Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020

HUYỀN THOẠI VỀ TỎI CHỐNG VIRUS

HUYỀN THOẠI VỀ TỎI CHỐNG VIRUS

Trên mạng lan truyền bài thuốc uống nước đun với tỏi để chữa virus của một bác sĩ tên tuổi ở Trung Quốc. Nhưng tính kháng sinh của tỏi là do có allicin mà chất này lại bị phân huỷ khi được nấu chín, nên tôi không tin bài thuốc này.   Và tôi cũng không đồng tình với WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) khi họ cho biết, mặc dù tỏi là "một loại thực phẩm lành mạnh có thể có một số đặc tính kháng khuẩn", nhưng không có bằng chứng nào chứng minh dùng tỏi có thể chống được virus corona.
Nhiều bài thuốc cổ truyền của Đông Y, những cách trị liệu dân gian từng được Y học phương Tây nói riêng và Y học hiện đại nói chung coi thường, thậm chí cho là phản khoa học, nhưng rồi khi quan tâm nghiên cứu, họ đã phải thay đổi quan niệm. Riêng với tỏi, nếu chưa có một nghiên cứu cụ thể nào chứng tỏ tỏi vô tác dụng thì tuyên bố trên của WHO cần phải xem lại.
Trong dân gian thì tỏi đã được dùng để trị cảm cúm từ lâu. Tôi nhớ hồi đi bộ đội thời 19 tuổi trong rừng, mỗi mùa cảm cúm đều bị “bọn” y tá đè cổ để nhỏ nước tỏi vào mũi. Bọn này rất “ác”, nhỏ nước tỏi đậm đặc nên rất cay và rát như tra tấn, tuy vậy nó lại trị virus cúm rất hiệu quả. Sau này khi có con, vì còn trẻ chưa kinh nghiệm, chúng bị cảm cúm nhưng tôi sợ chúng bị đau nên không nhỏ tỏi, nên có lần thằng con sốt cao quá bị co giật, giữa đêm phải đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Nhi Đồng, đến nơi nó lại khỏi ngay, bác sĩ cho về nhà. Thì ra đi đường gió mát đã làm nó hạ sốt. Nên khi trẻ bị sốt cao, nhúng khăn nước ấm lau người, lấy khăn nhúng nước mát đắp vào trán, sẽ có tác dụng hạ sốt rất tốt. Bây giờ có kinh nghiệm hơn, đứa cháu ngoại có hắt hơi một cái là tôi làm nước tỏi nhỏ ngay mũi nó, nhưng làm loãng thôi, nhỏ mũi còn cảm giác hơi cay là được, với con virus nhỏ xíu chỉ cần vậy là đủ, không cần phải “tra tấn” như thời tôi ở bộ đội. Tôi làm vậy nên đứa cháu gần như không bị sốt cao lần nào. Có lần bà ngoại bảo nói chuyện với bên Mỹ, có đứa cháu dạy trường Y bảo, nó cũng thường dùng nước tỏi nhỏ mũi con nó chống cảm cúm mà không dùng thuốc.  
Gần đây, một tối bà xã tôi bụng khó chịu, ợ hơi, ăn không tiêu, lúc chuẩn bị đi ngủ bả ra nhà vệ sinh, ôm bàn cầu nôn thốc, nôn tháo, ra cả mật xanh, mật vàng. Với người thường sẽ rất hoảng sợ, còn tôi thì biết bả bị bao tử, mà gốc là do con vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP). Tôi cấp cứu bằng cách pha cho bả một cốc trà gừng mật ong. Hôm sau tôi muối dưa bắp cải, mỗi lần lấy nửa chén (bát) nước dưa chua cho bả nhai với hai nhánh tỏi sống, khoảng 3-4 ngày, bụng bả êm luôn.
Tôi có nhiều “phát minh” kiểu như vậy mà anh bạn Ninh, một thạc sĩ toán học, rất hiểu tôi thường bảo tôi là một “tiềm năng”, nếu được xét, sẽ đoạt giải Nobel của Việt Nam.
Bệnh bao tử rất khó chữa bởi bị viêm loét mà ngày nào cũng phải co bóp, chà sát để tiêu hoá thức ăn, nên rất khó lành. Bác Đoàn Hữu Sử là viện trưởng viện nghiên cứu của tôi, người làm chủ hôn đám cưới tôi, lãnh đạo một viện dược mà ông phải bị cắt hết bao tử, nối thẳng xuống ruột mà y học gọi là “nối hổng tràng”. Còn tôi đúng như người ta thường nói về tôi là “hậu sinh khả uý”, tôi là lính của ông nhưng tôi đã tự chữa khỏi bệnh bao tử của mình. 20 tuổi, hồi còn là lính tôi đã bị cấp cứu vì đau bao tử. Sau này viết nhiều, đánh máy chữ bàn phím rất cứng, kích thích thần kinh ở ngón tay, làm bệnh bao tử càng nặng thêm. Bác sĩ đã cho toa thuốc đủ thứ, trung hoà axit, THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON, kháng sinh 3 mầu, v.v…  bệnh chỉ đỡ chứ không hỏi hẳn và thỉnh thoảng lại làm khổ tôi.
Rồi đến một ngày tôi nghĩ mình là nhà nghiên cứu sao không nghĩ cách chữa bệnh cho mình? Bệnh bao tử do hai nguyên nhân chính. Thứ nhất là do thần kinh căng thẳng kích thích bao tử tiết quá nhiều axit, thứ hai quan trọng hơn là do con vi khuẩn HP làm viêm, loét, thủng, thậm chí chuyển thành ung thư. Tôi thấy cái bắp cải cứ để thường nó sẽ dần bị thối, nhưng khi muối dưa nó sẽ chua mà không thối, tức quá trình lên men của con men lắc-tic đã giết chết vi khuẩn độc hại, dưa chỉ chua chứ không thể thối được. Nếu kết hợp nước dưa có nhiều men lac-tic với chất kháng sinh của tỏi chắc chắn sẽ giết được được con HP. Với lẽ thường thì cách dùng cay, chua, nóng chữa bao tử là một sự ngược đời, nhưng với tôi nó đã thành công. Chỉ một lần bệnh nặng đã lâu rồi, tôi phải dùng tỏi, nước dưa kếp hợp với thuốc an thần là món chè cực ngon, nấu bằng các nguyên liệu đồng thời là các vị thuốc an thần của Đông Y là hạt sen, long nhãn nấu với sữa.
 Tất cả chỉ là định tính, nhưng tôi đã chữa khỏi bệnh bao tử, nếu cái bệnh ngo ngoe một chút là tôi trị tiệt ngay! Tôi ước gì mình có 1 tỷ USD, tôi sẽ lập một viện nghiên cứu, định lượng tất cả những điều về các cách chữa bệnh mà tôi nghĩ ra trong đầu tôi. Và nếu việc chữa bao tử của tôi được chứng minh bằng khoa học, trên thế giới bao bác sĩ bao tử thất nghiệp, bao nhà máy sản xuất thuốc bao tử đóng cửa, nhân loại sẽ có lợi ích bao nhiêu? Và nếu mang công trình đó đi “thi Nobel” thì tôi có đoạt giải không?
Quay lại chuyện tỏi chống COVID-19, một cách định tính, tôi thấy việc nấu chín tỏi ăn là vô tác dụng, ăn tỏi sống có tác dụng nhưng để trong máu có đủ nồng độ kháng sinh diệt được virus thì phải ăn một lượng lớn đủ giết người, vậy tốt nhất là nên giã tỏi pha nước có muối, nhỏ thường xuyên vào mũi, súc họng thường xuyên, đánh chặn trực tiếp đường xâm nhập của visus. Dù cách này chưa có một viện nghiên cứu trong tay để chứng minh, chỉ bằng cảm tính, nhưng tôi tin là nước tỏi và muối sẽ có tác dụng nhất định trong việc phòng ngừa COVID-19.
31-3-2020   
ĐÔNG LA

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

DIỄN VIÊN MAI PHƯƠNG QUA ĐỜI!

DIỄN VIÊN MAI PHƯƠNG QUA ĐỜI!


Biết trước nhưng vẫn rất đau buồn trước tin về Diễn viên Mai Phương. Dù được giúp đỡ kinh phí của bạn diễn và các nhà hảo tâm, dù được các bác sĩ ung thư tận tình cứu chữa, Mai Phương đã phải lìa xa đứa con thơ, qua đời tối 28/3. Nữ diễn viên Trịnh Kim Chi cho biết: "Trước Tết Mai Phương phải cấp cứu một lần, chân tay phù hết cả lên. Sau Tết, đến mùng 2, cô lại phải đi cấp cứu thêm một lần nữa. Sức khỏe của Phương đi xuống một cách nghiêm trọng, bị kháng thuốc". Kim Chi chỉ là một diễn viên nhưng thông tin cô đưa trong đó có một phần rất đúng với y học, đó là sự kháng thuốc của ung thư. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chính khiến nền y học hiện đại bất lực trước ung thư.
Tôi đã viết xong cuốn sách thứ 3 về ung thư, nhưng chưa đăng lên Amazon vì trong đại dịch COVID-19 này, chả có ai vào đọc cả, dù thực tế ung thư tuy nó không làm người ta sợ vì lây nhiễm như virus nhưng vẫn nguy hiểm và gây chết người hơn COVID-19 gấp nhiều lần. 2018, tổ chức ung thư thế giới cho biết mỗi ngày thế giới có khoảng 22.500 người, mỗi ngày VN có khoảng 315 người chết vì ung thư.
Trong cuốn sách mới của tôi có đoạn về quan niệm mới chữa ung thư của các bác sĩ ở Bệnh viện Johns Hopkins, trong đó có liên quan đến chuyện kháng thuốc của ung thư:
“THE BEST WAY TO TREAT CANCER ACCORDING TO THE DOCTORS AT JOHNS HOPKINS HOSPITAL
According to Doctors at Johns Hopkins Hospital, mainstream cancer treatments, such as chemotherapy, radiation that can poison and kill cancer cells but also damage normal cells and organs of the body. They also damage the immune system and cause the resistance of tumors if repeated treatment.  With surgery, the doctors also cannot remove cancer cells entirely if the tumor has grown, So after surgery, the cancer cells can still spread.
 Therefore, they think the best way to treat cancer is to rely on a metabolic process that stops the providing of nutrients for the tumors, starving them to death.
This concept is similar to the philosophy of curing cancer by the fasting combined with the macrobiotic diet of Eastern…”.
Tiếng Việt:
CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THEO CÁC BÁC SĨ Ở BỆNH VIỆN JOHNS HOPKINS
Theo các bác sĩ tại Bệnh viện Johns Hopkins, các phương pháp điều trị ung thư chính thống như hóa trị, xạ trị có thể gây độc và tiêu diệt tế bào ung thư nhưng cũng gây độc và phá huỷ các tế bào và cơ quan bình thường của cơ thể. Chúng cũng làm hỏng hệ thống miễn dịch nên đã gây ra sự kháng thuốc của các khối u nếu điều trị lặp lại. Với phẫu thuật, các bác sĩ cũng không thể loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư nếu khối u đã phát triển, vì vậy sau phẫu thuật, các tế bào ung thư vẫn có thể di căn.
  Do đó, họ nghĩ cách tốt nhất để điều trị ung thư là dựa vào quá trình trao đổi chất ngăn chặn việc cung cấp chất dinh dưỡng cho các khối u, khiến chúng chết đói.
Quan niệm này tương tự như triết lý chữa ung thư bằng cách nhịn ăn kết hợp với chế độ ăn uống macrobiotic của phương Đông...”
30-3-2020
ĐÔNG LA

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

GIẢI TRÍ CUỐI TUẦN (THƠ VỀ CHIẾN TRANH) CHIẾN TRANH Ở ĐÂU MÀ MÀN HÌNH NHƯ ƯỚT MÁU?!

GIẢI TRÍ CUỐI TUẦN (THƠ VỀ CHIẾN TRANH)
CHIẾN TRANH Ở ĐÂU MÀ MÀN HÌNH NHƯ ƯỚT MÁU?!

Nếu các cuộc chiến súng đạn thường được sinh ra bởi các nước lớn và giầu, nên tự cho mình là mạnh, để xâm chiếm, trừng phạt hoặc áp đặt lên các nước nhỏ hoặc lạc hậu hơn; thì cuộc chiến gây ra bởi COVID-19 những ngày hôm nay “bình đẳng” hơn,  nó xâm lược tất! Việt Nam nhỏ và nghèo nhưng từng đánh thắng hai đế quốc to hùng mạnh nhất để giành lại chủ quyền đất nước, là nơi duy nhất sắp đặt lại những mưu mô, toan tính của những nước lớn, thì những ngày hôm nay, chúng ta vẫn nghèo hơn, kém phát triển hơn nhiều nước, chúng ta ở gần nguồn dịch hơn, có người dân nhiễm COVID-19 sớm hơn, mật độ dân số chúng ta cao hơn, nhưng đến ngày hôm nay, một lần nữa so với những nước giầu và lớn nhất, chúng ta gần như đã chiến thắng COVID-19 một cách tuyệt đối. Điều này chứng tỏ chế độ nước ta nhân đạo, vì dân hơn hẳn các nước luôn tự cho mình ưu việt về tự do dân chủ. Nó như cái tát vào miệng bọn quấy rối “dân chủ giả cầy”, bọn trí thức lưu manh cơ hội, đón gió, trở cờ,…
Dù vậy, không ai có thể chủ quan được, tôi vẫn luôn có tâm trạng nặng nề, lo lắng cho mình và cho người thân  khi một cuộc đại chiến đang nổ ra trên thế giới, cuộc chiến chống COVID-19. Tâm trạng này rất giống tâm trạng cái lúc tôi nằm võng xem tivi ngày nào thấy chiến tranh vẫn đang nổ ra, bom đạn vẫn làm máu đổ nơi này nơi kia trên thế giới. Lúc ấy, tôi thấy máu ở những nơi đó như làm ướt chính màn hình ti vi nhà mình, và nó đã thành một cái tứ, giúp tôi tạo ra được một hình ảnh thơ độc đáo, và tạo cảm hứng cho tôi làm ra được một bài thơ mà tôi muốn đăng lại trong những ngày nặng nề hôm nay!
28-3-2020
ĐÔNG LA   

Đã hai mươi năm ta ra khỏi cuộc chiến tranh
Vẫn có đêm mơ bị bao vây, săn đuổi
Vẫn mơ thấy bạn bè thuở 19 tuổi
Máu chúng mày làm bỏng đất Miền Đông!

Nhưng sao chiến tranh vẫn nơi này, chiến tranh vẫn nơi kia?
Đêm đêm màn hình vẫn ùng oàng bom nổ
Đàn ông, đàn bà, cụ già, em nhỏ…
Mặt đất này máu nóng hổi vẫn loang

Vẫn cứ như ngày nào vô lý thế chiến tranh!
Thế giới văn minh vẫn ngày ngày sinh ra kẻ ác
Đến bao giờ mới vơi đi cơn khát?
Dù máu đổ ra đã triệu triệu con người!

Bỗng lại vang lên, vang lên bất ngờ
Căn phòng nhỏ lại ùng oàng đạn pháo
Chiến tranh ở đâu mà màn hình như ướt máu?!
Tôi vội vàng cầm ngay giẻ đi lau!

10-1995
ĐÔNG LA

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

CHUYỆN TÍN ĐỒ KÍNH CHÚA KHÔNG SỢ COVID-19

ĐÔNG LA
CHUYỆN TÍN ĐỒ KÍNH CHÚA KHÔNG SỢ COVID-19

Từ khi có nạn dịch COVID-19 tôi không viết một chữ nào, không phải vì tôi không lo cho bản thân, gia đình và … nhân loại! Đơn giản là vì các nhà chức trách, các cơ quan truyền thông chính thống đã đưa thông tin và hướng dẫn phòng chống dịch rất đầy đủ. Tôi có viết thì cũng bằng thừa, còn để gây chú ý bằng cách nhai lại, ăn theo, thậm chí thổi phồng, xuyên tạc thì tôi không bao giờ là loại đó. Đặc biệt, thật tự hào khi thấy nước ta đã ứng chiến với nạn dịch rất tốt, đúng là với tinh thần của cuộc “chiến tranh nhân dân” khi xưa, với cách làm tỉ mỉ, chu đáo của một dân tộc “chân lấm tay bùn”, nên chúng ta đã có thành quả mà không một nước luôn cho mình “văn minh, tự do, dân chủ” nào có thể đạt được. Ngược lại chúng ta thấy họ đúng là lúng túng “như gà mắc tóc”!
Chỉ có một chuyện khiến tôi rất bất bình, khi đọc bài báo mà tựa đề là một câu hỏi, Vì sao bệnh nhân số 100 vẫn đi lễ hơn 60 lần sau khi về từ một trung tâm dịch? Và bài thứ hai với thông tin “8.000 người đổ về hành lễ bất chấp dịch bệnh”. Theo Reuters, hơn 8.000 người đã tập trung tại một nhà thờ hôm 18/3 để thực hiện thánh lễ, bất chấp khuyến cáo của nhà chức trách trong bối cảnh dịch Covid-19 đang lan rộng.
Một trong số những người tổ chức sự kiện giải thích cái điều mà bất cứ ai có lương tri cũng không chấp nhận:
"Chúng ta đều là con người, ai cũng sợ hãi trước dịch bệnh và cái chết. Nhưng có điều lớn lao hơn cả thể xác, đó là tâm hồn. Chúng tôi tôn kính Chúa trời (hơn là sợ hãi dịch bệnh)".
Đây đích thị là sự mê tín, bởi Chúa là đấng nhân từ, ai tôn kính Chúa cũng phải biết sợ dịch bệnh, không phải vì hèn nhát mà vì biết bảo vệ mình và không đổ bệnh cho người. Tôn kính Chúa mà làm cho những người khác mắc bệnh mà chết thì có Chúa nào tha cho tội ác đó?
23-3-2020
ĐÔNG LA

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2020

BỎ ĂN CHO CHẾT LẠI SỐNG, CÂU CHUYỆN VÔ TÌNH MÀ CHỨNG MINH CƠ CHẾ CỦA TỰ THỰC (AUTOPHAGY)

ĐÔNG LA
BỎ ĂN CHO CHẾT LẠI SỐNG, CÂU CHUYỆN VÔ TÌNH MÀ CHỨNG MINH CƠ CHẾ CỦA TỰ THỰC (AUTOPHAGY)

         
Mr. Vu Van Dang (Area 8, Thanh Thuy town, Phu Tho province), 2005, has lung cancer. He was desperate and very scared when patients were in the same room at the hospital died one after another. Some people could survive for 1 month; some people could stay for 2 or 3 months; no one lasted more than 1 year.  He was so depressed and did not earnestly eat or drink, lying on the hospital bed waiting for death to come, picking him up.
However, at that time, he discovered how to treat cancer through diet.
          He persisted in applying it for 10 years and that method has helped him survive until now. Through VTC News, Mr. Vu Van Dang wants many people to know about this cure.
He told VTC News reporter: “During one day of testing at K hospital (cancer hospital), I received the worst news that I had stage 3 lung cancer. In my lung, there was a large tumor. At that time, I felt like the sky was falling! "
        The K hospital doctor said if Mr. Dang was operated on, he will die immediately, so the best way is radiation therapy. However, after a few of radiation treatment, the doctors said that it "had no effect", so they took him home waiting die and he lived a day more, knowing that day. The doctor gave him to store 10 doses of Morphine, a painkiller, told him to use when pain. If he used up, he went to the hospital to get more and if he was too painful, he had to be admitted to the hospital. The doctor gave him to store 10 doses of Morphine, a painkiller, told him to use when pain. If he used up, he went to the hospital to get more and if he was too painful, he had to be admitted to the hospital.
          During his days at home, he sometimes received news that patients, who had been in the same room in hospital with him, one by one, died causing him to be increasingly depressed.
Until one day, Mr. Dang received news that his best friend had died, which made him completely hopeless. The pain always tormented him, making him think he also was about to die like that, so he did not eat or drink anything, despite the encouragement of his descendants.
           However, after such 3 days until he felt so hungry, he was surprised to see the pain subside, without tormenting him as before. He was more alert, sat up and realized he was still alive.
        The family members were so delightedly, fed him porridge. He ate 2 bowls, drank an extra cup of milk and felt extremely refreshed. He told his son to take him out the door to watch the sunrise.
However, after more than an hour, he felt the pain rushing back to make his head dizzy. He writhed, vomiting out everything he had just eaten. This time, the pain multiplied, so until by the afternoon, he had dared to take a small sip of water to ease the burning thirst in his throat, then exhausted, fainted.
Nearly the next morning, when everyone in the house was too tired and fell asleep, he woke up again. Naturally, his mind was flexible when he thought of the state he just experienced. He suddenly remembered, a doctor once advised him to be treated by the method of fasting, fasting for a maximum time that his body can bear. At that time, he found that thing humorous, because how could people live if they didn't eat? How can the body have the strength to fight disease?
But after a few times going through the state of death and resurrection, Mr. Dang found that seemly he did not eat, although he was so hungry, his body less painful and healthier.
At dawn, the daughter-in-law brought a bowl of porridge, however, having eaten less than half a bowl, he felt uncomfortable in the stomach.
“I was so scared, did not dare to eat anymore, only dared to drink a small amount of filtered water to survive. I feel the heat spread throughout my body, the runny nose was rampant, the breath was stinking, itchy skin rashes, aching bones, and joints, always feeling nauseous ...
After 4 days, the body suddenly felt comfortable. Later, until I read a book, I understand that it is the process of eliminating toxins in the body when people fast,” Mr. Dang recounted.
After that, he ate a small pinch of rice and then continued to fast. In the next 3 days, he also ate a little like that. He continued to do so, although his body was very hungry and leaner.
He told his children to go around to look for him documents that write about how to fast.  The more he read, the more he felt that the contents and arguments of this method were perfectly suited to his current situation. And he began to believe that he would overcome lung cancer.
The method Mr. Dang practiced as a form of surgery without a scalpel, but he had to fast.
“To pursue this method, one needs to have absolute trust and to understand its scientific mechanism.
Through books and newspapers, I read that many people around the world have successfully implemented the method of fasting, cured their incurable diseases without using the medicine.
If you do not have faith, it is best not to try the practice of fasting because it is useless and does not bring results,” Mr. Dang affirmed.
About 2 months later, when the body was accustomed to constant hunger, it was time that Mr. Dang could walk. He sat on the scales and found himself weighing only 39kg, the body seemed like the wind blowing. In return, the pain is almost completely gone, the spirit is much more refreshing.
According to the document, he started a vegetarian diet, but also ate very little, each day only about 2 pinches of rice. Each month, he spends a few days on fasting. For 10 years, he has never known meat, fish, and milk.
Mr. Dang said, it was thanks to the diet and the optimistic spirit that after the time when K hospital took him home to wait for death, he still survives to this day.
In 2014, that is after 9 years, Mr. Dang returned to K Hospital, Hanoi to check again. Results showed that the lung tumor was smaller by 50%. The tumor cannot grow nor spread to other parts of the body.
Tiếng Việt:
Ông Vũ Văn Đãng (Khu 8, thị xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thơ), 2005, bị ung thư phổi. ông đã tuyệt vọng và rất sợ hãi khi các bệnh nhân ở cùng phòng tại bệnh viện chết hết người này đến người khác. Một số người có thể sống sót trong 1 tháng; một số người có thể trụ được 2 hoặc 3 tháng; không ai kéo dài hơn 1 năm. Ông rất chán nản và không thiết ăn uống, nằm trên giường bệnh chờ đợi cái chết đến đón ông.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ông phát hiện ra cách điều trị ung thư thông qua chế độ ăn uống.
Ông đã kiên trì áp dụng nó trong 10 năm và phương pháp đó đã giúp ông tồn tại cho đến bây giờ (2015). Thông qua VTC News, ông Vũ Văn Đãng muốn nhiều người biết về phương pháp chữa bệnh này.
Ông nói với phóng viên VTC News:
“Trong suốt một ngày xét nghiệm tại bệnh viện K (bệnh viện ung thư), tôi nhận được tin xấu nhất là bị ung thư phổi giai đoạn 3. Trong phổi của tôi, có một khối u lớn. Lúc đó, tôi cảm thấy như bầu trời sụp đổ! "
Bác sĩ bệnh viện K cho biết nếu ông Đãng được phẫu thuật, ông sẽ chết ngay lập tức, vì vậy cách tốt nhất là xạ trị. Tuy nhiên, sau một vài lần xạ trị, các bác sĩ nói rằng nó "không tác dụng", vì vậy họ đã cho ông về nhà chờ chết và "sống được ngày nào, biết ngày đó". Bác sĩ đã cho ông 10 liều Morphine, một loại thuốc giảm đau, bảo ông sử dụng khi bị đau. Nếu ông dùng hết, đến bệnh viện để lấy thêm và nếu quá đau, ông phải nhập viện.
Trong những ngày ở nhà, đôi khi ông nhận được tin các bệnh nhân, những người đã ở cùng phòng trong bệnh viện với ông, lần lượt chết khiến ông ngày càng bị trầm cảm.
Cho đến một ngày, ông Đãng nhận được tin người bạn thân nhất của mình đã chết, điều này khiến ông hoàn toàn tuyệt vọng. Cơn đau luôn hành hạ ông, khiến ông nghĩ mình cũng sắp chết như vậy, vì vậy ông không ăn uống gì, bất chấp sự khích lệ của con cháu.
Tuy nhiên, sau 3 ngày như vậy cho đến khi ông cảm thấy rất đói. Ông ngồi dậy, nhận ra mình vẫn còn sống và cảm thấy tỉnh táo hơn. Ông ngạc nhiên khi thấy cơn đau dịu dần, mà không hành hạ ông như trước.
Người nhà rất vui mừng, cho ông ăn cháo. Ông ăn hết 2 bát, uống thêm một cốc sữa và cảm thấy vô cùng sảng khoái. Ông bảo con trai đưa ông ra cửa để ngắm bình minh.
Tuy nhiên, sau hơn một giờ, ông cảm thấy cơn đau ùa về khiến đầu óc choáng váng. Ông quằn quại, nôn ra tất cả những gì ông vừa ăn. Lần này, cơn đau gấp bội, nên đến tận chiều, ông mới dám uống một ngụm nước nhỏ để làm dịu cơn khát đang cháy trong cổ họng, rồi kiệt sức, ngất đi.
Gần sáng hôm sau, khi mọi người trong nhà quá mệt mỏi và ngủ thiếp đi, ông lại tỉnh dậy. Tự nhiên, đầu óc ông linh hoạt khi nghĩ về trạng thái mình vừa trải qua. Ông chợt nhớ ra, một bác sĩ từng khuyên ông nên điều trị bằng phương pháp nhịn ăn, nhịn ăn trong thời gian tối đa mà cơ thể có thể chịu được. Lúc đó, ông thấy điều đó thật hài hước, vì làm sao mọi người có thể sống nếu họ không ăn? Làm thế nào cơ thể có thể có sức để chống lại bệnh tật?
Nhưng sau một vài lần trải qua trạng thái chết đi sống lại, ông Đãng thấy dường như khi không ăn, mặc dù rất đói, cơ thể ông lại bớt đau và khỏe mạnh hơn.
Rạng sáng, cô con dâu mang bát cháo cho ông, tuy nhiên, vừa ăn chưa đầy nửa bát, ông cảm thấy khó chịu trong bụng.
“Tôi rất sợ, không dám ăn nữa, chỉ dám uống một lượng nước lọc nhỏ để sống sót. Tôi cảm thấy hơi nóng lan tỏa khắp cơ thể, nước mũi chảy tràn lan, hơi thở hôi thối, nổi mẩn ngứa trên da, đau nhức xương khớp, luôn cảm thấy buồn nôn ...
Tuy nhiên, sau 4 ngày, cơ thể tôi đột nhiên cảm thấy thoải mái. Sau này, cho đến khi tôi đọc một cuốn sách, tôi mới hiểu rằng đó là quá trình loại bỏ độc tố trong cơ thể khi mọi người nhịn ăn,” ông Đãng kể lại.
Sau đó, ông ăn một nhúm cơm nhỏ rồi tiếp tục nhịn ăn. Trong 3 ngày tới, ông cũng ăn một chút như thế. Ông cứ tiếp tục làm như vậy, mặc dù cơ thể ông rất đói và gầy hơn.
Ông bảo các con đi khắp nơi để tìm cho ông những tài liệu viết về cách nhịn ăn. Càng đọc, ông càng cảm thấy nội dung và lập luận của phương pháp này hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện tại của mình. Và ông bắt đầu tin rằng mình sẽ vượt qua được ung thư phổi.
Phương pháp ông Đãng thực hành như một hình thức phẫu thuật không cần dao mổ, nhưng ông phải nhịn ăn.
“Để theo đuổi phương pháp này, người ta cần có sự tin tưởng tuyệt đối và hiểu cơ chế khoa học của nó.
Qua sách báo, tôi đọc được rằng nhiều người trên thế giới đã thực hiện thành công phương pháp nhịn ăn, chữa khỏi những căn bệnh nan y mà không cần dùng thuốc.
Nếu bạn không có niềm tin, tốt nhất không nên thử thực hành nhịn ăn vì vô ích và không mang lại kết quả,” ông Đãng khẳng định.
Khoảng 2 tháng sau, khi cơ thể đã quen với cơn đói liên tục, đó là lúc ông Đãng có thể đi lại. Ông cân và thấy mình chỉ nặng 39kg, cơ thể dường như bị gió thổi bay. Đổi lại, nỗi đau gần như biến mất hoàn toàn, tinh thần sảng khoái hơn nhiều.
Làm theo hướng dẫn của tài liệu, ông bắt đầu ăn chay, nhưng cũng ăn rất ít, mỗi ngày chỉ có khoảng 2 nhúm cơm. Mỗi tháng, ông dành vài ngày để nhịn ăn. Trong 10 năm, ông chưa bao giờ biết đến thịt, cá và sữa.
Ông Đãng cho biết, chính nhờ chế độ ăn uống và tinh thần lạc quan mà sau thời gian bệnh viện K cho ông về nhà chờ chết, ông vẫn sống sót cho đến ngày nay.
Năm 2014, tức là sau 9 năm, ông Đãng quay lại Bệnh viện K, Hà Nội để kiểm tra lại. Kết quả cho thấy khối u phổi nhỏ hơn 50%. Nó không phát triển cũng không lan sang các bộ phận khác của cơ thể.
16-3-2020
ĐÔNG LA

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

LẠI GIẢI TRÍ CHỦ NHẬT, BÌNH THƠ TRẦN MẠNH HẢO

ĐÔNG LA
LẠI GIẢI TRÍ CHỦ NHẬT, BÌNH THƠ TRẦN MẠNH HẢO
Có rất nhiều độc giả đọc tôi viết họ quý và nể trọng trình độ của tôi vô cùng, trong số đó có một số người có “vai vế”, tức họ cũng là nhà văn, nhà nghiên cứu… và “nhà trí thức”. Có một số người đã liên lạc, gặp gỡ rồi trở thành “bạn thân” của tôi. Rắc rối ở chỗ các “mối tình” đó không kéo dài, không có hậu, đơn giản là vì “tình đơn phương”, họ quý tôi, trọng tri thức của tôi, còn tôi có thể quý họ nhưng không thể trọng những tri thức, những nhận thức sai của họ được. Con người ta không thể thích hai cái ngược nhau, họ thích những người ngược tôi lại thích và trọng tri thức của tôi luôn, chứng tỏ họ thực chất không hiểu tri thức. Liên quan đến bài tôi mới viết về thơ anh Nguyễn Ngọc Thu, tôi dám viết thơ anh hay hơn nhiều “đứa” rất nổi tiếng là vì tôi không chỉ hiểu rất rõ cái nhố nhăng của giới nhà văn mà tôi còn đã viết rất nhiều. Bài dưới đây là một ví dụ mà tôi viết đã 7 năm sau khi gặp một người bạn. Anh đúng là mẫu người “quý tôi vô cùng” nhưng anh cũng quý luôn những người “ghét tôi vô cùng”. Tôi với anh còn “kết nghĩa” nữa cơ nhưng từ lâu rồi tôi với anh càng ngày càng xa nhau.
       13-3-2020
       ĐÔNG LA

NỖI BUỒN SAU KHI GẶP BẠN VĂN

Tôi mới gặp một anh bạn nhà văn ngoài HN vào chơi. Gặp nhau anh nói: “Mình vừa ở Vũng Tàu về, có anh bạn hỏi có biết Đông La không? Có bài “đánh” Trần Mạnh Hảo (TMH) ghê lắm! Mình trả lời Đông La thì quá thân mà, phải biết chứ!”
Hồi tôi ra Hà Nội dự Hội thảo Thơ ở Viện Văn, anh biết nên đã đến khách sạn chở tôi đi nhậu ở nhà hàng trên Hồ Tây khá thơ mộng, nên hôm qua tôi đã mời anh đi “cháo vịt Thanh Đa” để đáp lễ. Tới đó vì có cái sân thượng khoáng đạt tốt cho truyện trò và về nhà con trai anh cũng gần. Giữa buổi nhậu anh lại mang TMH ra nói chuyện, anh khen TMH giỏi, nhớ nhiều và thơ hay.
Tất nhiên anh có quyền có chính kiến riêng, có tình cảm riêng, có điều theo lẽ thường người ta không thể thích hai cái ngược nhau được, anh đã làm tôi ngạc nhiên từ lâu vì có cái khả năng đó. Không chỉ ngạc nhiên, có lần tôi đã nổi cáu khi anh viết thư “có lẽ nào Đông La lại trục lợi trên lưng người lâm nạn” khi trang web của Hội Nhà Văn VN đăng một bài của tôi nhưng lại gắn vào lời dẫn về vụ bắt một ông nhà văn ở Hải Phòng mà tôi hoàn toàn không quen. Anh đã xin lỗi và viết kiểu như “dù sông cạn đá mòn tình nghĩa anh em ta cũng không bao giờ thay đổi”!
Có một người khác cũng từng một lần khen TMH “đập thẳng vào mặt tôi”. Cũng chuyến ra Hà Nội dự Hội thảo Thơ, xong việc, trong tiệc mừng chiến thắng, ngồi gần tôi là ông nhà văn Nguyễn Việt Hà, tác giả của tiểu thuyết Cơ hội của Chúa. Hà nói với tôi với giọng xấc kiểu tay chơi HN : “Về gì thì không biết chứ về thơ thì nhất định TMH phải hay hơn Đông La”. Tôi bảo: “Mày đọc được bao nhiêu về thơ tao? Hiểu được gì về thơ tao? Và hiểu gì về thơ nói chung?”. Hà im.
Thế đấy, trong giới sáng tác mà còn ngu ngơ như vậy, thử hỏi ngoài xã hội thì sẽ thế nào? Chính cái khả năng lẻo mép, biến báo, TMH đã dẫn dụ được rất nhiều người ngu ngơ. Còn với tôi, cả về tri thức và tài năng, TMH không có “một xu” nào!
Tôi từng chê TMH dốt, mù tri thức lý luận văn học và triết học khi viết: “Siêu thực và hiện thực là hai mặt tồn tại của một thực thể”; “duy tâm tương đối”; “duy vật tương đối”; v.v… Có mấy người xúm lại bênh Hảo bảo sai vài chữ thì nhằm nhò gì. Có điều nói vậy thì các vị này cũng dốt, bởi vài chữ đó là những khái niệm học thuật, mà đã là khái niệm thì chúng chứa đựng cả một nền tảng tri thức. Như “Siêu thực” là cả một trường phái, thể hiện quan niệm sáng tác của người nghệ sĩ chứ chẳng có dính gì đến chuyện tồn tại như TMH viết; còn chữ “duy” có nghĩa là tuyệt đối rồi, nên viết “duy” mà còntương đối như TMH  là dốt!
Còn qua Nguyễn Thanh Giang, tôi lại biết thêm một cái sai của TMH khi viết: “… Đức Phật khoác trên mình tấm vải gai thực tại của thầy tu khổ hạnh, chân đất cô độc đi giữa vô minh để ăn mày chân lý…”.
Chỗ này thì TMH dốt ngang với GS toán Ngô Bảo Châu về Đạo Phật.
Tôi đã viết, thực tế, Đức Phật ăn mày thật chứ không phải “ăn mày chân lý”. Cả ông Giang lẫn ông Hảo cần phải hiểu việc đi khất thực là một pháp tu để vừa xóa bỏ cái tôi kiêu mạn vừa làm cho các thí chủ tạo nghiệp lành, hưởng phúc ở  kiếp sau. TMH, một người dám ngông ngạo chê ông TBT GS Nguyễn Phú Trọng “viết sai tiếng Việt”, cho GS Nguyễn Đức Bình “viết ra những dòng quá ngớ ngẩn ngờ nghệch”; “tối tăm, xuẩn muội”, lại “tập làm văn” về Đức Phật một cách ngô nghê như thế này đây: “cô độc đi giữa vô minh để ăn mày chân lý”. Làm sao Đức Phật có thể “ăn mày chân lý giữa vô minh” được? Vì đã “vô minh” thì lấy đâu ra “chân lý” mà bố thí cho Đức Phật? Mà thực tế Đức Phật đã tự tìm ra chân lý chứ không phải “ăn mày chân lý”. Sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây bồ đề, ngài đã giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35.
Về tri thức của TMH là vậy, còn thơ?
Tôi cũng đã viết, TMH là người rất giỏi “làm xiếc ngôn ngữ”. Có điều có tạo được hiệu quả thẩm mỹ hay không, xin xem đoạn mà Nguyễn Thanh Giang đã trích để ca ngợi tài thơ của TMH trong bài “Tôi mang Hồ Gươm đi” sau đây:

Gió níu hoàng hôn xuống đáy tranh
Lá rụng trời xao động cổ thành
Đổi dòng, sông gửi hồn ngưng đọng
Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh

Tôi muốn mang hồ đi trú đông
Mà không khiêng vác được sông Hồng
Mà không gói nổi heo may rét
Đành để hồ cho gió bấc trông

Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây
Mà thương ôm bóng kẻ lưu đầy
Mà lau đôi mắt tôi bằng sóng
Mà cả trời kia xuống hết cây?”

Đây là bài tiêu biểu của TMH, còn được Phú Quang phổ nhạc. Một bài hát hay, lời có đóng góp nhưng không phải quyết định, cái chính là giai điệu, bởi có những bản nhạc không lời vẫn trở thành bất tử như Fur Elise của Beethoven chẳng hạn. Thuận Yến thật tuyệt vời khi “gọt rũa” một bài thơ đánh Tàu máu lửa của Dương Soái thành bài tình ca thật mượt mà Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng. Còn bài thơ của TMH ở trên, một cách chung chung, tất nhiên ai cũng hiểu tác giả thể hiện tình cảm của mình với Hồ Gươm, với Hà Nội. Bài thơ cũng có rất nhiều hình ảnh lạ như “gió níu hoàng hôn”, “Muốn mang hồ đi trú đông”, “khiêng vác sông Hồng”, rồi “gói heo may” v.v… nghĩa là nghe rất kêu. Nhưng đi sâu phân tích cụ thể về ngôn ngữ, như cách TMH vẫn hay làm với người khác, ta sẽ thấy bài thơ hoàn toàn rỗng về ý, TMH đúng là điển hình về việc “viết sai tiếng Việt”. Như câu “Lá rụng trời xao động cổ thành”. “Lá rụng đầy trời làm xao động cổ thành” thì mới có nghĩa chứ còn “Lá rụng trời” là lá rụng gì? Cái khó ở chỗ này là viết cho có nghĩa thì không thành thơ mà viết thành thơ thì lại không có nghĩa. Rồi bài thơ viết về Hồ Gươm sao lại có sông “đổi dòng” ở đó? Rồi nữa, muốn “mang hồ đi trú đông” sao lại “Mà không khiêng vác được sông Hồng”, ông Hảo muốn “mang hồ” đi cơ mà, sông Hồng thì có liên quan gì? Theo truyền thuyết, Hồ Gươm là nơi Lê Lợi sau khi dùng gươm thần đánh đuổi được giặc Minh đã “hoàn kiếm” lại cho Long Vương qua Thần Kim Quy, như vậy, câu “Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh”, TMH đã “nói điêu”!
Thực ra do kém về ngôn ngữ, nói chung là kém tài, TMH đã dùng nhiều từ chủ yếu để ép vần nên rất gượng và làm những câu thơ vô nghĩa như trên.
TMH, ngoài “tài” “làm xiếc” ngôn ngữ, nếu theo “lý luận” về đổi mới của Nhà văn Nguyễn Minh Châu, thơ TMH cũng điển hình cho lối viết “minh họa”.
Với khổ thơ này:

          Mẹ ơi, bất kỳ từ điểm nào trên trái đất
                    Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai
                   Khi đất nước Việt Nam mang dáng hình tia chớp
                   Rạch chân trời một lối đến tương lai

Ở đây cũng có sự ép vần khiên cưỡng, để vần với “tương lai” ở câu kết thì TMH phải viết “con trai” ở câu trên, chính vậy mới làm cho khổ thơ lủng củng, khấp khểnh về nghĩa. Sao lại “bất kỳ từ điểm nào trên trái đất/  Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai”? Có phải TMH muốn đe dọa thế giới bằng chuyện nước ta có nhiều con trai, rồi sẽ “cung ứng” cho quân đội nhiều lính không? Rồi sao “đất nước mang dáng hình tia chớp/ Rạch chân trời một lối đến tương lai”? Nghĩa là cho nước ta là một “tia chớp” chỉ “lối đến tương lai” bằng cách “rạch chân trời” một nhát, còn tương lai cho cái gì thì TMH không nói; còn ý muốn nói tương lai đó là tương lai của nước ta thì viết như vậy nghĩa là cho nước ta là một quả bom sẽ mở được lối đến tương lai bằng cách nổ một phát!
Chính vì thế tôi mới viết: “ Một đoạn ‘thơ” rất có vần nhưng ý thì lủng củng, nghĩa theo ngữ pháp thì vô nghĩa, còn tứ thì "Rạch chân trời một lối đến tương lai" đúng là một ví dụ tiêu biểu về lối “minh họa”.
Còn đây là điển hình cho việc TMH minh họa về “hồn thiêng sông núi”:

Tất cả núi đều đổ ra biên giới
Tất cả rừng đều cuộn tới chở che
Giặc phương Bắc mà liều mình lao tới
Những đỉnh núi kia sẽ đổ xuống đè

Có điều “núi” đã đè chết được giặc như vậy thì đất nước còn cần gì đến “nhiều con trai”, còn cần gì đến quân đội, đến súng ống đạn dược nữa.
Còn hai khổ sau:

Thế hệ chúng con đi như gió thổi
Quân phục xanh đồng sắc với chân trời
Chưa kịp yêu một người con gái
Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai
                *
Thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
Sống thì đi mà chết thì nằm
Giọt lệ phần mình, nụ cười dành bạn
Đất nước là một cuộc hành quân
thì là điển hình cho lối viết “minh họa”, cách viết một chiều, chỉ mô tả bề mặt cuộc sống chứ không thâm nhập bề sâu, đã miêu tả chiến tranh như ngày hội, dù có hy sinh gian khổ nhưng chỉ có niềm vui mà không có đau thương, người lính Cụ Hồ như con rô bốt chỉ biết xông lên chiến đấu và chiến thắng!
Riêng hai câu này:

Thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
Sống thì đi mà chết thì nằm

thì thật thản nhiên, vô cảm, điển hình cho lối “sáng tác”, nghĩa là những người có chút năng khiếu, có thể sản xuất ra hàng loạt thơ ca bằng cách ghép vần làm ra những câu thơ chung chung, nghe kêu “beng beng”, nhưng là những câu thơ giả, không đúng với hiện thực.

      TPHCM
     10-4-2013

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

VÀI NÉT CƠ DUYÊN VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN NGỌC THU VÀ CHÙM THƠ KHÓC VỢ CỦA ANH

ĐÔNG LA
VÀI NÉT CƠ DUYÊN VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN NGỌC THU VÀ CHÙM THƠ KHÓC VỢ CỦA ANH


             Trong các bài viết thỉnh thoảng tôi có nhắc tới anh Nguyễn Ngọc Thu. Anh là người cùng làng Đông La, hơn tôi 9 tuổi, từng làm phụ trách thiếu nhi ở quê anh trai tôi chứ không phải tôi. Năm 1976, tôi vào học khoa Hoá Đại học Tổng hợp TPHCM, anh học Lịch sử Đảng ở khoa Chính trị, gặp anh anh bảo: “Mày cũng vào học đại học rồi cơ à?” Chúng tôi ở cùng ký túc xá Ngô Gia Tự và có lẽ chính anh là người đầu tiên khiến tôi chú ý đến văn chương. Lớp các anh thi khối C có môn văn nên hầu hết mọi người đều có tơ tưởng đến văn chương, hàng ngày tôi sang phòng anh chơi đều thấy họ bàn luận về văn chương. Tôi học hoá với họ như ngoại đạo nhưng bản tính hay tranh luận lại “chõ mõm” vào: “Các ông toàn thích những cái “đéo” hay!”. Anh bảo: “Mày thì biết gì!” Tự ái nổi lên, có lẽ vì thế mà năm 1978 tôi làm bài thơ đầu tiên “Tình yêu và biển” ở ký túc xá. Đúng là cơ duyên sắp đặt, năm 1981 ra trường đi làm tôi lại buộc phải chú ý đến văn chương vì ở cùng khu tập thể với anh Thái Thăng Long nên gặp nhiều nhà văn nhà thơ. Nhưng rồi phải đến 9-1982, tôi gặp cô Anh Thơ thì chính bà mới là người mở cánh cửa và gần như đẩy tôi vào con đường văn chương. Và ngay lập tức tôi đã viết luôn một lèo những tác phẩm hoàn chỉnh, thơ, truyện ngắn, phê bình, được đăng báo, đọc trên đài, khiến chính cô cũng phải ngạc nhiên.
         Quay lại chuyện anh Thu, hai anh em cùng làng, học cùng trường, lại cùng có duyên nợ với văn chương, nên cả thời trai trẻ và trung niên, tôi với anh gần như luôn cùng nhau “trên từng cây số”. Nhờ Chế Lan Viên tôi thành nhà văn ngay từ 1986 và anh lại thành một độc giả thường xuyên đọc tác phẩm của tôi ngay khi chúng còn là bản thảo. Rồi có chuyện thật buồn, vợ anh bị ung thư não.  Tôi đã đi các nhà sách, và tại cửa hàng trên đường Nguyễn Văn Cừ đối diện trường tôi học, tôi đã mua một cuốn sách nói về chuyện nhịn ăn và ăn chay chống ung thư để đưa cho vợ chồng anh tham khảo. Và đó cũng chính là thời điểm tôi bắt đầu chú ý tìm hiểu về bệnh ung thư. Tiếc là vợ chồng anh không quan tâm lắm đến cuốn sách vì “đã có bác sĩ” nên chị đã mất sau đó. Năm 2005, thằng con trai tôi đã đi đưa ma chị xong là về sang Mỹ du học đến nay.
         Còn anh Thu, nỗi đau mất vợ đã khiến anh bật ra thơ. Tôi thì cứ nghĩ anh là một người yêu văn thôi, chỉ là một độc giả, nên không biết rằng thực ra anh vẫn luôn âm thầm sáng tác thơ ca. Với con mắt nhà phê bình tôi rất bất ngờ khi thấy chùm thơ anh viết về vợ quá hay. Loại thơ này người ta không thể sáng tác được mà chữ nghĩa chỉ được kết tinh từ đời sống, nó hay, nó độc đáo cũng là vì như thế:

Mấy tháng chỉ nằm không nói được
Vợ chồng hiểu nhau qua bàn tay
Đến khi “bàn tay không còn nói”
Ta còn trong ngực tiếng tim thay

Khi anh “khoe” tiếp thì tôi thấy thơ anh như viên ngọc còn chút sần sùi, sửa đi là hoàn toàn có thể xuất bản được. Như anh viết:

Cả một bầy thú dữ
Giành giật nhau con mồi
Ăn được cùng với chúng
Chỉ là giống thú thôi

Tôi bảo: “Cả bầy thú đang ăn, mình cũng ra ăn thì là thú đúng rồi, còn gì để nói nữa? Em biết ý anh chỉ bọn tham nhũng, anh phải thay chữ “Cả” bằng chữ “Như” thì mới diễn tả đúng được ý của anh”:

Như một bầy thú dữ
Giành giật nhau con mồi
Ăn được cùng với chúng
Chỉ là giống thú thôi

       Thế là tôi đã sửa chữa chút xíu, biên tập, viết lời giới thiệu, giới thiệu chỗ xuất bản và cuối cùng tập “Biển đời” của anh đã chào đời. Tiếp theo, vì anh “máu” văn chương hơn tôi nhiều nên còn in tiếp mấy tập nữa, và rồi lúc gặp lại tôi ở Sài Gòn sau Giải Phóng, chắc chắn anh không thể ngờ rằng “thằng bé con” là tôi lại có ngày đứng tên giới thiệu anh vào Hội Nhà Văn TPHCM!
       Hôm nay cuối tuần, tôi giới thiệu chùm thơ viết về tình cảm vợ chồng rất hay của nhà thơ Nguyễn Ngọc Thu, tuy anh không nổi tiếng nhưng tôi tin chắc rằng, chùm thơ này hay hơn rất nhiều thơ của các ông, các bà và của những đứa rất nổi tiếng, còn được giải thưởng văn chương tùm lum nữa!
       14-3-2020
       ĐÔNG LA
  
THƠ NGUYỄN NGỌC THU

Tứ tuyệt cho em

1
Chiều chủ nhật tuần nào cũng vậy
Bố con anh lên viếng mộ em
Muốn thăm em cho vơi nỗi nhớ
Nào hay nỗi nhớ cứ đầy thêm

2
Hai ba đưa ông Táo lên Trời
Tết xong ông lại trở về thôi
Nếu gặp vợ tôi trên Thượng giới
Hãy giúp vợ tôi trở lại đời

3
Mấy tháng chỉ nằm không nói được
Vợ chồng hiểu nhau qua bàn tay
Đến khi “bàn tay không còn nói”
Ta còn trong ngực tiếng tim thay

4
Ngày cưới em đeo dây chuyền giả
Giờ có nhiều vàng thật cho em
Về cát bụi em không cần gì cả
Chắt chiu giành dụm để cho con!

3
Mình đã sống vì nhau tất cả
Tất cả có gì đã cho nhau
Hiện thân mình còn đàn con trẻ
Chúng nó là mình lẫn trong nhau.

                          Tết Ất Dậu 2005