Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

CHÁY NHÀ RA MẶT… LÊ ĐĂNG DOANH VÀ LÊ MÃ LƯƠNG ĐÃ THÀNH LÊ BẤT LƯƠNG


Hôm nay đăng lại tiếp bài này
12-10-2019
ĐÔNG LA

CHÁY NHÀ RA MẶT… LÊ ĐĂNG DOANH
VÀ LÊ MÃ LƯƠNG ĐÃ THÀNH LÊ BẤT LƯƠNG

Phan Trí Đỉnh đã viết bài “AI RA LỆNH BẮN HAY KHÔNG BẮN?” đăng trên trang facebook của mình. Bài này đã được rất nhiều trang mạng thù địch với VN và rất nhiều kẻ chống phá Nhà nước VN đăng lại. Phan Trí Đỉnh kể:
         “Sáng 28/7 tôi được mời tham gia một cuộc gặp mặt, gồm một số lão làng như anh Thang văn Phúc – nguyên thứ trưởng BNV. Anh Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Viện kinh tế Trung ương, anh Vũ Quốc Tuấn nguyên trợ lý của Cụ Kiệt, anh Nguyễn Vi Khải , AHLLVT Lê Mã Lương … và nhiều vị tiền bối khác.
Thảo luận nhiều vấn đề nhưng tôi chỉ muốn kể một chút về chuyện Gac Ma 1988 và cuốn sách đang gây bão dư luận…
Chuyện tiếp ở cuộc họp, khi đến đoạn này thì một ông dân sự nói to : “Tôi biết người ra lệnh KHÔNG BẮN làm cả hội trường sững sờ. Nhìn lại thì đó là ông Lê Đăng Doanh.
Tôi may ngồi gần nên tôi quay sang nói: Bác kể xem nào. Ông Doanh kể: Hôm ấy tôi với vai trò là người giúp việc TBT Nguyễn văn Linh – ngồi ngay sau TBT nên tôi theo dõi hết.
Ông Nguyễn Cơ Thạch ĐẠP BÀN, NHƯ LÀ GẦM LÊN RUNG CẢ CỬA KÍNH: Ai ra lệnh “KHÔNG BẮN“ thì ông Lê Đức Anh trả lời “TÔI“. Ông Thạch quay sang ông Linh thì ông Linh ngồi im – không có ý kiến gì.
Có một ai đó chen vào : Họ đã chuẩn bị cho Thành đô 1990 từ lúc này”.
         Với an ninh của đất nước thì việc Lê Mã Lương và đồng bọn xuất bản cuốn sách xuyên tạc sự thật về Gạc Ma có thể ví như một vụ hoả hoạn, và vụ “cháy nhà này”, theo Phan Trí Đỉnh, đã lộ ra mặt … Lê Đăng Doanh!
Lê Đăng Doanh nguyên là Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương , từng làm thư ký kinh tế cho văn phòng của các nhà lãnh đạo Phạm Văn ĐồngNguyễn Văn LinhĐỗ MườiNguyễn Duy Trinh, là thành viên sáng lập của Viện nghiên cứu Phát triển IDS.
Theo BBC Việt ngữ, ngày 9.12.2015, Lê Đăng Doanh cùng với 126 người khác, trong đó có các nhân vật như  Nguyễn Đình Đầu Nguyễn Trọng Vĩnh Nguyễn Quang A Nguyễn Huệ ChiNguyễn Đình Cống Chu Hảo Tương LaiHuỳnh Tấn MẫmHồ Ngọc NhuậnTrần Văn Thọ Nguyễn Đăng Hưng Nguyễn Trung Phạm Xuân Yêm..., đã gửi một bức thư ngỏ đến Bộ Chính trị… đề nghị "đổi tên đảng  đổi tên nước … đồng thời nêu ý kiến "Thực tiễn của nước ta cũng như trải nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rõ sai lầm và thất bại của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin".
Như vậy Lê Đăng Doanh cũng thuộc nhóm “thư ký”, “trợ lý” cho mấy ông “cốp” triều đình như Tương Lai, Nguyễn Trung, v.v… , những người rất tích cực “phản biện” nhưng không hiểu vì dốt hay cố tình dốt mà “phản biện” lại thành ra phản bội. Đỉnh điểm là vụ họ đòi thay đổi hiến pháp của một thể chế mà nhờ nó họ mới có được bổng lộc và địa vị trong xã hội. Vì thế tôi đã gọi họ là bọn “quan hầu” như bọn quan hoạn thời phong kiến khi xưa. Nếu vua mà ngu và thất đức là sẽ thành con rối cho bọn quan hoạn giật dây, lũng đoạn triều chính.
Rất may VN ta, các vị lãnh đạo chưa có trường hợp nào như vậy, nhưng bọn quan hầu nói trên không biết vì tham vọng quyền lực chưa thoả hay ảo tưởng về trí tuệ “cố vấn”, đã dựa hơi “chủ” nhiệm kỳ trước, quấy nhiễu những vị lãnh đạo nhiệm kỳ sau không ít.
Năm 1988, ta đã coi TQ là kẻ thù, kinh tế lạm phát 800%, đất nước đã ở ngay miệng vực thẳm, nên các nhà lãnh đạo đã phải xin bình thường quá quan hệ với TQ nhưng chưa được. Với vụ Gạc Ma, nếu ta nổ súng trước và đánh trả quyết liệt, TQ mạnh hơn sẽ có cớ lấn chiếm, thử hỏi ta sẽ bị mất bao nhiêu biển đảo? Và nếu ta đối đầu với TQ đến tận hôm nay, thử hỏi nước ta sẽ ra sao? Nếu Lê Đăng Doanh hiểu vấn đề thì dù có chứng kiến chuyện ông Nguyễn Cơ Thạch đập bàn, phải hiểu là ông Thạch sai, còn ông Lê Đức Anh, người từng chỉ huy biết bao chiến dịch, trận đánh lớn nhỏ,  ông trả lời “tôi” là nhận trọng trách của một vị đại tướng Bộ trưởng Bộ QP, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Chính trị, vì những điều lớn lao, sống còn đối với đất nước, chứ hoàn toàn không phải vì ông hèn nhát. Tiếc là Lê Đăng Doanh cũng chỉ là một dạng quan hầu, lấy chí tiểu nhân đo lòng quân tử, nên đã tung tin đó ra với ý xấu để bọn bất lương lợi dụng chống phá đất nước. Và trong số đó có một ông tướng từng được phong anh hùng, qua những vụ ồn ào vừa qua thì tên ông ta là Lê Mã Lương đúng là đã thành Lê Bất Lương.
Qua video
(https://www.youtube.com/watch?v=4mjDNMUvG5I&feature=share), Đại tá Khuất Biên Hoà nói (tôi ghi lại ý chính):
“Tôi là đại tá… nhiều năm làm trợ lý cho cụ Đại tướng  Lê Đức Anh … lúc trên mạng nó rộ lên cái cuộc hội thảo mà Lê Mã Lương đứng ra nói hùng hồn cái chuyện Gạc Ma ấy… rất nhiều cán bộ, rồi mấy người con của bác Lê Đức Anh gọi điện cho tôi bảo anh Hoà anh có ý kiến… Lê Mã Lương nó nói lung tung… kết tội cả Bộ Chính trị, cả Bộ trưởng Lê Đức Anh… ý đồ của nó rất là rõ … những việc quan trọng Bộ trưởng Bộ  Quốc phòng phải thông qua Bộ Chính trị … việc này nó nói là ra lệnh “không được bắn” là nó lên án cả Bộ Chính trị và cụ Lê Đức Anh… Tôi mới gọi điện cho Lê Mã Lương… bảo “tại sao anh lại nói như vậy? …”  Lê Mã Lương nói kiểu xua đi, kiểu vô trách nhiệm … “Úi giời báo mạng anh quan tâm làm gì!”…  “Không quan tâm sao anh lại giơ mặt ra  đấy? Mà người ta phát đi phát lại … Anh là cấp trung đoàn trưởng làm sao anh nhận lệnh được của cụ Lê Đức Anh Bộ trưởng mà bây giờ anh bịa ra nói như thế? … Rồi anh lại lấy cái lời của một ông đã chết. Ai mà dựng ông đã chết lên mà hỏi được? … Anh nói một cách vô căn cứ là vô trách nhiệm … Xong (Lê Mã Lương) lại bảo “thôi thôi anh ơi báo mạng vớ vẩn không quan tâm nữa”… “Không được… anh phải chịu trách nhiệm , nếu mà anh còn cù nhầy như thế nhá … tôi ra Bộ Quốc phòng… tôi đề nghị thanh tra cái vấn đề Điện Biên... để xem Lê Mã Lương chấm mút, ăn ở đấy bao nhiêu?… Tôi sẽ đi đến cùng đấy … Nếu đúng như dự đoán của tôi … Tôi đề nghị tước danh hiệu anh hùng… khai trừ Đảng…  hạ cấp quân hàm … Nó (Lê Mã Lương) gạt đi “thôi thôi được rồi”. Không ngờ vừa rồi hắn vẫn quyết liệt, hắn làm cái cuốn sách … Nếu có định đăng vấn đề này cử một phóng viên giỏi đến đây, chú cùng với nó làm một bài cho ra ngô ra khoai, chứ thằng cha Lê Mã Lương, đằng sau nó chắc là có ai đó móc nối cho tiền nó, nó đứng ra nó phản lại cả quân đội, cả dân tộc này là không được…”
            ***
Lê Mã Lương từng không phải nổi tiếng mà là rất nổi tiếng với câu nói “Cuộc đời đẹp nhất là ở trận tuyến đánh quân thù”, từng trở thành hình tượng trong thơ, văn và phim ảnh.
Khi chúng ta mất nước, nước ngoài đã mang chiến tranh đến cho chúng ta thì hành động đánh quân thù đúng là hành động, nhưng cần nói cho chính xác hơn Lê Mã Lương từng nói là, “hành động có ý nghĩa cao đẹp nhất”!
Nhưng thực tế chiến tranh là tàn khốc, là máu chảy đầu rơi, là tốn người hao của, nên những người có trọng trách đối với mỗi quốc gia có lương tri, khi đất nước đang thanh bình mà có nguy cơ chiến tranh, đều phải tìm mọi cách để làm sao tránh được chiến tranh mà vẫn bảo toàn được lợi ích của đất nước. Cách ứng xử của các nhà lãnh đạo nước ta đối với Trung Quốc hôm nay là như thế. Và thế mới khó! Còn sĩ diện hão, hung hăng, hiếu chiến trong những ngày hôm nay, lại đẩy đất nước đến chỗ xương tan, thịt nát thì là “thằng khùng” chứ không phải là anh hùng như Lê Mã Lương khi xưa.
Los Angeles
5-8-2018
ĐÔNG LA

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

ANH HÙNG LÊ MÃ LƯƠNG LẠI BỊ CHỬI


ĐÔNG LA
ANH HÙNG LÊ MÃ LƯƠNG LẠI BỊ CHỬI

Theo Nguyễn Biên Cương (Blog Tôi Là Một Người Lính):
“Quân đội nên xem xét tước quân tịch, quân hàm với ông Lê Mã Lương?...
Tại cuộc “Tọa đàm khoa học về vùng biển Bãi Tư chính và luật pháp Quốc tế” do toàn gương mặt thân quen của nhóm người tự nhận là “nhân sỹ trí thức” tổ chức, ông Thiếu tướng Lê Mã Lương đã có màn độc diễn, chiếm diễn đàn… vấn đề nghiêm trọng nằm ở chỗ ông mượn diễn đàn này, lợi dụng danh nghĩa các cựu chiến binh để kích động chiến tranh, xúc phạm, miệt thị các tướng lĩnh quân đội như “tên lửa Việt Nam vươn đến Thượng Hải”, nào là “anh em phải chiến đấu để giữ đảo”, “nếu không kiện, để mất Bãi Tư chính thì ông sẽ cầm đầu anh em Quân đội đến hỏi thăm Bộ Ngoại giao”, xúc phạm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “không biết đọc bản đồ”, “không ra thực địa”, miệt thị Chủ nhiệm TCCT “chưa trải qua chiến tranh”, cho đến các tướng lĩnh quân đội đều dốt, kém hơn anh ta… Trên thực tế, dù mang danh là cựu tướng lĩnh cấp cao trong Quân đội, nhưng ông lại thường hay giao du và bày tỏ sự ủng hộ hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự của một số cá nhân, hội nhóm chống đối cực đoan, manh động, quá khích mà các phương tiện truyền thông Nhà nước nhiều lần cảnh báo…”
“… sau phát biểu chấn động "sẽ cầm đầu anh em quân đội đến hỏi tội Bộ Ngoại giao" nếu để mất Bãi Tư Chính của tướng Bảo tàng Lê Mã Lương nhận được khá nhiều sự tán thưởng của đám lề trái… để thể hiện mình, và chứng minh mình cứng cỏi, mình quyết liệt nhất, vị tướng ấy đã không ngần ngại nói ra...  Và rồi từ cái "nếu..." có phần khiên cưỡng ấy, ông ta lại thi triển một thứ tinh thần ăn thua, hèn kém và sặc mùi dân tuý hèn hạ... Tại sao ông ta lại chỉ kéo anh em quân đội đến bộ Ngoại giao trong khi chức năng bảo vệ tổ quốc lại là của Quân đội? Phải chăng Ngoại giao đang có lỗi và trở thành nơi đổ vạ khi nhà nước và nhiều bộ, ngành ưu tiên vấn đề đấu tranh ngoại giao trong bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông?”
Xin đăng lại bài viết cách đây 1 năm khi còn đang vi vu bên Mỹ.
TPHCM
11-10-2019
ĐÔNG LA
ĐÔNG LA
VỀ ÔNG TƯỚNG MỘT MẮT
VÀ CUỐN SÁCH “GẠC MA”

Thông thường người ta mất một mắt thì khả năng nhìn sẽ giảm nhưng khả năng nhận thức vẫn còn nguyên vẹn nếu bộ não còn nguyên; với Lê Mã Lương, thật tiếc, qua sự kiện “Gạc Ma” chứng tỏ ông “tướng bảo tàng” khả năng nhận thức cũng đã bị “mẻ” luôn một nửa, mà “sự thật” được nhận thức được có một nửa thì còn gì là sự thật nữa. Vì thế thật tội nghiệp cho ông ta khi ông ta vẫn không hiểu cái việc “hàng ngàn người vào chửi bới tôi vô văn hoá, gọi tôi là thằng chột, thằng mù???” là do chính ông ta chứ không phải do Tướng Hoàng Kiền “đã viết những lời lẽ cáo buộc và xúc phạm tôi”.
Trong bài “phản pháo” Tướng Hoàng Kiền Lê Mã Lương khoe:
“Vào tháng 7/2013, tại hội thảo “Những vấn đề về chủ quyền Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa” do giáo sư Nguyễn Khắc Mai – Nguyên phó Ban Dân vận Trung Ương, Chủ tịch Trung tâm Minh Triết Việt Nam chủ trì gồm 60 nhà nghiên cứu nổi tiếng và nhà báo”.
         Tham gia một cuộc hội thảo do một người chủ trì như vậy, một đảng viên, tướng lĩnh, anh hùng LLVT như Lê Mã Lương đúng là mù chính trị. Bởi Nguyễn Khắc Mai trên BBC, 9 tháng 2 2015, đã trả lời phỏng vấn BBC về vấn đề tối quan trọng “Đảng nên chọn Tổng bí thư kế tiếp thế nào?” như sau:
“"Đấy là cái hy vọng của chúng tôi và chúng tôi cũng đang mong muốn là xu hướng ấy nó sẽ xảy ra là làm sao chọn được một Tổng Bí thư mà có thể nói là không lú lẫn như anh Trọng (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) hiện nay”.
Tôi đã phải nhận xét như sau: “Tôi thật ngạc nhiên một ông già U90, từng là Vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương, một ban của Đảng, lại nói về TBT Đảng của mình một cách “du côn” như vậy. Giờ còn làm giám đốc một trung tâm minh triết nữa, thì theo tôi, minh triết của Nguyễn Khắc Mai là một thứ “minh triết du côn”!”
         Lê Mã Lương khoe tiếp:
“Tôi đã phát biểu nguyên văn như sau: “…Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như (Trung Quốc) đánh chiếm đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa.” “…Trong một cuộc họp của BCT, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch (Phó Thủ Tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao) đập bàn ai ra lệnh bộ đội không được nổ súng?” Đây là thông tin tôi tìm hiểu được trước đó và không liên quan gì đến quan điểm trong quá trình thực hiện cuốn sách lịch sử Gạc Ma – Vòng Tròn Bất Tử”.
         Với quần chúng thì chuyện người ta không thể hiểu chính xác, sâu sắc những khái niệm “diễn biến hoà bình”; “những phần tử cơ hội, thoái hoá, biến chất”; “những kẻ du côn, lưu manh chính trị, đón gió, trở cờ, phản trắc”; v.v… là chuyện bình thường, nhưng với cương vị là một vị tướng của QĐND VN mà thái độ Lê Mã Lương thể hiện trong đoạn viết ở trên chứng tỏ Lê Mã Lương cũng mù về tình hình an ninh của đất nước, đã to mồm cố tình nói leo theo bọn phản trắc, chống phá cuộc sống thanh bình của nhân dân.
         Để chống phá Việt Nam, những nhóm người còn ôm hận “mất nước” được sự tiếp tay của bọn cơ hội, trở cờ, phản trắc luôn có chủ trương bôi bẩn những người có công lao to lớn trong sự nghiệp thống nhất, giành lại chủ quyền của đất nước chúng ta. Chúng dựng chuyện, xuyên tạc, bôi bẩn từ Bác Hồ trở xuống. Chúng dựng chuyện những cuộc đối đầu giữa các nhà lãnh đạo với nhau, trong đó sự kiện Gạc Ma là sự đối đầu giữa ông Nguyễn Cơ Thạch và ông Lê Đức Anh. Nếu quả thực có chuyện ông Nguyễn Cơ Thạch “đập bàn” thì chính ông Nguyễn Cơ Thạch đã sai. Thứ nhất, vì thực tế không có ai “ra lệnh cấm nổ súng” mà chỉ có chuyện “cấm nổ súng trước” tạo cớ và khiêu khích quân TQ hành động lấn tới, nguy hiểm và tai hại hơn. Nếu có lệnh cấm nổ súng sao quân ta cũng làm phía Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, bắn chết 24 lính TQ và giữ được bãi đá Colin, bãi đá Len Đao, chỉ để mất bãi đá Gạc Ma. Thứ hai, giả sử hồi đó ta đối đầu với TQ như ý ông Nguyễn Cơ Thạch, đánh tổng lực, rồi giữ nguyên sự đối đầu với TQ kéo dài đến tận bây giờ, thử hỏi nước ta có được như hôm nay không?
         Lê Mã Lương đã hoàn toàn mù tịt, vì dốt, vì ta đây đã cố tình nói leo theo bọn xấu vin vào chuyện “Nguyễn Cơ Thạch” đập bàn để chứng tỏ cho cái luận điệu chúng luôn cho các nhà lãnh đạo VN “bán nước” cho TQ mà thực tế hoàn toàn không phải như vậy.
         Là một vị tướng, lẽ ra Lê Mã Lương cần phải hiểu, cách ứng xử của một đất nước phải tuỳ vào thế và lực và tuỳ theo tình hình cụ thể của từng giai đoạn. Nước ta hồi ấy, với hậu quả tàn khốc của chiến tranh, tay trắng, nền sản xuất tiểu nông, khoa học công nghệ lạc hậu, nguyên vật liệu, quy trình sản xuất không có, Mỹ và phương Tây cấm vận, chiến tranh hai đầu biên giới, đang đối đầu với Trung Quốc, mất chỗ dựa khi Liên Xô và cả hệ thống XHCN tan vỡ, cả hai miền đột ngột mất nguồn viện trợ lớn, dẫn đến nền kinh tế với siêu lạm phát kéo dài từ năm 1985 đến 1988 từ 500% đến 800%! Nước ta thực sự đứng trước bờ vực của sụp đổ và hỗn loạn. Chính vì vậy chúng ta buộc phải bình thường hóa quan hệ không chỉ với TQ mà còn với cả Mỹ và tất cả các nước trên thế giới. Và theo tôi điều này chính là một trong những điều chủ yếu khiến các nhà lãnh đạo nói chung lúc đó, chứ không riêng gì ông Lê Đức Anh, có chủ trương không khiêu khích phía TQ, ứng phó với TQ bằng nhiều biện pháp, tránh đối kháng.
         ***
         Từng phát biểu trong cuộc hội thảo do “nhà minh triết du côn” Nguyễn Khắc Mai chủ trì như trên, là chủ biên cuốn sách về Gạc Ma, Lê Mã Lương để nguyên ý “có vị lãnh đạo ra lệnh không nổ súng” trong cuốn sách, vậy mà Lê Mã Lương cho là “hai chuyện không liên quan”, chứng tỏ thần kinh Lê Mã Lương đã có vấn đề “thần kinh”. Vì vậy mà Lê Mã Lương đã thể hiện mình đúng là một kẻ cãi chầy cãi cối trước những lý lẽ, nhân chứng, sự thật không chỉ của Tướng Hoàng Kiền mà của nhiều người trong cuộc như Tướng Hoàng Kiền đã viết:
“Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh nói qua điện thoại với tôi: Lê Mã Lương nói bậy, ông ấy biết gì về Hải quân, về sự kiện Gạc Ma mà nói. Nói như vậy là việc tầy đình, không phải là chuyện nhỏ đâu. Những người chỉ huy của Hải quân khi ấy trừ Đô đốc Giáp Văn Cương mất, còn lại đều còn sống cả. Tôi trực tiếp chỉ huy đây, Tổng cục chính trị phải kiềm tra chấn chỉnh ông Lê Mã Lương chứ để nói bậy bạ như vậy là không được…; “… nêu lên lời phát biểu của thiếu tướng Lê Mã Lương trên mạng về lệnh không được nổ súng. Tất cả đều nói Lê Mã Lương nói bậy. Anh Trần Quang Khuê phản ứng gay gắt nhất nói là Lê Mã Lương nói láo, đề nghị Thiếu tướng Hoàng Kiền viết bài phản bác đăng lên mạng. Tôi đã viết nhiều bài phản đối ý kiến cho rằng có lệnh “ Không được nổ súng””.
Los Angeles
         17-7-2018
ĐÔNG LA



Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2019

TÌM QUÊ


Ở Sài Gòn thường 11-12 giờ đêm tôi mới đi ngủ, về quê ở nhà cô cháu gần nhà của ông bà mà tôi về tu sửa, 8-9 giờ tối đã ngủ rồi; nhưng ngủ cũng có cữ, nhiều đêm tỉnh dậy mới 1-2 giờ khuya. Một lần bừng tỉnh, qua ô cửa sổ tôi thấy ánh trăng vằng vặc; trăng ở quê sáng hơn trăng thành phố; ra ban công tôi thấy trăng tròn vành vạnh, thì ra chính là đêm Tết Trung thu. Ban ngày nắng nóng hầm hập như tháng sáu, chẳng có dấu vết gì của “mùa thu lá bay, lá vàng rơi, gió heo may” cả, chỉ giữa đêm khi gặp lại vầng trăng rằm tháng 8 tôi mới thấy lại hình ảnh những mùa thu xưa ở tuổi ấu thơ. Tôi nhớ đến câu chuyện tôi viết về quê tôi tận từ năm 1995
ĐÔNG LA

TÌM QUÊ

Mỗi lần về thăm quê, rôi lại có cảm giác như phải đi tìm quê trên quê hương của mình. Đó là quê xưa. Ngày ấy, quê hương như một khoảng râm mát yên lành. Mỗi người đi xa trở về ai cũng muốn ngợp vào đó để mà quên đi những chặng đường đời đầy nắng lửa. Quê hương như thơ mộng hơn, thần tiên hơn. Mỗi ngõ nhỏ, mỗi lùm cây, mỗi bờ chuôm, bờ ao… đều có những sự tích, đều có phủ một lớp sương khói vô hình linh thiêng. Đi đêm trẻ con rất sợ ma…
Bây giờ không thế nữa. Quê tôi như đã thị trấn hoá. Các nhà mái ngói, mái bằng đã thay thế những ngôi nhà lợp rạ ngày xưa. Đó là một điều tốt. Có một ai lại không muốn quê mình phát triển? Nhưng có điều, đã có một vẻ trần trụi, xô bồ thay thế cho những gì tươi mát, yên bình ngày xưa. Người ta đã vặt trụi thiên nhiên như vặt trụi đi những kỷ niệm. Nó như là một kết quả của sự cằn cỗi hoá tâm hồn con người. Chỉ còn lại những tham vọng, những ganh đua. Hình như trẻ con bây giờ không còn chơi những trò chơi hồn nhiên thuở nào. Những cây đa um tùm râu rễ như những cây cảnh khổng lồ, tuyệt đẹp không còn; những ao hồ ngát hương sen từng tắm mát tuổi thơ bao thế hệ cũng không còn; lúc nào lòng cũng cạn trơ để người ta lấy đất đóng gạch. Cái sân kho rất rộng thì thành sân phơi gạch lổng chổng, nơi ngày xưa, khi ông trăng tròn xoe đậu trên đầu rặng tre đầu làng, chúng tôi hồi hộp đợi những quả chuối, những múi bưởi của Tết Trung thu. Ngay ngôi chùa làng linh thiêng cũng không còn yên tĩnh nữa. Bởi cả cái khuôn viên mênh mông đã được chia cho dân làng làm nhà. Nơi từng có giếng nước, cây si mà người ta bảo có tổ một con rắn thần trắng, mào đỏ, dài đến hàng chục mét…
Ngôi chùa vẫn còn đó, sạm mốc, già nua, lặng lẽ; những sự tích dần trôi đi trong lãng quên.

***
Còn trẻ, người ta ít nghĩ đến quá khứ. Nhưng càng lớn người ta sẽ càng nghĩ nhiều hơn, nhất là khi những giá trị vật chất không còn làm điên đầu người ta. Người ta nghĩ đến cha ông, đến tổ tiên, và xa hơn, nghĩ đến lịch sử. Đến với lịch sử, ta như được sống một cuộc sống mấy ngàn năm.
Hồi nhỏ, trong mấy anh em, tôi học khá nhất, nên thường được ông nội giao cho một nhiệm vụ quan trọng, trong tiết Thanh Minh cầm một cái nùn rơm để dấm lửa và một bó hương (nhang) rất to đi rẫy mộ cùng ông. Những buổi sáng trong mát kỳ lạ, cả cánh đồng thơm ngát mùi hương đặc trưng. Ông đã giao cho tôi cai quản toàn bộ số mồ mả của một trong ba phái thuộc chi một của dòng họ Nguyễn Huy lớn nhất ở làng. Đến mỗi ngôi mộ, rẫy cỏ, thắp hương, khấn vái xong, ông giải thích tường tận lai lịch từng người đã khuất. Có một ngôi, ông bảo ông cụ này ngày xưa học giỏi lắm, bởi mộ của cha ông cụ được chôn gần một cây đèn thần.
Ông nội tôi tên là Yết, mặt vuông chữ điền, lông mày dài, khóe miệng rất sắc, râu dài, lưng gù gù như lưng gấu, nước da màu đồng hun, có cá tính cứng như thép. Ông từng một thời ngang dọc, từng được đi máy bay vào Nam, sang Lào, qua Miên… Không hiểu sao tôi luôn thấy ông nội tôi già nhất trên đời, mặc dù có biết bao người nhiều tuổi hơn ông. Thế mới biết dấu ấn tuổi thơ mới sâu đậm làm sao, cảm tính của một con người cũng nhiều ấn tượng riêng tư. Ông tôi làm việc rất nhiều, làm đến tận khi chết thì thôi. Lúc nào tôi cũng thấy ông, lúc thì xúc bùn dưới ao đổ vào gốc tre, gốc chuối; hôm thì đi cuốc ruộng. Hơn 70 tuổi ông còn giật được bằng khen của tỉnh về chuyện cuốc ruộng, được thưởng mấy con ngan và bao nhiêu cái khăn mặt tôi không còn nhớ. Nhưng ông trọng sự học. Ông không cho cha tôi làm như ông. Nên ở nhà quê mà cha tôi gần như không biết làm gì, “mà cũng lười”- mẹ tôi thường nói thế. Nhưng cha tôi biết một ít tiếng Pháp và có bằng y sĩ. Ở quê tôi, thời cha tôi mà được như vậy rất hiếm, ông chính là người đầu tiên có học vấn về Tây Y.Tôi nhớ hồi ấy ông nội tôi hay nói với chúng tôi: “Tiên sư chúng mày, ông mà thấy chữ của ông trong hố xí là ông giết !” Chữ của ông là chữ nho, ông học chữ nho, từng học giỏi nhất nên được ông đồ ở làng gả con gái cho. Tôi có lỗi với ông, không làm được điều mà ông đã kỳ vọng. Tôi đi bộ đội, rồi sống xa quê nên số mồ mả ngày xưa mà ông đã giao cho tôi trông nom đã quy tập vào nghĩa địa từ hồi nào mà tôi không biết, tôi cũng không biết thất thoát thế nào mà chỉ còn có dăm chiếc. Cả mộ bà nội tôi cũng không còn. Khi xây mộ cha và ông nội, anh em tôi đã phải xây một cái mộ vong cho bà.
Tôi cũng nhớ thấp thoáng, hồi nhỏ ông tôi có bắt tôi ghi ngày giỗ, văn khấn và nói về một bản ngọc phả gì đó. Còn là trẻ con nên tôi chẳng thấy có gì quý giá nên cũng chẳng nhớ làm gì cho mất công. Khi lớn khôn, tôi rất tiếc. Bởi trong ngọc phả đó đã cất giữ những bí mật của thời gian, một thời gian đã hàng ngàn năm trôi qua nơi quê hương tôi. Mãi vừa rồi, không ngờ một ông già ở làng đã đưa cho tôi bản ngọc phả ấy. Tôi mừng như gặp lại một vật báu. Bản ngọc phả được viết bằng chữ nho trên giấy dó đà úa vàng và sờn mòn theo thời gian. Đó là bản gốc hay bản sao? Nếu là bản sao thì ai sao, sao từ bao giờ? Chắc không ai rõ. Nhưng có lẽ, những điều ghi chép trong đó có thể là sự thât. Bởi nó không phải được các cụ ở làng tự viết ra. Mà nó được môt học giả cách đây hơn 500 năm (đời Hồng Đức, nhà Lê sơ) viết về một khoảnh khắc khác cách đây gần 800 năm (đầu nhà Trần). Nếu đúng vậy, có ai ngờ rằng mảnh đất con con, heo hút này cũng là một chúng nhân; lịch sử oai hùng của một dân tộc cũng đã để lại những dấu vết nơi đây. Rất may là, hay do cơ duyên mầu nhiệm, trong giới nhà văn, tôi từng rất thân thiết với anh Hoài Anh, được cho là “một Bách khoa toàn thư”, anh rất giỏi chữ nho nên dễ dàng dịch giúp bản ngọc phả đó cho tôi.

***
Bản ngọc phả ấy viết rằng:
Triều Trần, thời vua Thái Tôn đang lúc thịnh trị, ở động Sài Sơn (Núi Thầy) huyện An Sơn, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây có một nhà họ Hoàng tên Mi, lấy người cùng động là Đỗ Thị làm vợ, duyên cầm sắt không hẹn mà gặp. Trải nhiều đời, lấy nghề thuốc làm điều thiện nhỏ, một mảy may điều ác cũng không làm. Đến vợ chồng Hoàng công, một chút hại người cũng không nghĩ đến, một mảy lợi riêng cũng không để lòng. Địa phương đều ca ngợi là người tốt. Nhưng vợ chồng ông tuổi đã cao mà vẫn chưa có con trai, con gái. Hai người rất buồn. Một hôm, vào ngày húy nhật Tiên Tổ, vợ chồng nhìn nhau mà than rằng: “Tội bất hiếu có ba, không con là lớn nhất, một mai biết cậy ai giỗ chạp Tổ Tiên, trông nom phần mộ?! Chi bằng tán tài làm phúc, cầu có con nối dõi mới thỏa lòng, trời hẳn phù hộ cho”. Nghĩ vậy làm liền, phàm các đền thần, chùa Phật, đều đến quyên cúng, lập đàn cầu đảo thiên địa, chư Phật chứng minh. Ngày thì hương hoa dâng hiến, đêm thì tụng niệm chân kinh, tin rằng người làm điều thiện trời ắt đền đáp. Một ngày khí  trời mát mẻ, vợ chồng ông nằm ở phòng chính, chập chờn thiếp ngủ, ông bỗng mộng thấy một tòa điện vũ nguy nga, trưng bày la liệt những vàng bạc, châu báu, ngọc quý, kỳ trân dị bảo, không thể có ở thế gian. Ông liền lấy trộm một vật kỳ trân giấu trong tay áo, chưa kịp trở ra, thì thấy một quan nhân áo xanh, mũ đỏ nói: “Đây là chốn thâm nghiêm, bảo vật ở Quỳnh cung trên đời, đều có hai viên thư hùng, nay đem viên hùng cho ngươi để làm gia bảo. Ngày sau ắt sinh quý tử”; lại còn đưa tặng một bài thơ. Ông bèn hành lễ, nhận bài thơ, rồi mở ra xem thì thấy có bốn câu:
Kỳ trân bảo vật hứa hoàng gia
Sinh nhất nam hề đích thị kha
Tích thiện chi gia thiên tứ phúc
Ức niên vĩnh viễn đối sơn hà
Ông ghi nhớ chuyện trong mộng. Sau đó thấy ứng nghiệm, Đỗ Thị có mang. Đến ngày 15 tháng 8 năm Kỷ Dậu, giờ Tý, sinh một con trai diện mạo khôi ngô, trắng trẻo, tay dài quá gối, sức vượt hơn người. Được cha mẹ trân quý, nên đặt  là Trân. Ngày tháng thoi đưa, năm ông Trân 11 tuổi thì cha mẹ đều mất. Năm 17 tuổi ông theo học Dương Đường tiên sinh ở thành Thăng Long. Ông vốn thông minh, học được vài năm thì văn chương thấu triệt, võ bị tinh thông; hiểu rộng xưa nay, biết trùm trời đất; phàm kinh sách Nho Phật, không gì là không am tường, địa lý thiên văn đều nắm vững, hành động thì theo lễ, ăn nói thì chọn lời, phóng khoáng có chí lớn hơn người… được thầy hết sức khen ngợi.
Lúc đó Thái Tông hạ chiếu truyền cho các quận huyện đều cử người hiếu liêm, hiền lương phương chính, văn võ kiêm toàn, học vấn sâu rộng, cho lên kinh thành ứng tuyển. Ông Trân nghe được bỗng động chí tang bồng hồ thỉ, liền lên kinh thành ứng thí. Khi bệ kiến đế đình, Thái Tông thấy ông tướng mạo đường đường, uy phong lẫm liệt, văn võ song toàn, thông minh xuất chúng, mới phán rằng: “Trời sinh người hiền phò tá triều đình mà sao ta được khanh quá muộn. Hiện nay quốc gia mới sơ khai, lòng người chưa quy phụ, ở một dải Thanh Miện, Hải Dương có bọn đạo tặc họp đông, nhẩn dân nhiều bề khổ cực. Trẫm muốn khanh đến trị nhậm Thanh Miện vài năm, phủ dụ dân tình theo về thánh hóa. Khi đạo tặc dẹp yên sẽ triệu khanh trở về phong cho tước trọng”. Ông phụng mệnh bái tạ vua, đến trị nhậm Thanh Miện. Một hôm ông đi qua địa đầu xã Đông La, thấy địa thế quanh co, rồng bao hổ bọc, các ngôi sao đều chầu về, quang cảnh mới mẻ, đẹp đẽ khác thường, bèn truyền cho binh sĩ và nhân dân thiết lập một cung trong làng, làm chỗ dưỡng nhàn ngày nghỉ. Ông an ủy dân tình, thi nhân bổ đức, trong ba năm mà đạo tặc dẹp yên. Ông cứ mười ngày một lần đi khắp huyện, khuyên dạy việc nông tang và hưng lợi trừ hại, lại có thể lấy nhân nghĩa mà cố kết nhân tâm, lấy hòa nhượng mà hun đúc thành mỹ tục, khiến phong khí xấu vùng Thanh Miện xứ Đông thay đổi hết. Vua nghe tin hạ chiếu thư ban thưởng, triệu về phong làm Xã tắc lệnh chủ chưởng binh nông các sự. Lúc ấy nhà Trần sùng đạo Phật. Ông Trân coi công danh như ngoại vật, không thiết gì danh lợi, hành lễ bái tạ trở về cung Đông La ở. Nhớ cha mẹ, thờ kính thánh thần, ông cho xây chùa Đông La. Một hôm, vào năm Ất Dậu (1285), khi vua Trần Nhân Tông tức vị, ông bỗng nhìn thấy một đám mây đen từ phương Bắc xâm nhập mặt trời, chốc lát trời đất tối tăm, mưa gió, sấm chớp mịt mù, giây lát tự dưng biến mất, trời đất lại phong quang như cũ. Ông biết quốc gia có đại biến, vội chỉnh đốn hành trang chuẩn bị về triều bái mạng. Bỗng sứ thần tới triệu, nói rằng quân Nguyên do hoàng tử Thoát Hoan, các tưởng Toa Đô, Ô Mã Nhi, Nguyễn Bá Linh dẫn 50 vạn tinh binh đến xâm lược, uy thanh chấn động, vua kíp triệu các tướng lĩnh, mưu sĩ hồi trào. Ông phụng mệnh về trào bái tạ vua, rồi cùng các tướng lĩnh, mưu sĩ theo Hưng Đạo Vương đến Vạn Kiếp chống giặc. Với kế vườn không nhà trống, triều đình rút khỏi Thăng Long, đợi thời cơ tiêu diệt giặc, vượt qua bao hiểm nguy, chỉ khoảng 6 tháng. Với những trận quyết định ở Tây Kết chém Toa Đô, ở cửa Hàm Tử, bến Chương Dương…, quân ta đại thắng. Trấn Nam Vương Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chạy về nước. Khi gia phong tướng sĩ, ông Trân cũng được vua phong làm xã lệnh đại vương, ban cho tiết việt, chung hưởng thái bình. Ông bèn rước sắc trở về cung Đông La, giết trâu mổ bò ăn mừng, khao thưởng nhân dân sĩ tốt.
Tháng 11 Năm Đinh Hợi (1287), Hốt Tất Liệt lại xua hơn 90 vạn quân báo thù. Đại quân lại do Thoát Hoan với hai cánh do Hữu Thừa Trình Bằng Phi và Tham Chính Bột La Hợp Đáp Nhi cùng cánh thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy. Trần Hưng Đạo lại bỏ Vạn Kiếp, cho triều đình rời khỏi Thăng Long, lại chờ thời cơ, đánh phá thuyền lương, rồi đại phá quân Nguyên tại sông Bạch Đằng, bắt sống Ô Mã Nhi. Thiên hạ lại thái bình. Lần này ông Trân cũng có công hiến kế, vì thái tử Nguyên thích ca công người Việt, ông Trân liền bàn mưu rồi trở về Đông La, chọn con trai đẹp, cò sức khỏe, dũng cảm địch nổi trăm người. Trong một trận, ông cho họ mặc yếm, đội khăn con gái, giả làm mỹ nữ ca múa, vào trong doanh trại quân Nguyên ca hát. Tướng Nguyên say mê xem ngắm. Quân ta ngoài đánh vào, trong đánh ra thắng to. Ông được Vua viết thủ thư cho được hưởng các khoản sưu dịch của xã Đông La, để làm hương hỏa thờ cúng ông sau này.
Lúc ông hơn 90 tuổi, ông cùng một số người làng Đông La chu du bốn biển, trải khắp núi sông, tản bộ nước non, thăm thú mọi chốn. Một hôm, đến núi Yên Tử, nơi vua Nhân Tông xuất giá đi tu, bỗng thấy mưa gió nghịt trời, ông ở trong đó bàng hoàng tự nhiên mà hóa (ngày 25 tháng chạp). Nhân dân liền làm biểu dâng vua. Vua sai sứ thần đến làm lễ tế, lập miếu ở chỗ hành cung cũ, viết thần hiệu để thờ phụng, lưu truyền hương lửa vạn đại vô cùng.
Khi Lê Lợi dấy binh đánh quân Minh, xưng vương ở Lam Sơn, sai tướng Nguyễn Xí đến hành lễ cầu đảo đại vương, đều có linh ứng. Khi Thái Tổ lên ngôi liền phong tặng mỹ tự Khoát đạt Hồ quốc an dân thượng đẳng phúc thần, sai quân về tế, cho trùng tu miếu điện ở Đông La, để thờ phụng, lưu truyền muôn đời, cùng trời đất trường tồn.
Một đạo sắc phong làm Đương cảnh thành hoàng Xã lệnh Khoát đạt hộ quốc an dân đại vương, cho phép xã Đông La thờ phụng.
Bắt tường khai giờ sinh, giờ hóa và tên húy của ông Trân và cha mẹ, cấm không cho dân phạm húy, cấm mặc quần áo màu đỏ.
Ngày sinh thần, 15 tháng tám, dùng cỗ lợn tế, sau đó có ca hát.
Ngày mồng 1 tháng giêng, phong sắc khai xuân, tổ chức lễ khánh hạ, dùng cỗ bàn, ca hát, hành lễ đến ngày rằm thì dừng.
Ngày thần hóa 25 tháng chạp, dùng cỗ bàn tế.
Ngày lành tháng 11 năm Hồng Đức thứ nhất, hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày lành tháng ba năm Vĩnh Hựu thứ 12, quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền phụng sao.
Tôi mang bản dịch đến khoe ông anh cùng quê làm việc ở trường Đại học Tổng hợp TPHCM. Tôi nói:
- Em đã tra mấy cuốn sách viết về đời nhà Trần sao không thấy mặt mũi ông Trân quê mình đâu cả?
- Chắc tại chức vị và công ông nhỏ nên không được nhắc đến.
- Ông cũng thuộc diện Vua biết mặt Chúa biết tên chứ bộ. Liệu có ai bịa ra chuyện này không?
- Không đâu, bịa ra thì được lợi gì. Bản viết này đã được truyền lại từ lâu. Nó đâu có giá trị vật chất, các cụ giữ lại chỉ vì lòng thành kính. Chẳng ai lại đi lưu giữ, đi thành kính đối với một điều bịa đặt. Hơn nữa còn có ghi rõ tên tuổi người soạn, người sao, mà cũng khớp với những di tích còn lại. Mỗi một cuộc chiến tranh đã có biết bao anh hùng vô danh. Cũng như mấy ông liệt sĩ ở quê mình, nếu người làng, người xã mà không biết thì bên ngoài ai người ta biết đến?
***
Mai tôi lại về Sài Gòn. Mẹ tôi làm cơm, bà mổ gà rang (nấu) với chuối xanh. Ở quê tôi, chuối xanh thường được dùng nhiều để nấu các món ăn: Chuối xanh nấu ếch, chuối xanh nấu ốc, chuối xanh rang cổ cánh gà… Có một tính khoa học trong chuyện nấu nướng này. Nhựa chuối có chất chát là tanin có khả năng làm keo tụ những protid tanh của thực phẩm. Các món ăn quê tôi thường có cái này đi với cái kia. Ví như cà pháo với mắm tôm; thịt gà luộc rắc lá chanh; cá rô nấu canh rau cải; làm chả cá chuối (cá lóc) phải có rau mần tưới hoặc thì là; chả rươi có vỏ quít; chả rắn phải bọc với lá bưởi rang trên chảo gang; nem gói bằng lá ổi; dồi lợn có rau xương sông và rau ngổ (rau ôm); rồi canh cải nấu cua, canh bầu nấu hến thì vua cũng dùng… Đặc biệt có món lòng nháy tôi chưa thấy nơi nào có. Người ta thái tim, gan, dạ dầy thành những sợi nhỏ, trộn óc vào, cho rau mần tưới, gia vị, rồi dùng nước rang thịt (phải có riềng mẻ) nêm vào cho vừa ăn, tạo nên một món ăn có mùi vị thật đặc biệt… Quê tôi nghèo, nhà tôi cũng nghèo, nhưng có những món ăn của tuổi thơ mà có đi tới cùng trời cuối đất người ta cũng không thể quên.
Vậy mà… Tôi chợt thấy buồn. Có những giá trị về lịch sử, văn hóa, tâm linh và cả cảnh sắc thiên nhiên nữa mà thời gian, chiến tranh, thiên tai không thể tàn phá nổi. Nhưng sự thờ ơ và sự lãng quên của chính con người thì có thể.

Quê 1995
TPHCM 1996