin là cháu đấy. Cháu có tài đấy cháu ạ, mày viết hay lắm. Nhưng còn phải thế này… thế này… Bây giờ cháu làm tiếp mười bài nữa và phải nghĩ ra một cái bút danh.
Tôi nghĩ đến quê mình. Ngay đến cả cái huyện to tướng cũng không bao giờ thấy tên trên báo, huống hồ cái làng bé tí ti kia. Tôi nói:
- Quê cháu là một nơi khỉ ho cò gáy. Cháu muốn tên làng cháu được in trên báo. Nó là ĐÔNG LA.
Bà nói:
- Tên nghe ngồ ngộ. Thôi cũng được, không lẫn với người khác.
Tôi ra về, bụng mừng lắm, lâng lâng như một kẻ vừa được đặt chân lên ngưỡng cửa của một khu vườn hứa hẹn nhiều hoa thơm, trái lạ. Tôi nhớ đến hồi ở ký-túc-xá, dù không chú ý các khoa xã hội, nhưng tôi cũng đã để ý đến những người ở khoa văn có tác phẩm được đăng, đã thấy ở họ có một cái gì đó hay hay, huyền bí. Tôi đâu biết chính cái hay hay huyền bí ấy, khi người ta “dính” vào có thể bị nghiện như chơi, như nghiện một thứ thuốc phiện mạnh nhất. Nó có thể làm rạng danh một con người, nhưng cũng có thể quật ngã một con người. Làng tôi có một anh chàng dáng người tiền sử; da đen; trán thấp; mũi ngắn và hếch; môi thâm; cổ to và ngắn… không hiểu do duyên cớ nào tự dưng muốn trở thành nhà thơ. Anh chàng một năm đi đóng gạch mấy tháng để chuẩn bị “cơ sở vật chất”, bỏ vợ để toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp. Đêm đêm, trong ngôi nhà như một túp lều, vách trát bùn, mái rạ, trong bản hòa tấu râm ran, miên man của ếch, của chão chuộc, của sọt sành… anh chàng làm những bài vè trong quầng sáng tù mù của ngọn đèn dầu sạm muội khói. Tất nhiên là không thành công. Dù không chỉ một lần, với chiếc xe đạp cọc cạch, anh chàng đã vượt qua cả chặng đường dài 60km lên Kinh đô, đã gặp được những nhà thơ hàng đầu nhưng vẫn không thể vượt qua được cửa ải của chữ nghĩa. Anh ta làm đến khi bị tâm thần thì thôi. Mỗi khi có máy bay bay qua làng anh ta ra giữa sân chửi:
- Đả đảo bất công! Chúng bay không dìm được ông đâu!...
Thế mà bây giờ tôi cũng làm thơ. Đang là kỹ sư, làm công việc nghiên cứu ngon lành, lại đi làm thơ. Không biết rồi tôi có bị thơ “vật” cho như anh chàng cùng làng kia không?
Tất nhiên, đầu óc tôi không thể đồng hạng với anh chàng thôn quê không thi nổi tốt nghiệp cấp 1 ấy được. Nhưng độ “điên khùng” thì chưa chắc ai hơn ai. Tôi làm một lèo mấy chục bài chứ không phải chỉ mười bài. Một hôm, khi đã đọc hết mấy chục bài của tôi, nữ thi sĩ già đã nói với tôi một cách trang trọng:
- Cháu ạ, cô đã gặp và đào tạo được nhiều nhà thơ trẻ. Có người bây giờ còn nổi tiếng hơn cả cô. Nhưng cô thấy cháu là thông minh nhất. Có lỗi, người ta phải hàng tháng, hàng năm mới sửa, mới thay đổi được. Còn cháu thì làm được ngay. Có lẽ mày rồi sẽ “hậu sinh khả úy” đấy cháu ạ.
Đến lúc này thì không phải là chuyện chơi nữa rồi. Mặc dù không biết nhà thơ nhận xét mình có đúng không, nhưng bất chợt, tôi cảm thấy mình như được giao một sứ mệnh cao cả, thiêng liêng. Chưa hề được đăng một chữ nào mà tôi thấy mình như đã nổi tiếng lắm. Từ đó, giống như anh chàng cùng làng ngày nào, đêm đêm, tại căn phòng 14 m2, không cánh cửa sổ, mưa gió hắt đầy nhà mà tôi không cảm thấy gì, tôi chong đèn làm thơ. Ban ngày thì vẫn đi làm bình thường nhưng chủ yếu để lĩnh lương chứ không ôm mộng thành tiến sĩ nữa. Dù đã có một thời, cứ thấy hình ảnh những người mặc áo choàng trắng trong phòng thí nghiệm, lòng tôi lại dậy lên những xốn xang. Nhưng khi bước vào thực tế, tôi đã bị thất vọng, tôi ngạc nhiên khi thấy trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học uyên thâm này người ta cũng đấu đá, tranh giành nhau!
Sau đó, sự nghiệp văn chương của tôi có tiến triển. Mà hình như tôi cũng có thông minh thật. Chỉ sau một thời gian rất ngắn, không chỉ làm thơ, tôi còn viết truyện ngắn, viết phê bình nữa. Những bài viết đã khiến không ít người ngạc nhiên. Có người hỏi, tại sao tôi là kỹ sư lại viết được như thế? Tôi không trả lời. Thế những người không là gì viết thì sao? Nhưng để lại ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là bài thơ đầu tiên được đăng báo. Tôi ngẩn ngơ mất mấy ngày. Kể hiểu được điều, đăng một bài thơ sẽ có bao nhiêu người đọc nó, có một ai đồng cảm không? Có lẽ người ta sẽ không mất công xúc động quá như thế! Nhưng chính cái phép “thắng lợi tinh thần” ấy lại là một thuộc tính của con người, chính nó đã giúp người ta đứng vững trong cuộc đời có quá nhiều nỗi buồn và lắm tai ương này!
Thế rồi, qua nhà thơ, tôi đã có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Cuộc gặp gỡ có ảnh hưởng dài lâu đến chí hướng, đến cuộc sống tinh thần và tình cảm của tôi.
Một lần bà nói:
- Cháu ạ, nếu cháu được gặp ông Chế (2), được ông ấy giúp cho thì tốt. Nhưng gặp được ông ấy cũng khó, ông ấy tự kiêu mà cũng bận lắm.
Nghẫm nghĩ một lát bà bày mưu:
- Bây giờ cô sẽ đưa cho cháu một chai rượu thuốc mang lên biếu ông ấy. Nhưng cháu cứ làm quen với cô Thường (3) trước đã. Cô sẽ viết giấy nhờ cô ấy đọc góp ý cái truyện ngắn mới đăng của cháu. Rồi từ từ có dịp thì đưa thơ cho ông ấy đọc. Nếu ông ấy mà bảo “được” thì mày nhất định sẽ thành danh.
Tôi mừng lắm. Được gặp một trong mấy nhà thơ lớn của đất nước là một điều bất ngờ lớn đối với tôi. Hồi nhỏ, dù ghét cay, ghét đắng môn văn nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhớ và yêu mến thơ ông. Một sự yêu mến hồn nhiên. Tôi còn trẻ, còn tò mò, cứ biết được mặt ông cũng là tốt rồi.
Thế rồi tôi đã đến nhà ông, được gặp ông như gặp một nhân vật của truyện cổ tích. Nhưng mãi đến dịp Hội Nhà văn Tp HCM tổ chức một cuộc thi thơ mà ông được mời chấm chung khảo, tôi mới nhờ được cô Thường đưa thơ của tôi cho ông coi. Sáng đó bà đã nói với ông:
-Anh Hoan (tên ông) ơi, cậu này cũng có làm thơ, cậu ấy có chùm dự thi đây này, anh coi giúp xem.
- Ông (ông thường gọi tôi vậy, còn tôi gọi ông là “chú” xưng “cháu”) cũng có làm thơ à? - Rồi sau khi đọc xong, ông reo lên: - Ô, ông làm được đấy, ông  sẽ được giải đấy!
Tôi ngạc nhiên đến độ không còn biết đến vui mừng nữa vì không hiểu “được giải” nghĩa là thế nào? Sao ông lại cho giải ngay tại nhà ông? Rồi ông tiếp: “Tôi có thể cho ông giải cao nhất cũng được, nhưng ông chưa có lực khéo người ta giết ông đấy! Thôi, tôi cho ông đứng đầu giải 3!” Nói xong, ông còn vào trong buồng, bê ra một chồng vở khổ lớn ra khoe với tôi một cách hồn nhiên như khoe một người bạn tâm giao vậy:
- Ông biết tôi làm thơ như thế nào không? Khi nào nghĩ ra được một câu hay tôi chép vào quyển đầu này, khi nào có tứ sẽ phác thảo vào cuốn thứ hai, tôi đánh mục lục đàng hoàng để hoàn thiện dần.
Từ đó, như một quà tặng của số phận, tôi được trở thành một người quen thân với gia đình và được ông dành cho nhiều ưu ái. Tôi được nói chuyện với ông rất nhiều lần. Không hiểu sao tôi lại rất nhớ câu ông tâm sự:
- Sao bây giờ tôi ngại gặp mặt con người quá ông ạ. Tôi chỉ thích gần cây cối thôi. Vì thế tôi mới chuyển nhà lên tận đây.
Không biết, đây có phải là dấu hiệu mệt mỏi của một cơ thể đã về già hay là sự mệt mỏi của một cuộc đời đã trải qua biết bao sự phức tạp của những mối quan hệ giữa con người với con người?...
Rồi cho đến một hôm, viện tôi chọn ra một đội tuyển để đi thực tập ở nước ngoài, trên dây chuyền tổng hợp Tetracyclin bằng vi sinh. Tôi cũng được chọn. Dù sao tôi vẫn làm tốt công việc ở viện. Chúng tôi được đi học ngoại ngữ. Nhưng thật oái oăm, đúng lúc này lại có một cuộc thi truyện ngắn. Thế là vừa học ngoại ngữ tôi vừa cắm cúi viết một truyện. Cũng chẳng phải lấy ở đâu xa cho mất công mà viết ngay về những ngang tai trái mắt ở viện mình. Bây giờ thì mới biết là thậm ngu, vì tự dưng lại đi phê bình người chọn mình đi nước ngoài và bênh vực một người về hưu! Chẳng có ai lại ngược đời như thế cả. Nhưng lúc ấy thì tôi không nghĩ thế. Tôi cứ nghĩ mình viết đúng thì không làm sao cả. Mà hơn nữa, đã dám nhận một sứ mệnh cao cả thì còn phải tính toán gì nữa! Viết xong, tôi liền gửi báo và sau một tuần thì được đăng. Không ngờ, chuyến ra quân văn xuôi lần này cũng rầm rộ lắm. Đài thành phố, đài Trung ương dồn dập đọc truyện của tôi. Về khu tập thể, tôi thấy suy nghĩ của mình cứ oang oang phát trên đài. Với tâm trạng của một người đang bay trên tầu vũ trụ, tôi núp ngoài cánh cửa nhà người ta nghe nhờ (vì tôi chưa sắm được đài). Hàng xóm xôn xao, cơ quan xôn xao, cả ngành xôn xao, mãi tít mù ngoài Bắc quê tôi cũng xôn xao. Mọi người ở các xí nghiệp đổ xô đi mua tờ báo. Tôi nhận được thư cha tôi chúc mừng: “Thấy rất mừng là con đã trở thành một nhà văn khá giỏi”. Tôi còn biết, một lần ông nói với cán bộ xã: “Chúng mày thì là cái chó gì, tao đây này, tao còn là bố nhà văn đây này!”. Thật tội nghiệp ông. Bởi đúng ra tôi chỉ là một đứa con vô tích sự. Cho đến lúc ông mất, tôi chưa báo hiếu được một điều gì. Đây chính là nỗi ân hận lớn nhất của cuộc đời tôi.
Còn đối với lãnh đạo viện, truyện ngắn của tôi như một đòn sấm sét. Một nhân vật phải về hưu để “thế mạng” cho cả một ê-kíp, trấn an dư luận (kiểu Tào Tháo mượn đầu quan coi lương trấn an quân lính). Còn tôi, tất nhiên là không được đi nước ngoài với một lý do thật giản dị, “để đến lần sau”! Cái lần không bao giờ có!
 Thế là chính từ đây, cuộc đời tôi đã bị đẩy tới một khúc quanh. Cả phòng tôi đi nước ngoài hết chỉ còn lại độc một mình tôi. Rồi tôi bị cho nghỉ 70% lương, rồi không lương, là hợp lý lắm! Chua chát thay, văn với chả thơ!
Lúc này, nhà thơ nữ già đã về Bắc. Tuổi già của bà không chịu nổi nỗi cô đơn ở nơi đây. Bà viết một thư muốn tôi chính thức là con của bà, ra Hà Nội ở, rồi sẽ thừa kế toàn bộ tài sản vật chất cũng như tác phẩm của bà. Tiếc là tôi đã làm buồn lòng bà vì tôi đã có vợ và đứa con trai, với tôi không có gì sánh được với nó. Tôi thì thế nào cũng được, nhưng vợ con tôi sống quen ở Sài Gòn, làm sao có thể ở Hà Nội? Còn nhà thơ lớn kia thì thật đau đớn, ông đã mất! Trong một lần khám bệnh, bác sĩ đã phát hiện ra khối u ác trong phổi ông!
Thế là không còn gì nữa. Tôi đã đột ngột từ biệt văn chương như lúc đầu đột ngột đến với nó. Tôi không hối hận gì cả, chỉ thấy trào lên một niềm căm giận, mình có làm điều gì sai đâu? Tôi không biết là mình đã thực hiện một sự phiêu lưu. Làm một việc cần đến sức mạnh mà trong tay lại không có gì cả. Chiều chiều, tuyệt vọng nằm gác tay lên trán, tôi nghĩ kế sinh nhai. Tôi có thể chịu được mọi gian khổ, nhưng còn thằng con nhỏ đầu lòng mới sinh của tôi, tôi đau đớn khi sinh nó ra trên đời mà lại để nó khổ. Tôi không thể đi đạp xích lô, đi vá xe đạp, vì lỡ là nhà thơ, là kỹ sư rồi! Tôi vùng dậy, đi gõ cửa tất cả các nơi có dính dáng đến hóa, đến dược. Nhưng người lớn họ quen nhau hết ráo. Với tai tiếng chuyện viết báo của tôi thì Sài Gòn cũng nhỏ thôi. Không một nơi nào dám nhận tôi vì đều được báo trước: Nó là nhà văn đấy! Cơ quan làm ăn mà lại đi nhận một thằng nhà văn tọc mạch là toi ngay mọi chuyện! Một tối! ngồi xem ti-vi nhờ, diễn vở kịch bộ đội ta đánh sân bay Tân Sơn Nhất, tôi ứa nước mắt, chửi đổng: “Đ.mẹ! Bố mày cũng từng đánh nhau ở Định Quán, La Ngà, Xuân Lộc, chôn không biết bao thằng bạn 19 tuổi chết tươi; bây giờ phải chịu nhục thế này à?! Còn mấy thằng cơ hội thì lại vênh vang, được trọng dụng; lại còn nước ngoài với nước trong tu nghiệp nữa! Đời thật chó má!” Sáng sau, tôi hầm hầm đến cơ quan, gặp viện trưởng:
- Các ông mà không cho tôi đi làm là tôi lại viết nữa đấy!
- Anh thông cảm, hiện tại phòng anh đã đi hết rồi, còn có một mình anh thì làm được việc gì?
- Các ông thật bất công. Các ông đã không cho tôi đi nước ngoài thì phải xếp việc cho tôi chứ. Không lẽ ở viện này chỉ có phòng “Tổng hợp hữu cơ” thôi sao?
- Thôi được rồi, anh cứ về đi. Tôi sẽ bàn bạc với ban giám đốc. Có thể sẽ xếp anh làm tại phòng “Hợp chất thiên nhiên”.
Cũng may, ông viện trưởng là người mới ở trên xuống, thay cho ông viện trưởng già về hưu, không có “ân oán giang hồ” gì với tôi. Có điều, ông không “mạnh” lắm, tính ông nhu nhược. Đối thủ chính của tôi là nhóm ông viện phó thì có thực quyền, thực chất. Trong đó, có một bà còn ghét tôi hơn cả kẻ thù. Tôi không hiều tại sao, vì thực ra chưa bao giờ tôi đụng chạm tới bà ta. Bà ta cũng là dân khoa học, cũng là phó tiến sĩ, trưởng một phòng nghiên cứu khác. Có thể do bà ta ganh với bà trưởng phòng và phòng “Nghiên cứu trung tâm” của chúng tôi chăng? Bà này còn có bà chị ruột mới lên thứ trưởng, nên rất “mạnh”. Nhưng người lớn họ cũng khôn lắm. Họ rất hiểu “già néo đứt dây, chó cùng cắn giận”. Biết đâu, tôi điên lên, lại tương cho một quả lựu đạn là toi đời! Hơn nữa, đúng lúc này, bộ lại mới giao cho viện một công trình cực kỳ khó mà cả viện chưa có một ai dám nhận: Chiết xuất thuốc chống ung thư Vinblastin từ cây dừa cạn.
Thế là tôi lại được đi làm. Khi trong lòng thanh thản trở lại, lần đầu tiên tôi hiểu được giá trị của những hành vi, của những cách ứng xử, của nghệ thuật sống trong cuộc đời; mà trước đây tôi chỉ biết đến có khả năng chuyên môn. Từ một kẻ thất nghiệp tôi lại được trở thành người quan trọng. Tôi đã nhận đề tài với tâm trạng của một người cưỡi trên lưng hổ và một lời thề không dính đến văn chương nữa. Phải đứng trước bờ vực chông chênh của sự tồn tại, người ta mới nhận ra được sự vô nghĩa của những hư danh. Văn chương với tôi lúc này thực sự là trò vô tích sự. Tôi cũng đã thấy trong cái đền đài nghệ thuật thiêng liêng ấy cũng có lắm chuyện.
Tôi đã nhận trọng trách chủ nhiệm đề tài và dốc toàn bộ tâm sức vào làm việc với cung cách của một thủ lĩnh, đứng đầu một nhóm mười đứa, cả dược sĩ, cả kỹ sư bách khoa phụ trách máy và kỹ sư hóa phụ trách khâu phân tích, làm sắc ký.
Với dược liệu là cây dừa cạn, chúng tôi tiến hành quy trình qua nhiều giai đoạn phức tạp. Từ việc chiết xuất, cô đặc, loại tạp, đến việc phân lập hoạt chất với một tỷ lệ vô cùng nhỏ trong alkaloid toàn phần bằng phương pháp sắc ký cột. Chỉ sau ít tháng, nhóm chúng tôi đã làm ra được mấy gam loại thuốc cực kỳ quý và đắt này (Giá thị trường thế giới hàng triệu USD một ký). Chuyên gia của Pháp, của Ý đã đến thăm nơi làm việc của nhóm chúng tôi. Tôi có nhiều triển vọng được đi Pháp tham quan, học hỏi thêm.
Trước một kỳ phép, tôi phải trình bầy toàn bộ quy trình chiết xuất trước hội đồng khoa học của viện. Như một sự báo công, một sự khẳng định, chứng tỏ năng lực của một người được quay lại làm việc, tôi say sưa trình bầy tất cả mọi chuyện. Một lần nữa, tôi lại mắc sai lầm. Một người từng trải, khôn ngoan, không hành động như thế. Muốn tồn tại, người ta phải luôn giữ dịt lấy những bảo bối.
Tôi đã mang theo về kỳ nghỉ phép một niềm vui của một người vừa làm được một công việc quan trọng và quay lại cơ quan với hy vọng tràn trề, chuẩn bị triển khai quy trình với một quy mô lớn. Không ngờ…
Ngay hôm đầu đi làm trở lại, ông trưởng phòng tổ chức tìm gặp tôi. Ông này cũng bộ đội chuyển ngành, không đến nỗi xấu. Ông nói:
- Bà Mận mới lên viện trưởng thay ông An. Bà ấy có ý định cho ông nghỉ làm đề tài đấy. Bà ấy bảo ông không hòa đồng với anh chị em. Ông cũng để cho công nhân làm bể mất cái bình cầu quý 20 lít nữa… Có lẽ ông lại nghỉ một thời gian, chứ bây giờ không biết xếp vào đâu. Nếu ông kiếm được cơ quan nào nhận nên chuyển đi.
Tôi bàng hoàng, không tin ở đôi tai mình nữa. Có lẽ nào lại có một sự vô lý đến như thế?!
Nhưng tôi biết làm sao được khi bà ấy bây giờ đã làm viện trưởng, chị bà ấy lại làm thứ trưởng. Lẽ phải thuộc về tôi nhưng chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh, đi kiện tôi sẽ thắng nhưng sẽ phải tiêu tốn cả cuộc đời mất. Tôi chỉ có duy nhất một thứ vũ khí, đó là những bí mật của công việc, thì lại trao cho kẻ thù mất rồi! Làm sao người ta có thể để tôi làm tiếp để rồi sẽ được đi Pháp, đi Ý?!
Thế là lần thứ hai, tôi lại thất nghiệp! Tôi đã khóc khi đột ngột bị dứt ra khỏi công việc đang làm dở dang và cũng mới tìm lại được niềm say mê quý giá từng đánh mất. Tôi lại được nghỉ ở nhà để mà lại vắt tay lên trán kiếm kế sinh nhai, kiếm một công việc xứng với cái danh tiếng (không biết có không) của mình. Đã khó lại còn sĩ và thế mới khổ! Có biết bao hy vọng, thất vọng, luân phiên trào lên rồi lịm đi, bóp nghẹt tim tôi…
Từ đó, cuộc đời còn tiếp tục giáng cho tôi những đòn chí mạng nữa. Nhưng tôi không chết đói mà chỉ gầy thôi. Tôi đã từ bỏ tất cả xin đi Liên Xô, thực chất là đi buôn xuyên quốc gia một chuyến kiếm tiền, nhưng sau sáu, bảy tháng, không chịu nổi cảnh xô bồ, chụp giật, tôi đã chịu phạt bỏ về. Tưởng đã cùng đường. Phải đến khi cha tôi mất, sau một giỗ, thì như người ta thường nói, tôi ĐÃ ĐỔI ĐỜI!
Do sự đổi mới của nhà nước đã mở ra cho tất cả mọi người những cơ hội để tìm đến sự thành đạt hay do cha tôi phù hộ? Tôi không trả lời được. Tôi không mê tín, nhưng thật khó phủ nhận sự linh thiêng!
Cái chết của cha tôi thật kỳ lạ! Như một sự sắp xếp tai ác của định mệnh, ông chết vào đúng hôm tôi bay từ Liên Xô về Sài Gòn. Ông đã để lại một niềm tiếc thương vô bờ cho dân làng. Bởi bình thường ông hiền như đất và là một bác sĩ làng rất có uy tín. Có đứa trẻ là con nuôi ông vì đã được ông cứu sống. Cả đời ông không màng tới một điều gì, tiền tài, danh vọng… Ông chữa bệnh không lấy tiền. Nhưng ông lại muốn tôi đạt được một cái gì đó để làm vẻ vang dòng họ!
Từ Sài Gòn, tôi muốn bay ngay về với cha, nhưng không tiền, đành cắn răng ngồi trên con tầu ì ạch nặng nhọc. Tôi đã gặp lại cha khi người đã bị dìm sâu dưới một khoảnh đất nghĩa địa ngập ngụa bùn nước. Tôi đau đớn khóc và thầm nghĩ, ông còn khỏe lắm, mới 69 tuổi! Đêm đêm tôi không ngủ được. Trong ngôi nhà cổ hoang vu, mênh mông, giăng kín những dải vải trắng, từng đàn dơi bay phần phật phần phật và tiếng con mèo rền rĩ khóc! Tôi ân hận khôn nguôi vì chưa làm vui được tuổi già ông!
*
*   *
Sau giỗ đầu cha tôi, mọi chuyện hoàn toàn thay đổi. Tôi không cần đến viện viếc gì nữa vì tôi đã là một ông chủ. Tôi đã đến với nền kinh tế thị trường như một người lính ra trận. Tôi đã chiến đấu bằng tất cả trí tuệ, bằng cả nỗi đau. Tôi đã dấn thân vào một cuộc cạnh tranh vô tư, mà sự ngu dốt, ích kỷ, đố kỵ, gian manh không được bao cấp. Và, cuộc đời không còn thử thách nữa, tôi đã được trả công. Dường như mỗi bước đi của tôi trong công việc như có một sự dẫn dắt của thần linh, cái công việc mà tôi đã tự tạo ra được từ chính những công trình nghiên cứu của mình. Tôi cũng đã tạo ra được một thị trường rộng khắp nước. Nhờ nó, tôi đã giúp cho nhiều người có việc làm, có người trở nên giầu có. Vừa rồi tôi có về quê cải táng cha… Tôi đã xây mộ cha và ông nội theo kiểu nghĩa trang công giáo ở Long An, quê vợ tôi, mà ở quê chưa có, và làm một bữa tiệc đông vui rất nhiều người tham dự. Nhưng cha ơi! Ở nơi chín suối cha có biết chăng?
*
*   *
Giờ đây, khi đã trà dư tửu hậu, tôi bỗng lại nhớ đến văn chương, nhớ đến một thời gian khó và những kỷ niệm. Thì ra văn chương không phải là tất cả cũng không phải không là gì cả. Tôi phải trở lại với nó để tìm sự cân bằng. Không hiểu sao bây giờ, khi không còn một điều gì nữa khiến tôi phải lo lắng về miếng cơm, manh áo, nhưng trong lòng vẫn không một giây yên ổn. Phải chăng, lòng tham của con người cũng có sức hành hạ người ta, làm điêu đứng người ta, không kém những nỗi bất hạnh, tuyệt vọng?

        TPHCM
Viết nhân ngày giỗ thứ 5 của cha 13-5-1995
1)   Nhà thơ Anh Thơ
2)      Nhà thơ Chế Lan Viên
3)      Nhà Văn Vũ Thị Thường
Anonymous • 
Bài thơ về mẹ của bạn làm mình ứa nước mắt đấy.Còn qua câu chuyện đời bạn mình thấy bạn là người có tài,chắc là thông minh nữa. Bạn làm gì nữa đi,đừng thỏa mãn với cuộc đời sớm nhé. Mong được nghe đến bạn nhiều lần nữa.
ĐÔNG LA • 
Bạn đúng là người có tâm và hiểu biết. Cảm ơn bạn.
Giuse Lê Thắng • 
Rất xúc động bác ĐL ạ. Người ta thường nói "nghiệp văn chương", với bác có lẽ văn chương đã vận vào rồi và như là cái nghiệp với đầy đủ ý nghĩa của nó. Bác đã từng là người giàu có nhưng lại không mãi chạy theo tham vọng giàu có mà lại đi tìm sự cân bằng trong đời sống cá nhân và mối tương đồng xã hội quả là khác biệt, hiếm có.
Hiểu về con người, hoàn cảnh của bác ắt sẽ có nhiều người yêu mến hơn. Thậm chí những kẻ mà bác thường gọi là rắn rết, tai trâu...cũng sẽ phải ngộ ra cái sự phi lý khi họ vào nhà bác để phá phách, "phun nọc độc", nếu...
Như bác luôn tâm niệm về linh sản mà người cha của bác để lại là “Mình làm đúng thì không sợ thằng nào hết”. Bác đã làm đúng, thậm chí rất đúng, nhưng...
Sự thật như thuốc đắng, tuy giã tật nhưng khó uống, những góp ý của bác đều trên cơ sở những viện dẫn chứng minh khoa học và tri thức, người đồng cảm khi chia sẻ sẽ có thể vỗ đùi một cách vô thức mà buột miệng la lên rằng "Hay! có lý!"... nhưng những kẻ bị bác phê phán thì lại khác. Họ sẽ "không đau vì quá đau" mà tìm mọi cách để trả thù, không đủ tri thức để trả thù thì họ sẽ trả thù vặt như bác thấy: "phun nọc độc" vào nhà bác, giá như trong cách nói của bác...
Tôi vẫn có niềm tin rằng kẻ cướp của giết người vẫn có cơ hội hoàn lương nếu cho họ cơ hội để ăn năn, hối cải. Tất nhiên chúng ta còn phải xem thái độ của họ có thiện chí, thiệt tâm không đã...
Những cái từ dừng lại ở trên: "nếu", "nhưng" hay "giá như" là những từ dùng để bày tỏ sự nuối tiếc về cái đã qua, sự nóng nảy đôi khi làm hỏng đi những điều lớn lao hơn mà mình khó nhọc chắt chiu... Hy vọng, bác ĐL sẽ kìm chế được như bác từng chiêm nghiệm cuộc đời mình, kiểm soát được như kiểm soát chính hơi thở của mình... thì tốt biết bao!
Vài lời tri giao với bác.
Giuse Lê Thắng
ĐÔNG LA • 
Cái truyện này thì tôi hoàn toàn là tôi. 
TT • 
Truyện đọc hay!
Lamda • 
Thực ra với cuộc đời phải chịu những thăng trầm khá cay đắng vì cái "nghiệp hư danh văn chương" này chính Đông La phải là người ghét chế độ này mới phải chứ nhỉ? Thế mà anh lại không, ngược lại còn ca ngợi. Phải chăng chính trí tuệ và bản lĩnh đã giúp ĐL đứng vững cũng đồng thời giúp anh nhận biết và phân biệt được đâu là lẽ phải cần hướng tới.


Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

ĂN CHAY ĂN GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO ĐỂ KHỎE MẠNH VÀ CHỐNG ĐƯỢC UNG THƯ?

ĐÔNG LA
ĂN CHAY ĂN GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO
ĐỂ KHỎE MẠNH
VÀ CHỐNG ĐƯỢC UNG THƯ?

Trong cuốn sách dùng phương pháp ăn uống chống ung thư tôi tặng anh bạn có chuyện về BS Anthony Sattinaro, Giám đốc một bệnh viện lớn ở Philadelphia (Mỹ). Ông đã bị ung thư tinh hoàn, ung thư tiền liệt tuyến (độ IV) và ung thư xương sườn. Trong 3 tuần lễ ông đã phải lên bàn mổ 3 lần, cắt bỏ dịch hoàn, tiền liệt tuyến và kiểm tra xương. Theo Y học hiện đại ông chỉ còn sống được một khoảng thời gian ngắn, nhưng rồi do cơ duyên đưa đẩy, ông đã ăn chay và kết quả là khỏi bệnh.
Ông đã viết lại câu chuyện và chuyện của ông đã được đăng trên Tạp chí Paris Match (Pháp) 10-1982; Tạp chí Life (Mỹ) 8-1982; Tạp chí Atarashiki Sekaia (Nhật) 10-1982 và Báo Đại đoàn kết (Việt Nam) 11-1988.
Tôi xin lược thuật vài ý chính. Cha của BS Anthony Sattinaro ở Long Beach cũng bị ung thư chết, sau khi dự lễ tang cha, trên đường trở về Philadelphia ông đã gặp hai thanh niên tóc phủ tai, xin quá giang. Câu chuyện mang tính tâm linh phương Đông, ông vốn ghét những thanh niên đầu tóc như vậy nhưng không hiểu sao lần này ông lại cho họ đi nhờ và rồi chính ông đã cho rằng hai chàng thanh niên đó đã có một “sứ mệnh” cứu sống ông. Khi chuyện trò, hai thanh niên cho ông biết vừa học xong một lớp dạy nấu ăn thực dưỡng; còn ông cũng không giấu được nỗi buồn là vừa chôn xong cha mình bị ung thư và đến lượt mình cũng đang chờ chết vì ung thư. Ông không ngờ một trong hai chàng thanh niên nói giọng có vẻ bất cần là ông không cần phải chết, bệnh ung thư có quái gì khó chữa đâu, chỉ cần thay đổi cách ăn uống, loại bỏ thức ăn động vật, là khỏi. Một bác sĩ, giám đốc một bệnh viện tại Mỹ, nơi có nền Tây Y phát triển nhất, lần đầu nghe như vậy từ miệng một cậu với ông còn là trẻ con thì ông không thể tin được. Rồi sau đó khi đã về nhà, ông lại được hai chàng thanh niên gởi tặng qua đường bưu điện một cuốn sách viết về khả năng diệu kỳ chống ung thư bằng phương pháp thực dưỡng. Và rồi trong lúc cùng đường, vượt qua nỗi nghi hoặc của chính mình, sự dè bỉu của đồng nghiệp trong bệnh viện, ông đã tìm đến cơ sở của ông Denny Waxman, một nơi truyền bá phương pháp thực dưỡng OHSAWA ở ngay Philadelphia, nhưng trong lòng vẫn không khỏi suy nghĩ rằng mình đã phó thác sinh mệnh cho một nhóm “lang băm”!
Vì ông đã bị ung thư độ IV, gia đình Waxman đã loại hoàn toàn những món mà ông thường thích ăn như thịt, sữa, tinh bột đã chế biến, v.v… ông chỉ được ăn 50-60% cốc loại lứt, 25% rau củ, 15% đậu và rong biển, còn lại là miso và gia vị.
Sau vài tuần, như nguyên văn ông viết là “tấn tuồng sân khấu đã mở ra”, một buổi sáng ông với tay lấy thuốc giảm đau, ông ngạc nhiên khi thấy không còn đau như thường lệ “chẳng khác nào người ta cởi hộ cho tôi chiếc áo quá chật”. Và rồi sau 13 tháng ăn chay như trên ông đã hoàn toàn khỏi bệnh!
***
Với quan điểm của Tây Y, thực đơn của BS Anthony Sattinaro như trên không những không thể chữa được ung thư mà còn chết trước vì thiếu protid (chất đạm).
Ribosome trong tế bào cần các loại axit amin khác nhau cho sự sinh tổng hợp protein. Sự thiếu hụt bất kỳ một axit amin nào protein cũng không thể hình thành. Trong số đó có 9 axid amin cơ thể không tự tổng hợp được, được gọi là axit amin thiết yếu, bắt buộc phải được cung cấp từ thực phẩm bên ngoài. Nếu thực phẩm thiếu 1 trong 9 loại quan trọng này có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm. Mà theo suy nghĩ của đa số mọi người cũng như của Tây Y là đạm thực vật thường thiếu những axit amin thiết yếu đó.
Nhưng thực tế đã chứng tỏ những người ăn thuần chay không chỉ khỏe mạnh mà còn chữa được nhiều bệnh, trong đó có ung thư. Có như vậy chỉ đơn giản là vì ăn một nguồn thức ăn thực vật có thể thiếu vài loại axit amin thiết yếu nhưng nếu ăn đa dạng thì không.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo rằng người trưởng thành lấy 5% lượng calo hàng ngày từ protein. Lượng protein này dễ dàng đạt được khi ăn tinh bột chưa tinh chế (gạo lứt) và rau quả. Trẻ em ở giai đoạn phát triển cần protein cao nhất là sữa mẹ chứa 5% protein. So sánh với gạo là 8% protein, ngô 11%, bột yến mạch 15%, và đậu 27%. Như vậy chuyện thiếu protein là không thể xảy ra khi người trưởng thành ăn các loại ngũ cốc chưa chế biến và rau củ.
Vì vậy những người ủng hộ ăn chay cho rằng tuyên bố của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (The American Heart Association, AHA) thường được trích dẫn “nhưng sai” (but incorrect) về các protein thực vật “hầu hết đều thiếu một hoặc nhiều axit amin thiết yếu và do đó được coi là các protein không đầy đủ".
Năm 1952, William Rose và các cộng sự đã xác định các yêu cầu của con người đối với 8 axit amin thiết yếu, đưa ra "yêu cầu tối thiểu về axit amin" của một cơ thể và sau đó tăng gấp đôi được coi là một "liều lượng an toàn tuyệt đối". Bằng cách tính toán lượng axit amin thiết yếu cung cấp bởi tinh bột thô và so sánh các giá trị này với các chất được xác định bởi Rose, kết quả cho thấy rằng bất kỳ một sự kết hợp của các thực phẩm thực vật cung cấp axit amin đều vượt quá yêu cầu được đề nghị.
Vì vậy nguyên nhân chính, chung nhất gây ra những căn bệnh của thời hiện đại lại chính là thành quả của nền văn minh, một cuộc sống dư thừa và nhàn hạ, tức ăn nhiều mà làm ít, dinh dưỡng không sử dụng hết sẽ tích lũy mỡ thừa và sự tiêu hóa thực phẩm dở dang tạo nhiều chất độc hại. Tất cả chúng chính là những tác nhân gây đủ thứ bệnh.
***
Dù vậy, căn cứ vào thực tế, các nhà nghiên cứu cũng khuyến cáo khi ăn chay cần tránh thiếu máu do thiếu sắt bằng cách ăn nhiều rau quả có nhiều vitamin C, giúp tăng cường hấp thu sắt và lấn át tác dụng ngăn cản hấp thu sắt của acid phytic, acid oxalic, acid tannic... Phụ nữ có thai, đang cho con bú, trẻ sơ sinh, trẻ đang dậy thì, vận động viên hoặc người mất máu nhiều nên sử dụng viên sắt bổ sung. Tình trạng thiếu vitamin B12 cũng có thể xảy ra ở người ăn chay tuyệt đối vì thức ăn thực vật không có vitamin B12. Cần bổ sung vitamin này cho người ăn chay là phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và đặc biệt là người cao tuổi (vì thường giảm hấp thu vitamin B12. Thiếu kẽm cũng có thể xảy ra ở người ăn chay tuyệt đối do kẽm trong thức ăn thực vật bị giảm hấp thu bởi acid phytic, oxalates, chất xơ và đạm đậu nành. Người cao tuổi (dù có ăn chay hay không) cũng có nguy cơ thiếu kẽm. Do vậy, có thể bổ sung bằng cách uống viên kẽm hoặc viên chứa kẽm.
Một tài liệu cho rằng khi nấu nướng cũng cần lưu ý trong hạt của thực vật có cơ chế tự bảo vệ, kìm hãm nảy mầm để nảy mầm vào mùa vụ thích hợp, bằng hai hóa chất là axit abscisic và axit phytic có trong cám. Hai chất này có hại cho sức khỏe. Vì vậy các nhà khoa học khuyên cần “ bật công tắc” cho gạo lứt nảy mầm bằng cách cho ngâm ngập nước nhưng chỉ đến trạng thái trước nẩy mầm “Germination mode”. Tại thời điểm này,  thành phần độc bên trong hạt đã bị biến đổi thành an toàn cho người khi ăn. Khi đó các enzyme ngủ trong hạt gạo ở trạng thái này được kích thích hoạt động và cung cấp tối đa các chất dinh dưỡng.
Các nhà thực dưỡng cũng khuyên cần ăn trọn vẹn những gì ăn được thuộc thực phẩm mà thiên nhiên ban cho loài người, như cám của ngũ cốc, vỏ, rễ của rau, củ; cần ăn sống những gì ăn sống được để bảo toàn vitamin và hoạt chất; riêng cà chua, cà rốt cần nấu chín với chút dầu để lycopen và carotene được chiết ra.
***
Rau, củ, quả có tác dụng ngăn ngừa và chống ung thư do chứa các vitamin và các hoạt chất có tính kháng đột biến, chống oxy hóa, ức chế sự khởi phát bệnh và gây biệt hóa tế bào ung thư chống lan truyền. Vitamin C tan trong nước nên thu gom mạnh các gốc tự do tan trong pha nước, Vitamin E tan trong dầu thu lượm mạnh các gốc tự do trong lipid.
Một tài liệu cho các carotenoid đều là “đồ uống” của oxy tự do, hoạt tính mạnh hơn vitamin E từ 20-100 lần. Qua thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy dịch chiết không thẩm tích của cà và rau giền có tính kháng đột biến mạnh nhất. Đặc biệt Kasuki Shinohara và cộng sự đã phát hiện dịch chiết rau giền đã làm chết tế bào ung thư, đặc biệt là ung thư vú, gan và phổi.
Một tài liệu khác cho biết nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh củ giền được coi là một trong những loại rau tốt cho sức khỏe nhất và cực kỳ hiệu quả trong việc điều trị chống lại bệnh bạch cầu, ung thư vì chứa nhiều betain, một loại acid amin có tính chất chống ung thư mạnh, nó còn là một chất chống viêm và chống oxy hóa cực mạnh. Ông Rudolf Breuss, một nhà nghiên cứu người Áo đã dùng nước ép hỗn hợp rau củ quả, gồm củ dền (55%), cà rốt (20%), cần tây (20%), khoai tây (3%), củ cải trắng (2%) cho bệnh nhân uống mỗi ngày, ông đã giúp hơn 45.000 người bị ung thư và các bệnh nan y khác điều trị bệnh hiệu quả. Những người mắc bệnh khi uống loại nước ép này liên tục trong 42 ngày thì các tế bào ung thư bị tiêu diệt triệt để.
20-3-2017
ĐÔNG LA


Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Nguyễn Văn Thịnh KHÔNG ĐƯỢC XÚC PHẠM VONG LINH LIỆT SỸ


Nguyễn Văn Thịnh
KHÔNG ĐƯỢC XÚC PHẠM
VONG LINH LIỆT SỸ
                                                                          

   Ngày 3 tháng 3 vừa qua, tại quán café Sỏi Đá đường Ngô Thời Nhiệm, Quận III, TPHCM, Ban Vận động thành lập Văn đoàn độc lập (mãi mà chưa biết bao giờ mới thành lập được) tụ họp phát cái gọi là giải thưởng Văn Việt lần thứ hai cho một số người.
   Người dự chừng vài ba chục, xem ra già nhiều trẻ ít, đủ cả đàn ông, đàn bà, trai, gái – có thanh lịch không chỉ trời biết, nhưng đều được coi là trí thức. Người có bằng Tiến sỷ Nguyễn Quang A bao thầu kiêm việc quay phim và dẫn chuyện cho nhà thơ Nguyễn Duy quen nói hài. Nhà văn Nguyên Ngọc cười nhiều, nói ít và câu động viên đàn em con cháu có giá nhất của cụ là “Năm sau chúng ta sẽ trao giải thưởng tại Hội trường dinh Thống Nhất”! Chả hiểu cụ nắm được thiên cơ ra sao nhưng thiết nghĩ cái mốc năm sau thì chắc chắn là chưa. Cầu mong nhà văn lão thành sinh năm 1932 được trời thương cho hưởng lộc bách niên mà vẫn giai lão để được mục sở thị một nhà nước Việt Nam độc lập có chủ quyền sẽ ra sao.
Về cái giải thưởng thì khỏi phải bàn vì tiền đã có đại gia dân chủ Quang A chịu chi 290 triệu VNĐ cho hai lần giải. Tuy nhiên có đúng là tiền lần từ hầu bao của vợ ông ra thì khó mà biết được. Dù sao cũng chẳng hà lạm vào đồng tiền mồ hôi xương máu của dân thì trao giải cho ai là quyền của các vị. Ai thích cứ tìm mà đọc, khen chê tùy khẩu vị mỗi người.
Có điều sau đó, các nhà văn dân chủ bày chuyện tào lao rất vô liêm sỉ là chuyển sang nói chuyện khôi hài về nữ anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu!
Tấm gương Võ Thị Sáu – người anh hùng chết cho muôn đời sau, cả nước từ thiếu niên đến người lớn đều biết hơn nửa thế kỷ nay với lòng cảm phục và kính trọng.
Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược phương tây thực ra phải kể từ những năm giữa thế kỷ XIX tới gần cuối thế kỷ XX mới hoàn thành. Một cuộc chiến lâu dài như thế với tương quan lực lượng giữa người tự vệ với kẻ cướp nước chênh lệch như thế, lại trong bối cảnh thế giới đảo điên như thế, thì việc giành lại được chủ quyền dân tộc, thống nhất đất nước, dựng nền độc lập,  tưởng như chỉ thấy trong mơ. Niềm vui quá lớn và nỗi đau cũng lớn. Nhưng biết làm sao. Sách trời định phận cho dân tộc mình như vậy, phải nhận thôi! Hôm nay, được sống trong hòa bình, ổn định, chăm lo làm lụng học hành, mong sớm vươn lên bằng người thì càng không ai được phép quên những người vì nước quên thân. Cùng với việc mau chóng giải đi nỗi đau do hậu quả chiến tranh để lại, là việc phải thể hiện lòng kính trọng ghi ơn sâu nặng tới những người hy sinh vì Tổ quốc. Đó là đạo lý truyền thống của con người ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở nước mình. Những anh hùng liệt sỹ được nêu danh chỉ là một số tấm gương tiêu biểu hiện thân trong biển người tận trung với nước, tận hiếu với dân. Cách ứng xử thế nào là thể hiện nhân cách của từng người. Đôi chút lạ lùng thấy trong cuộc họp mặt này có một số người vào hàng lão trượng và từng có một quá trình cống hiến đáng ghi nhận. Nhìn những vẻ mặt hớn hở với những cái mồm móm mén nốc cạn chén rượu tây rồi há hốc ra cười khoái trá lại càng thấy xót xa trong số đó không ít người thản nhiên ăn mày vào dĩ vãng của đồng bào, đồng chí nhưng lại “vất cha nó quá khứ (của mình) vào đống rác bên đường mặc cho ruồi nhặng kéo đến làm tình đẻ dòi đẻ bọ chơi” (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai)! Suy cho cùng thì đó cũng là cái tình đời dung tục khi xã hội có sự đổi thay xáo trộn. Như ở Liên Xô, sau cuộc chính biến 1991, nhiều tượng đài lãnh tụ bị xô đổ, nhiều tấm gương anh hùng bất khuất trước quân phát xít tội phạm của loài người cũng bị làm vấy bẩn, như câu chuyện về người con gái Nga anh hùng Dôia bị vu là điên. Phan Huy Lê liền học đòi theo đó, mưu toan xô đổ tượng đài Lê Văn Tám. Cuối tháng 2/2005 tại Hà Nội ông ta công khai tiết lộ: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật! Tôi (PHL) đã và đang viết bài để công bố sự thật về nhân vật này trong thời gian sớm nhất”! Vậy mà mãi bốn năm sau, khi dư luận bức xúc, lờ đi không được, sau khi “tiếp cận với sự việc càng rõ ràng”, ông ta xuống nước: “Lê Văn Tám không phải là tên nhân vật lịch sử có thật (đã chắc chưa?) nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hy sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng”. Bá ngọ con ong! Vậy mà ông ta còn lý sự: “Mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học, khách quan, chân thực”. Sử học là chuyện liên quan tới con người, giữa thời hiện tại vẫn có chuyện cần tranh cãi huống chi thời quá khứ hỗn độn mù mờ mà ông đòi hỏi phải khách quan chính xác, thì sao không thể hỏi: Phan Huy Lê có đích thực là con của ông Phan Huy Tùng với bà Cao thị? Cho dù y học tiến bộ đến đâu thì nguyên lý “không có gì tuyệt đối” luôn là chân lý của khoa học khách quan!
Thua keo này bày keo khác, những người cùng hội cùng thuyền với ông ta bày ra câu chuyện liệt nữ Võ Thị Sáu “chập”, “khùng”, bị những người kháng chiến lợi dụng vào việc “diệt ác phá tề”, bị bắt vẫn “nổ” nên chịu án tử hình. Bị giam trong khám tối vẫn luôn miệng hát (những bài ca cách mạng) và khi đem ra pháp trường vẫn tỉnh queo, lại hái hoa cài lên mái tóc…! Chẳng lẽ tòa án của nước đại Pháp văn minh với những tên tuổi tỏa sáng toàn thế giới như Voltaire, Rousseau, Hugo… lại dễ dàng khép án tử hình một người con gái ở tuổi vị thành niên? Tinh thần bất khuất của người con gái vùng Đất Đỏ, ngay cả các thế hệ cách mạng tiền bối lúc đó đang bị cầm tù tại nhà lao Côn Đảo cũng tỏ lòng ngưỡng mộ và lấy đó làm gương. Người viết vẫn có cảm giác rùng mình mỗi khi nghĩ tới 13 liệt sỹ bị đưa lên đoạn đầu đài ở Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930. Ông Nguyễn Thái Học giơ tay chào mọi người với lời nhắn lại: “Rồi thế nào cách mạng cũng thành công”! Ông Phó Đức Chính nói: “Đại sự không thành chết là vinh”! và giật băng bịt mắt đòi nằm ngửa để nhìn lên cỗ máy chém khổng lồ lao xuống cổ! Cái gì đã làm con người trí thức ở tuổi 23 can tràng như thế? Người viết chợt nhớ tới mấy câu thơ của Chế Lan Viên: “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Một mái nhà xinh rủ bóng xuống tâm hôn/ Hạnh phúc chứa trong một tà áo đẹp”. Sự nghiệp của Cụ Hồ thành công bởi bằng việc làm và tấm gương đạo đức của mình, Cụ đã khơi dậy lòng yêu nước thương dân tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam và làm cho tính người trong mỗi con người lớn vượt trội lên. Phải chăng trong hoàn cảnh đặc biệt, người ta chẳng nuối tiếc gì khi được chết vì đại nghĩa? Khi liệt nữ Dôia hiên ngang bước lên giá treo cổ là báo hiệu ngày tận số của quân phát xít! Vào lúc hừng đông ngày 23/1/1953, khi liệt nữ Võ Thị Sáu hồn nhiên trước họng súng của bầy lang sói báo hiệu chỉ một năm sau đội lính Lê dương đó nhục nhã theo nhau xuống tầu về nước!
Trở lại cuộc bù khú chén chú chén anh giữa thành phố Hồ Chí Minh đang từng ngày từng bước đi lên. Miếng ăn quá khẩu thành tàn, khi quá chén rồi chẳng còn biết mình là ai nữa, tới mức xúc phạm tới vong linh anh hùng liệt sỹ thì đâu còn gì để gọi là nhân cách nữa!
Ông Nguyên Ngọc có nhớ ông từng nói: “Cái cốt yếu của văn chương là tính nhân đạo” và “Văn chương giúp cho con người không sa xuống thành con vật”. Những lời bộ sậu các ông đang nói có mang tính nhân văn nhân đạo hay không? Và ngay tại cái quán Sỏi Đá ngày hôm ấy, không khó nhận ra bao nhiêu con người đã sa xuống cấp do ông nhà văn đàn anh cho sập bẫy! Đấy là cái tài và cũng là công lớn để đời của ông ta!
Như nhà thơ Nguyễn Duy đấy, ông ta lỉn xỉn khoa tay múa chân lè nhè kể ra những chuyện nhặt nhạnh ở đầu đường xó chợ về một người con gái đã bị lũ đầu trâu mặt ngựa trói thúc ké vào cây cọc để một bầy ma quỷ mắt xanh mũi lõ nhằm thẳng vào cái thân hình bé nhỏ tội nghiệp ấy mà nhả đạn! Cách đây ngót hai chục năm, lúc sinh thời ông Võ Văn Kiệt, mọi người còn nghèo, giới văn nghệ sỹ càng nghèo, hẳn ông Sáu thì không. Nhà thơ Nguyễn Duy được thay mặt giới tài tử văn nhân đọc một bài thơ than thân trách phận nửa nạc nửa mỡ gây cười, láu cá thọc lét mấy ông lãnh đạo. Lúc ấy nhìn Nguyễn Duy tội nghiệp mà dễ thương, tấm thân gày, da xám xạm, giọng hài hài, bộ ria cụp mà chẳng ai chê. Bây giờ vẫn con người ấy, hồng hào, béo tốt, ria nửa đen nửa bạc, cười nham nhở, giọng đầy hơi rượu nửa đểu nửa hài, thiên hạ kháo của chìm thì không biết nhưng của nổi ông ấy có hai cái nhà giữa thành phố đấy! Tất nhiên là với mấy tập thơ hài hài tếu tếu nửa thành thị nửa quê mùa mà chẳng chứa nội dung gì lớn lao và với mớ rổ rá thúng mủng chổi cùn rế rách đề thơ bán rao đầu hè quán sách thì chẳng thể có được cơ nghiệp ấy. Chỉ kẻ tiểu nhân mới ganh với người giàu. Nhưng giàu mà chẳng thành nhân là họa!
Tiến sỹ Nguyễn Quang A thoạt nhìn hao hao giống Năm Cam. Tuy là giới anh chị nhưng y sướng từ thuở nhỏ nên mày râu nhẵn nhụi dễ lừa đời và quả là y đã làm cho mấy vị đại quan chết nổi chết chìm. Còn ông A có một tuổi thơ mồ côi vất vả vẫn còn in vết hằn trên mặt thì dù có nên danh nên giá lắm của nhiều tiền nhưng chẳng có phép màu nào xóa đi, chẳng thể lừa ai! Tôi từng một thời là lính chiến, sống chết với anh em bộ đội, từng nhiều lần chôn cất anh em thương binh tử sỹ trên rừng sâu hay dưới bưng biền. Nhiều huống cảnh thương tâm lắm, chẳng nên mang nặng trong lòng. Tuy nhiên tôi cũng biết có những cái chết oanh liệt oai hùng nhưng có những cái chết hoàn cảnh cần xá cho nhau. Giữa trận mạc giao tranh, mấy ai chứng kiến được đồng đội mình ngã xuống thế nào. Gặp bạn nằm đấy thì bảo nhau tìm cách tải về thôi. Làm sao ông A biết tường tận lúc cha mình ngã xuống? Nhưng ông A đã được hưởng đầy đủ lộc đời. Tổ phụ, tiền nhân mong có đứa đích tôn nhang khói. Xã hội mong có được một truyền thống như mạch nước ngầm trong trẻo. Một nhà khoa học háo danh hiếu thắng mà thành tri kỷ tri âm với một nhà văn lão làng tài ba công tích, dọc ngang nào biết trên đầu có ai, chẳng biết liệu có bền?
Xã hội đang ở trong giai đoạn chuyển mình lắm điều bức bối. Thiếu gì chuyện để nói để bàn, bày cách cho xã hội đi lên. Người dân đủ tỉnh táo phân biệt điều hay dở, đúng sai. Nhưng các nhà dân chủ nhằm mục tiêu trái đạo, làm cho xã hội bất ổn để đục nước béo cò. Chẳng lạ gì các ông khi đương chức đương quyền thì miệng ngậm tăm, chỉ biết cúi mặt mà ăn. Nhưng khi hết thời thì tức khí bày trò đòi quyền tự do dân chủ cái mà các ông đã được hưởng chán chê! Nhà văn Đông La ví von nghe ra hợp lý hợp tình: Cái nhà dột thì chịu khó lợp chắp vá lại, ở tạm rồi cũng qua, chừng nào tích góp đủ sức đủ tiền thì làm mới lại. Chớ nghe ai phá phách banh ra giữa lúc người khôn của khó thì toàn gia lâm cảnh màn trời chiếu đất, nheo nhóc bơ vơ, chẳng thể trông chờ vào một mái ấm tình thương của ai hứa hão! Nhìn người ngẫm ta lấy đó làm gương để tự lo liệu cho mình.

                                  Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/3/2017

                             

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017

“KHỐI U” NGUYÊN NGỌC

ĐÔNG LA
“KHỐI U” NGUYÊN NGỌC


Có một lượng độc giả khủng trong hai ngày liên tiếp vào đọc bài tôi viết về cơ sở khoa học của phương pháp ăn chay chống ung thư được thể hiện bằng đồ thị:
          Như vậy chữ nghĩa của tôi cũng được quan tâm đấy chứ, nếu hỗ trợ được bạn tôi chiến thắng ung thư, cung cấp cho mọi người những tri thức phòng ngừa ung thư thì về đạo, tôi đúng là đã gieo được một nhân lành. Nhưng hơi tiếc ở chỗ lượng người đọc nhiều không phải ở Việt Nam mà là Mỹ, có lúc cả ngàn người Mỹ vào đọc trong khi Việt Nam chỉ có mấy chục người mà thôi.
          Phải chăng do nước Mỹ phát triển hơn, người Mỹ hiểu nên quan tâm đến những vấn đề khoa học hơn, hay chỉ đơn giản là chuyện trang blog của tôi ở VN bị bọn xấu nào đó chặn, ít người vào được?
          Tính viết thêm một bài nữa về chuyện chống ung thư thì lại có trò bôi bẩn Võ Thị Sáu. Có một nhân vật kỳ này không phải chủ trò nhưng là chủ yếu, luôn là bệ đỡ, cột chống cho những trò quấy rối tương tự đã xảy ra. Đó chính là Nguyên Ngọc. Chợt nhận ra có một sự tương đồng, đang viết về chuyện chống ung thư nên thấy Nguyên Ngọc cũng y như một khối u vậy, không phải khối u của cơ thể mà là khối u của thể chế. Từ khi phát tác đến nay, “khối u Nguyên Ngọc” đã gây ra tác hại không ít và cũng như ung thư, việc ngăn chặn không hề dễ dàng.
***
  Từ một nhà văn được thể chế vinh danh, ưu ái, trọng dụng, 1979, với cương vị Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà Văn VN, trong bản “Đề dẫn”, Nguyên Ngọc viết:
“Hôm nay, trong hội nghị này, chúng ta… với tư cách là những người cầm bút của Đảng, tức là những người vừa là những người chiến sĩ của Đảng trên mặt trận văn học, vừa là bộ phận tham mưu của Đảng trên mặt trận này, chúng ta nhận rõ hơn trách nhiệm của mình, cố gắng cùng nhau khắc phục những thiếu sót đó, đưa văn học ta tiến lên ngày càng ngang tầm nhiệm vụ của nó”.
Tiếc là Nguyên Ngọc đã mắc trọng bệnh, đã bị đột biến mà không biết, nhưng không phải đột biến gen mà là đột biến nhận thức.
Nguyên Ngọc tuyên bố:
Cái cốt yếu của văn chương là tính nhân đạo” và “Văn chương giúp cho con người không sa xuống thành con vật”.
Nói thì như sách nhưng ông ta đã mở màn cho cuộc đổi mới văn chương bằng cách cho đăng và lăng xê những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ngược với tuyên bố trên. Chưa hết, Nguyên Ngọc còn cho đăng những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp bôi đen lịch sử. Như có truyện miêu tả Vua Quang Trung như tay du côn và cho “Nguyễn Ánh mới là nòi vương giả”. Chính khuynh hướng “lật đổ thần tượng” đó đã làm Nguyên Ngọc bị “sa thải”, kéo theo ông “sếp” của mình là Trần Độ đổ theo. Từ đó Nguyên Ngọc trở thành người bên lề, quấy rối lung tung, và việc bôi bẩn hình tượng Võ Thị Sáu hôm nay chỉ là một bước tiếp theo.
Nhưng bọn người như Nguyên Ngọc làm được gì khi thực tế, sân bay Mường Thanh chiều 10-2-1993, sau đúng 39 năm, 1 chiếc máy bay mang cờ nước Pháp đã chở Tổng thống  Francois Mitterrand hạ cánh tại Điện Biên Phủ. Ông cùng đoàn tùy tùng đã tới di tích hầm de Castries. Những người đi cùng chứng kiến vị tổng thống bồi hồi không nói nên lời, với khung cảnh đó, chắc chắn ông chỉ có thể nghĩ về một trang sử bi thương mà phía sai lầm chính là nước Pháp. Nhưng ông đã không né tránh mà đã dũng cảm đến  tận Điện Biên Phủ, nơi nước Pháp đã đại bại nhục nhã sau 100 năm xâm lược Việt Nam. Ông đến không phải vì cay cú, tiếp tục thù hận mà muốn khép lại quá khứ, đồng thời mở ra chương mới trong quan hệ Pháp - Việt. Hồi ấy, chính ông đã cho rằng cần chấm dứt lệnh cấm vận đối với Việt Nam; mong muốn Việt Nam sẽ trở thành một “con rồng mới”. Ông nói: “Tôi khuyến khích các công ty Pháp tiến hành việc chuyển giao công nghệ, cho phép Việt Nam đạt được cái mà mọi người vẫn gọi là “phát triển của những con rồng mới”. Ông cũng nhắc đến kỉ niệm được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người sang thăm nước Pháp năm 1946 và bày tỏ sự khâm phục với ý chí giành độc lập của dân tộc Việt Nam”.
          ***
          Như vậy đến kẻ thù người ta còn nhận ra sai lầm, đã quay lại Việt Nam với thiện chí mong muốn Việt Nam phát triển, thì những người Việt Nam hành động như Nguyên Ngọc, như băng nhóm của Nguyên Ngọc, chỉ có thể là loại mất hết nhân tính mà thôi!
          16-3-2017

          ĐÔNG LA

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017

MỘT CHÚT VỀ ÔNG NGUYỄN DUY DIỄN VIÊN CHÍNH TRONG MỘT TRÒ LỐ

ĐÔNG LA
MỘT CHÚT VỀ ÔNG NGUYỄN DUY
DIỄN VIÊN CHÍNH TRONG MỘT TRÒ LỐ

Trên mạng đang lan truyền bài  hạ-bệ-võ-thị-sáu-sự-tởm-lợm-thay-cho-nhóm- “nhân sĩ trí thức” của Nguyễn Biên Cương.  Tại quán café Sỏi Đá ở phố Ngô Thời Nhiệm, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Quang A là người trực tiếp quay clip, dẫn dắt câu chuyện cho ông nhà thơ Nguyễn  Duy diễn trò trước đám Nguyên Ngọc, Hoàng Hưng, Bùi Chát v.v…
Như vậy, những kẻ  quấy rối chống phá đất nước đã không từ một thủ đoạn và trò đểu nào. Tiếp theo những chuyện bịa đặt, từ chuyện ở Hội nghị Thành Đô ta xin làm một tỉnh của Trung Quốc, chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh là lính Trung Quốc “Hồ Quang” do Đảng CSTQ dựng lên để “lãnh đạo” nhân dân Việt Nam, đến chuyện Trương Tấn Sang quay cop khi đi thi đã bị cô giáo bắt và đã cho người giết cô giáo đó, lâu đài của bà Bhutto ở Pakistan là nhà ông Nguyễn Tấn Dũng, v.v… và hôm nay là chuyện bôi bẩn hình ảnh Võ Thị Sáu.
Đất nước ta còn nhiều chuyện không tốt, chúng ta cần những người phản biện có tâm trí, như cần bác sĩ chẩn bệnh và kê toa thuốc phù hợp, vậy những kẻ xuyên tạc đấy tính đểu cáng như bọn người trên thử hỏi đất nước cần gì ở họ?
Nguyễn Duy là vai chính của trò diễn lần này. Tôi từng cùng ở khu tập thể của Viện Công nghiệp Dược hơn 10 năm với ông Thái Thăng Long mà Nguyễn Duy khá thân với Thái Thăng Long nên tôi đã gặp nhiều lần. Hồi đó tôi còn trẻ và mới thập thò viết, Nguyễn Duy lớn tuổi hơn và đã nổi tiếng từ hồi ở trong rừng. Tôi hoàn toàn không có một ấn tượng xấu nào về Nguyễn Duy, chỉ lạ là cả từ hai phía giữa tôi và ông này hoàn toàn dửng dưng, đúng là “Vô duyên đối diện bất tương phùng”. Phía tôi, tôi tin là tôi có những tri thức mà Nguyễn Duy có học cả trăm năm cũng không biết nên tôi không việc gì mà phải lụy người dốt hơn mình. Nhưng Nguyễn Duy lại là người đã nổi tiếng mà tôi thì còn vô danh. Có điều với Chế Lan Viên, ông thuộc hàng tổ sư của nền văn chương hiện đại VN mà danh vị Chế Lan Viên so với Nguyễn Duy thì cũng như trái núi so với bãi cứt trâu, nhưng lần đầu đọc thơ tôi dự thi ông đã đề nghị trao giải, còn khuyên tôi vào Hội Nhà Văn TPHCM và chính ông đã chủ động đứng tên giới thiệu tôi. Có khi đến chơi, tiễn tôi ra cổng, ông còn chuyện trò 5, 10 phút mới cho tôi về. Với anh Hoài Anh cũng vậy, một người trong giới văn chương cho là “Bách khoa toàn thư”, khi tôi đến chỗ nào đó mà anh đang ngồi với mọi người thì anh sẽ bỏ sang ngồi riêng với tôi. Rất lâu về sau thì tôi nhận ra, thì ra những người có tri thức, có tư duy bác học thường quý tôi, còn dạng như Nguyễn Duy, ngoài chút năng khiếu còn đầu óc rỗng không, thì không. Văn chương chữ nghĩa của tôi là loại chữ nghĩa bác học còn thơ Nguyễn Duy là thơ nông dân. Nhưng chính Nguyễn Duy mới là người ăn may và thành đạt. Hồi Nguyễn Duy được giải thơ, rồi từ cái phao đó mà nổi danh, nước ta có đến 95% là nông dân, đến tận hôm nay thì tư duy tiểu nông vẫn còn thấm đẫm trong gen người Việt. Vì thế mà “Thơ Duy đậm chất đồng quê/ Cua, ốc, rơm, rạ mang về vinh quang”! Nhưng với tôi bài “Hơi ấm ổ rơm” của Nguyễn Duy không xứng đáng được giải vì cái đoạn kết này:
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người
Ý Nguyễn Duy là ca ngợi tình quân dân như bây giờ bọn xấu gọi là “văn nô” đấy, nhưng khen thế bằng mười chửi nhau, tức chửi cái tính vô cảm, ích  kỷ của bà mẹ, bởi cái hơi ấm ổ rơm có gì quý giá đâu mà chỉ dành cho bộ đội lỡ đường thôi, còn người khác lỡ đường thì “đâu dễ chia cho”  sao? Thật tiếc, giải nhất của cuộc thi ở báo Văn nghệ, Hội Nhà Văn VN, lại trao cho một bài thơ mà trong nghề văn gọi là “chưa sạch nước cản” như vậy!
Trong ban giám khảo chấm thi hồi đó chắc chắn có Chế Lan Viên. Tôi quen thân và suốt mấy năm cuối đời ông tôi thường đến chơi với ông, trong một lần chuyện trò có ai đó nhắc đến tên Nguyễn Duy, ông chỉ cười không nói đến Nguyễn Duy mà nói ý, ông luôn mở rộng cửa đón các thi sĩ sau ông đến chơi, tiếc là có những tên láu cá trà trộn mà ông không nhận ra. Phải chăng, khi chấm Nguyễn Duy được giải thơ hồi ấy, ông cũng đã mở cánh cửa của đền đài thi ca nhầm lẫn như thế?
Còn hai câu:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
          Bao “nhà phê bình” xuýt xoa khen trí tưởng tượng của Nguyễn Duy, còn tôi thì thấy Nguyễn Duy tả rất thực chứ có tưởng tượng gì đâu.  Bởi thực tế loài trâu bò đúng là nhận thấy rơm rạ có mùi mật ong thật nên chúng mới chén say sưa như thế!
          Và hôm nay cũng vậy, chỉ có đầu óc như Châu, bò mới bầy ra những trò nhố nhăng quấy rối như trên mà thôi!
          14-3-2017
          ĐÔNG LA