Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

DANH HIỆU “ĐẢNG VIÊN” VÀ NHÀ VĂN



DANH HIỆU “ĐẢNG VIÊN” VÀ NHÀ VĂN

 
(Chiêu đãi bạn quý)
Hôm tôi được “mật báo” cho biết ông bạn “vàng” Nguyễn Quang Thiều đã vận động các “chiến hữu” trong BCH HNVVN ngăn tôi vào Hội đã không khiến tôi ngạc nhiên mà tôi lại ngạc nhiên về một tin khác cũng về Thiều. Đó là việc Thiều đã bỏ sinh hoạt Đảng mấy năm nay rồi!
Chuyện Thiều là bạn thân “chơi” tôi tất nhiên là tôi phải bực mình nhưng tôi lại không ngạc nhiên vì giữa tôi với Thiều Thiều phải vì lợi danh của chính mình hơn chứ. Tôi hiểu Nguyễn Quang Thiều có tham vọng khủng khiếp và cũng có ý chí khủng khiếp. Thiều từng tâm sự với tôi: “Tôi sẵn sàng chờ đợi, tôi có 15 năm trẻ hơn ông Thỉnh để chờ đợi”. (Hữu Thỉnh sinh năm 1942, Thiều sinh năm 1957). Tôi đã phê phán nhiều nhà văn, kể cả những người hàng đầu như Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm, dẫn đến chuyện không chỉ những người đó “cay” mà sẽ có rất nhiều người cùng phe cánh, băng nhóm, đệ tử của họ cũng ghét tôi. Như vậy việc Thiều ngăn tôi vào Hội Nhà Văn sẽ có nhiều người là nhà văn ủng hộ Thiều, sẽ rất hữu ích cho việc Thiều ghi điểm trong cuộc bầu bán Thiều lên làm Chủ tịch Hội Nhà Văn thay ông Hữu Thỉnh. Hồi còn thân nhau, có lần tôi nói chuyện điện thoại với Thiều: “Tôi “uýnh” nhiều bạn bè của ông cũng có cái ngại là sẽ ảnh hưởng đến ông”. Thiều bảo: “Đứa nào sai ông cứ đánh bỏ mẹ chúng nó đi!” Tất nhiên đó chỉ là lời nói, mà Thiều cũng chỉ có thể nói thế, vì thích hay không thì Thiều cũng không thể tác động đến chuyện viết của tôi được. Chỉ vì tình cảm thì có thể như Thiều có thể nhờ tôi viết về Thiều, và để tốt cho bạn bè, nhiều khi tôi đã viết mà không cần Thiều nhờ tôi.
Còn chuyện Thiều bỏ sinh hoạt Đảng đúng là khiến tôi ngạc nhiên. Trước hết vì chuyện sinh hoạt Đảng sao lại có cảnh “chợ chiều” như thế? Ở cả xã hội hay chỉ riêng ở Hội Nhà Văn VN? Điều ngạc nhiên thứ hai là trước đây để lên chức người ta buộc phải là Đảng viên tốt còn giờ Thiều đang “mót” cái chức Chủ tịch Hội Nhà Văn sao lại “phấn đấu” trở thành đảng viên xấu? Thậm chí còn cố chứng tỏ cho giới văn chương biết! Phải chăng như một lần tâm sự xa xôi với tôi, Thiều muốn làm theo cách Phạm Xuân Nguyên khi được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà Văn Hà Nội?
Vậy Phạm Xuân Nguyên đã phấn đấu thế nào?
Về chuyên môn lý luận phê bình văn học đầu tiên Phạm Xuân Nguyên đã theo Nguyên Ngọc tung hô Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh. Nguyên cho: “Hiện tượng NHT”- đó là thành quả của đổi mới. Thực tế hoàn toàn không phải vậy. Về thi pháp, văn Nguyễn Huy Thiệp một nửa lặp lại giọng điệu của Vũ Trọng Phụng khi viết về tầng lớp thị dân, một nửa lặp lại cách viết của truyện Tầu khi viết về quá khứ, nên không thể gọi là mới. Cái mới luôn đồng nghĩa với sự tiến bộ, tốt đẹp, Nguyễn Huy Thiệp đúng là có cái khác nhưng không phải là cái mới mà là cái lộn ngược. Nhà văn Mai Ngữ cho Nguyễn Huy Thiệp viết về lịch sử: “đã lăng nhục cha ông, tổ tiên mình. Bởi Thiệp đã viết về Vua Quang Trung như kẻ lục lâm, thảo khấu, như kẻ trọc phú và cho “Nguyễn Phúc Ánh mới là “nòi vương giả”. Đó chính là tư tưởng nghệ thuật của một người khi sang Thụy Điển đã tuyên bố: “Thế hệ tôi nôn mửa vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” (Trần Đăng Khoa. Văn nghệ quân đội số 596 tháng 4/2004). Nguyễn Huy Thiệp cũng có một cái “mới” nữa mà Vương Trí Nhàn gọi là “chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng, Thiệp tả những nhân vật: “Chẳng có khuôn mặt nào đáng là mặt người. Mặt nào trông cũng thú vật, đầy nhục cảm, không đểu cáng, dối trá thì cũng nhăn nhúm đau khổ”; Lão già bị liệt, hai chân teo lại, lông chân như lông lợn”; “Tôi rùng mình vì trông thấy khuôn mặt ông ta: mặt đen và tái như da ở bìu dái, lông mày rậm, răng vẩu mà vàng như răng chó. Tiếp theo, Phạm Xuân Nguyên cũng tiến thân bằng việc ca ngợi cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Nếu thời chiến đa phần thanh niên ra đi theo lý tưởng giải phóng thì nhân vật Kiên của Bảo Ninh ra đi với lời dặn của cha: “mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy”. Hình ảnh “anh chiến sĩ giải phóng được Bảo Ninh viết là: Hiếp dân lành (chuyện cô Phương bị hiếp tập thể trên tầu); hành lạc tập thể (giữa phân đội trinh sát với 3 cô gái trong khu trại tăng gia huyện đội); bài bạc, hút xách, trốn chạy (nhân vật Can), tàn sát tù binh... Nguyên Ngọc ca ngợi Nỗi buồn chiến tranh: "Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay " trong khi thực tế Nỗi buồn chiến tranh viết về một người lính giải phóng bị chấn thương tâm thần khi thấy sự hy sinh của mình và đồng đội là vô nghĩa. Phạm Xuân Nguyên đã cho Đây là một tác phẩm xuất sắc nhất” với sự lập luận lộn ngược khi cho cuộc chiến giải phóng của ta ở đó những người lính là những con người bị vất vào cuộc chiến, buộc phải bắn giết nhau”.
Bên cạnh quan điểm văn chương lộn ngược đó, Phạm Xuân Nguyên còn phấn đấu bằng cách luôn có thái độ chống lại nhà nước thể hiện qua một loạt sự phản ứng trước việc cơ quan công quyền thực thi pháp luật với các đối tượng phạm pháp và sai trái.
Một người như Nguyên nhưng mỗi lần tôi gặp Thiều đều gặp Nguyên.
***
Sắp đến sinh nhật thứ 85 của ĐCSVN, Đảng đã lãnh đạo dân ta giành lại nền độc lập, khai sinh một nhà nước mới vào năm 1945; đánh thắng tham vọng duy trì sự đô hộ của Thực dân Pháp tại ĐBP vào năm 1954; đánh thắng sự can thiệp của Mỹ và chế độ tay sai, thống nhất đất nước vào năm 1975; đánh thắng sự xâm lấn biên giới hai đầu đất nước vào năm 1979; năm 1986 tiến hành đổi mới thành công đưa đất nước vượt qua khủng hoảng đến được những ngày hôm nay. Nhưng rồi những ngày hôm nay TBT Nguyễn Phú Trọng lại nói thể chế do Đảng lãnh đạo đang đứng trước nguy cơ tồn vong. Giặc đó chính là lòng tham quyền lợi của một “bộ phận không nhỏ đảng viên”. Lỗi đó chính là lỗi hệ thống chính trị, Đảng lãnh đạo nhưng Đảng không có cơ chế giám sát hiệu quả. Vì thế, “bộ phận không nhỏ” đã dùng quyền lực mà chính Đảng trao cho, lợi dụng tình trạng công tư nhập nhằng của thể chế, dùng ngân sách nhà nước xây dựng TBCN chứ không phải XHCN; dùng quyền lực của chính Đảng trao cho để nhận hối lộ khi ban phát ân huệ cho thuộc cấp.
Phải chăng vì thế mà có tình trạng xin ra Đảng. Một số kẻ còn khoe việc xin ra Đảng trên mạng. Lẽ ra nếu thấy vào Đảng là sai thì người ta phải giấu đi chứ sao lại khoe ra? Điều này chứng tỏ họ chỉ là những kẻ cơ hội, vào Đảng chỉ vì quyền lợi, giờ bỏ Đảng có lợi hơn thì họ sẽ bỏ Đảng.
Còn ông bạn Nguyễn Quang Thiều? Phải chăng thấy Phạm Xuân Nguyên chống nhà nước có hiệu quả nên cũng bỏ sinh hoạt Đảng để phấn đấu lên chức Chủ tịch Hội Nhà Văn VN? Nhưng xem chừng Thiều hơi vội vì phải đợi Đảng mất quyền và chế độ sụp đổ cái đã. Và thực tế, dù trước “nguy cơ tồn vong”, nhưng không biết đến bao giờ Đảng mới mất quyền và chế độ mới sụp đổ đây?
 Vì dù nhiều tệ nạn nhưng tổng thể đất nước ta vẫn ổn định và “tiến lên”! Những người hiểu biết cũng không ai muốn chế độ sụp đổ để rồi nước ta sẽ rơi vào tình trạng như nước Nga thời Enxin và Ucraina trong những ngày hôm nay, thậm chí còn tồi tệ hơn vì nước ta với một lịch sử bị xâu xé và trình độ mọi mặt kém hơn họ rất nhiều! Đó chính là lý do mà tôi không phải đảng viên, không phải công chức vẫn viết “như điên” để bảo vệ Đảng và chế độ. Đó chính là sứ mệnh của một người cầm bút. Tôi vẫn hy vọng và thấy tốt nhất vẫn là điều lực lượng tiến bộ trong Đảng thực hiện công cuộc “chỉnh đốn” thành công, Đảng sẽ làm theo đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác với tư cách là một học thuyết nhân đạo về sự công bằng và một học thuyết phát triển xã hội biện chứng dựa trên quy luật của khoa học.
28-1-2015
ĐÔNG LA

Thứ Bảy, ngày 24 tháng 1 năm 2015

HAY VÀ DỞ CAO VÀ THẤP

HAY VÀ DỞ
CAO VÀ THẤP
(Qua cuộc thi thơ báo Văn Nghệ 1999-2000)

   Cuối tuần, đăng một bài phê bình văn chương chơi. Thoáng chốc mà 15 năm đã trôi qua khi viết cái bài này rồi. Bài này tôi phê phán giải thưởng của Cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ, HNVVN, trong đó có giải nhất của Nguyễn Tấn Việt, anh em kết nghĩa với Nguyễn Quang Thiều; cũng chính là cha của Nguyễn Quyến. Hồi ấy có dư luận vì có Thiều ủng hộ nên Nguyễn Tấn Việt mới được giải và người ta cũng xì xào rằng Thiều tuy chỉ là một biên tập viên nhưng có quyền lực ngầm rất mạnh, ủng hộ ai là được. Tôi vốn suy nghĩ độc lập, tôi đã nhiều lần phê phán những tác giả là bạn của Thiều và những tác phẩm mà Thiều ủng hộ, ca ngợi. Như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Xuân Nguyên, …, chính vì gặp Thiều mà tôi đã đều gặp họ, và trong bài này là Nguyễn Tấn Việt. Chỉ khi viết về Thiều thì tôi đúng là có phần tình cảm, nể nang. Nhưng tôi không giống nhiều người, như Trần Mạnh Hảo chẳng hạn, sẵn sàng nói ngược để khen hoặc chê bằng được thì thôi, tôi thiên vị Thiều nhưng tôi chỉ viết ra sự thật, chỉ thiếu khách quan ở chỗ tôi chỉ viết phần tôi thấy hay không viết phần tôi thấy dở về Thiều mà thôi. Tôi dành phần đó cho người khác. Không ít người đã viết chủ yếu về cái dở đó của thơ Thiều, như Trần Mạnh Hảo và Đỗ Hoàng chẳng hạn. Tiếc là họ chê không đúng, vậy là tôi lại đi “úynh” họ, bảo vệ Nguyễn Quang Thiều. Đó là quà tặng của tình bạn, tình người tôi dành cho Nguyễn Quang Thiều. Còn nếu hôm nay Thiều không cần điều đó nữa, chà đạp lên nó, thì nếu có hứng, tôi sẽ viết nốt những cảm nhận không hay của tôi về Thiều. Tính tôi vốn sòng phẳng, tôi không đi tu nên cũng còn nhiều tật, còn chấp vào nhiều thứ của cõi phàm.
          Vì vậy tôi còn rất nhiều chuyện viết về Nguyễn Quang Thiều.
           24-1-2015
          ĐÔNG LA
         
          (Tình bạn "vĩ đại" không cảm động!)
        Thế là cuộc thi văn chương lớn nhất của một trung tâm văn nghệ cao nhất-báo Văn nghệ Hội Nhà Văn Việt Nam-đã khép lại. Với người tham dự, lẽ thường, người thắng sẽ vui, kẻ bại sẽ buồn; nhưng trước những kết quả xứng đáng, dù thắng hay bại, mọi người vẫn sẽ có một niềm vui chung, bởi qua bao chờ đợi, cuộc thi đã tìm ra được những giá trị mới, những tài năng mới, hứa hẹn mang tới cho đời những tác phẩm mới. Có điều, để làm được điều này lại không đơn giản, bởi mỗi cuộc thi văn chương luôn không chỉ là cuộc thi của những thí sinh, mà còn là sự chứng tỏ khả năng thẩm định của cả ban giám khảo. Riêng tôi, có kỷ niệm khó quên về chuyện thi văn chương năm 1986 tại TPHCM với nhà thơ Chế Lan Viên. Chùm thơ dự thi của tôi đã bị loại, nhưng khi tôi tận tay đưa được cho ông là một trong những người chấm chung khảo, ông đã tuyên bố tôi được giải ngay tại nhà ông. Từ đó tôi đã hiểu ngay ra một điều rằng: sáng tạo ra cái hay đã khó, nhưng để được công nhận còn khó khăn hơn, bởi mỗi một tài năng buộc phải được nhận diện cũng bởi tài năng và hơn thế: sự công tâm!
Trong thời gian qua đã có nhiều cuộc thi văn chương rầm rộ, nhưng nhiều tác giả được lựa chọn trao giải lại không có thực tài, bởi sau đó họ không chứng tỏ được tài năng của họ.
Để thẩm định chính xác một tác phẩm thi ca, người thẩm định buộc phải vừa nhạy cảm để phát hiện ra cái mới, cái hay, vừa uyên thâm để có một nền tảng tri thức để phân tích những ý nghĩa sâu xa, tiềm ẩn. Thơ ca luôn mang tinh thần, sắc thái văn minh của thời đại, để hiểu hết được những phẩm chất của nó, người ta buộc phải có không chỉ khiếu làm thơ, mà còn cần phải có cả trình độ tri thức tổng hợp nói chung. Nếu chỉ có duy nhất khiếu làm thơ thôi, con mắt người ta tất không nhìn ra khỏi hàng rào chắn của chính thơ mình.
          Tiếc là những tác phẩm được lựa chọn trong cuộc thi báo Văn Nghệ lần này cũng lại rất kém. Nên kết quả vừa công bố, dư luận đã có biết bao  xầm xì, phản đối.
Hai bài của Nguyễn Tấn Việt xếp đầu cuộc thi là hai bài bình thường. Chúng không thoát ra khỏi sự đơn điệu và tẻ nhạt giông giống nhau của số đông thơ ca hôm nay. Từ  câu chữ đến ý tứ  dường như ta đã đọc được ở đâu đó, tức chúng được làm bằng ngôn ngữ thơ phổ thông, thậm chí là ngôn ngữ nôm na của giao tiếp đời thường. Hai bài thơ không có vẻ đẹp cho ta chiêm ngưỡng, không có tình tứ cho ta si mê, không có biến hóa cho ta thích thú, không có cao sâu cho ta suy tư … Tóm lại, chúng không có mặt gì nổi trội, không đại diện cho thành tựu mới của sáng tác hôm nay; nếu được chọn đứng đầu hàng vạn bài dự thi là không xứng đáng và yếu kém.
 Tất nhiên tôi nói vậy không phải nói bừa  mà phải dựa trên cơ sở lý luận. Để xác định chính xác thế nào là một bài thơ hay, thế nào là yếu kém, người ta không thể chỉ cảm nhận bằng cảm tính chủ quan mà phải dựa trên những yếu tố cụ thể như: sáng tạo hay không sáng tạo, mới hay cũ, cao hay thấp… rồi, những điều này cũng lại phải được nhận diện trên cơ sở của từ  ký hiệu học đến thi pháp học, và từ mỹ học đến triết học. Ký hiệu học cho phép ta đánh giá sự sáng tạo ngôn ngữ, độ khó, độ tương hợp của những  sáng tạo ấy, và tác dụng tăng cường sức biểu đạt biểu cảm của nó như thế nào…; thi pháp giúp ta khảo sát toàn diện các yếu tố mang tính kỹ thuật làm nên diện mạo riêng bài thơ, mỹ học đánh giá hiệu quả thẩm mỹ của chúng, triết học khảo sát độ sâu, độ cao tức tính khái quát và độ hàm súc của tác phẩm. Như vậy, bài thơ hay nhất tất phải độc đáo nhất, ngôn ngữ biến hoá nhất, ý thơ phải hàm súc nhất, phản ánh sâu xa và bao quát nhất những điểm mấu chốt liên quan mật thiết nhất đến cuộc sống hôm nay.
Bài “Ở bản nào cũng thế” của Nguyễn Tấn Việt được xếp đầu bảng là bài thơ có tầm nhìn hạn hẹp, viết bằng cách viết giản đơn, liệt kê một cách đơn điệu những sự trái ngược ở những làng bản vùng cao, giống như những gạch đầu dòng của một ghi chép vậy. Câu thơ cũng có hàm nghĩa nhưng lại  được nói ra một cách trụi lủi với cách dùng từ không dụng công, ít tương đồng, nên khả năng biểu đạt cũng như biểu cảm rất kém, đọc xong không thấy rung động gì và cũng chẳng phải nghĩ suy gì:
Ở bản nào cũng thế
                   …………………………………….
Tuổi thấp thì học bay
Tuổi cao thì học đứng

    Trẻ con đi học là học văn hóa để có điều kiện bay cao những ước mơ, còn nói tắt, dùng từ  chỉ mục đích thay cho từ chỉ đối tượng, trẻ con đến trường không phải học văn hóa mà lại “học bay” như trên thì  nghe thật buồn cười. Rồi :

Ở bản nào cũng thế
Đông người thuộc Quốc ca
Ít người quên quốc nhục

Điều này tốt về ý thức công dân, nhưng quá kém về sự sáng tạo ngôn ngữ. Người sáng tác chú trọng đến sự sáng tạo thường rất tránh viết những điều hiển nhiên, bởi đã là hiển nhiên thì không có gì độc đáo, không có gì là nghệ thuật cả, chẳng ai lại thích thưởng thức những điều ai cũng biết:

Ở bản nào cũng thế
Bồ câu thích bay đôi
Gà tức nhau tiếng gáy
 ……………………………………………
Ở bản nào cũng thế
Nhan sắc thích soi gương

Một bài thơ toàn những câu như vậy không hiểu sao lại được xếp đầu cuộc thi rất lớn này!
Bài “Làng tôi năm 2000” là bài thứ hai được giải của Nguyễn Tấn Việt. Nó không khá hơn bài trên, thậm chí còn kém hơn về mặt ý tưởng. Nó là một sự trăn trở hoài nhớ của một người xa quê nhớ về ngôi làng của mình, khi những hình ảnh xưa cũ được thay thế bằng những hình ảnh của cuộc sống mới. Đây là một motif rất cũ, đã rất nhiều người viết. Trong sáng tác, để tìm ra một cấu tứ hoàn toàn mới rất khó. Nó cần một năng lực sáng tạo lớn, giống như sự sáng tạo trong lĩnh vực khoa học tự nhiên vậy. Tuy nhiên, vẫn có nhiều bài thơ viết về những vấn đề cũ nhưng vẫn có thể được đánh giá cao, nếu nó được viết bằng  loại ngôn ngữ độc đáo với những ý thơ độc đáo, chỉ riêng tác giả bài thơ đó mới viết ra được, và nó cũng phải đòi hỏi một năng lực thơ ca rất lớn. Tiếc là “Làng tôi năm 2000” của Nguyễn Tấn Việt không được như vậy. Cũng vẫn một kiểu liệt kê giản đơn tuần tự những hình ảnh cũ mới thay thế nhau, cũng bằng ngôn ngữ kể nôm na, bài thơ thiếu hẳn yếu tố biến hoá bất ngờ, nên không gây được ấn tượng gì cho người đọc:

Làng tôi đang ở đâu
Đêm trung thu cũng không thấy bóng đa
Mái đình trùng tu thay mầu rêu cũ
Mẹ về chợ mớ rau trong rổ nhựa
Và lên chùa phẩm oản gói ni-lông
Vịt siêu trứng không mò cua bắt ốc
Gà gia công không nhặt thóc đống rơm
 …………………………………………………………………
Làng tôi năm hai ngàn
Bao dập dìu hiện đại
  …………………………………………
Bao đổi thay kỳ dị
Cô thợ cấy đấu cờ trên màn hình điện tử
Bác thợ cày hút thuốc lào mê bản tin quốc tế
Cả làng sôi lên cùng trái bóng châu Âu…

          Nuối tiếc những hình ảnh thơ mộng yên bình, những bản sắc văn hóa làng quê là điều tốt. Điều đáng băn khoăn ở đây là Nguyễn Tấn Việt lại đem sự nuối tiếc ấy đối lập với cái mới, cái tiến bộ, cái văn minh. Một bài thơ hay buộc phải có tính tư tưởng cao, vậy mà “Làng tôi năm 2000” chỉ có những suy tư lẩn thẩn chứ chưa muốn nói là phản tiến bộ như vậy. Trong khổ thơ trên, từ “kỳ dị” lẽ ra nên thay bằng “kỳ diệu” thì đúng hơn. Sự nghiệp điện khí hóa nông thôn; những con đường lầy lội được phủ lớp áo bằng nhựa bê tông phẳng lì; những vật dụng của nền văn minh nâng cao chất lượng sống và tầm hiểu biết của con người: ti vi, tủ lạnh, cát-xet…; cô thợ cấy cũng biết chơi cờ điện tử; bác thợ cày ngồi tại nhà mình vẫn biết mọi tin tức trên thế giới; thanh thiếu niên được xem tức thời trái bóng tròn lăn trên mọi sân cỏ khắp hành tinh v.v… Tất cả những điều ấy là những đổi thay kỳ diệu chứ sao lại cho là những thứ kỳ dị? Sự đổi mới hướng về phía văn minh  là tất yếu, là lẽ sống, là mục tiêu phấn đấu. Tất nhiên, chúng ta cũng phải biết giữ lại những bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng chỉ nên giữ lại những gì tinh túy chứ tuyệt nhiên không phải là việc giữ lại những “rêu mốc”, những phương sức sản xuất tiểu nông, vụn vặt nhỏ bé, như bài thơ “Làng tôi năm 2000” nuối tiếc.
          Đặng Huy Giang là tác giả xếp thứ hai trong 3 người đoạt giải A. Tác giả có cố gắng tạo ra những cấu tứ độc đáo, mang nhiều chất suy tư, tiếc là sự thể hiện chưa nhuyễn, còn rất sượng. Bài thơ “Theo con” vẽ ra cảnh ông bố 44 tuổi luôn phải theo đứa con 7 tuổi, đưa đón trong các sinh hoạt, để gợi nên những suy tư về quá khứ, hiện tại và tương lai. Tiếc là bài thơ rất lủng củng cả về ngôn từ lẫn ý tưởng; các hình ảnh, các chi tiết được vẽ ra không độc đáo, cũng vẫn là kể lể và liệt kê, chưa qua lăng kính của sáng tạo, có những câu thơ trơ trơ, giữa nghĩa đen của hình ảnh –“cái biểu đạt”- với những hàm nghĩa - “cái được biểu đạt”- không liền mạch, do không có những tương đồng nên không có sức gợi ra cái gì:

Hát theo con
Cười theo con
Nghĩ theo con
Lớn và bé vận hành trong guồng máy
Sáu giờ kém mười lăm: bấm nút đi,
mười sáu giờ ba lăm: bấm nút về
Tư duy bắt vòng theo chiều lăn bánh xe

Chuyện suốt ngày bám đít luẩn quẩn theo đứa trẻ 7 tuổi như vậy thì có gì nên thơ, có thể biểu đạt được những điều cao sâu gì?
          Đoạn kết bài thơ với những so sánh khấp khểnh, lơ lửng, câu thơ nôm na như câu nói:
Dẫu âm thanh đi chậm hơn, ánh sáng
                                    đến nhanh hơn
Nhưng
Sấm và chớp, cha và con…
Chúng ta nghẹt thở vì bụi đường
Nghẹt thở vì chờ  đợi
Mặc dầu vậy cũng chẳng hề hấn gì
Bởi quá khứ vẫn giật mình theo bước chân con trẻ.    
Người ta thường đưa ra giả thiết thật phi tự nhiên để khẳng định một điều gì đó cần phải khẳng định, ví như: “Dẫu sông cạn đá mòn, nhưng chân lý không gì thay đổi được”, còn trong đoạn trên, việc ánh sáng đi nhanh hơn âm thanh là chuyện tất nhiên còn dẫu mới diếc cái gì?! Tác giả muốn làm một bài thơ dạng chất chứa suy tư, thơ hiện đại, nhưng khả năng thể hiện kém, như đứa trẻ nói chưa sõi, ngọng ngịu, ấp úng, ú ớ. Trong sự liên tưởng, người ta buộc phải dựa trên nghĩa chính xác của nghĩa đen để có thể liên tưởng đến những điều nó có thể gợi ra. Đặng Huy Giang viết như trên không gợi ra điều gì. Sao cái chuyện “Nghẹt thở vì chờ  đợi” lại “chẳng hề hấn gì” bởi “quá khứ vẫn giật mình theo bước chân con trẻ”? Đây là một suy tư lẩn thẩn, nghĩ ngược. Nếu coi sự kẹt đường biểu đạt sự trì trệ của cuộc sống hiện tại thì phải cần sự đổi mới với những giải pháp mới, hiện đại, phù hợp, chứ không phải là “quá khứ”. Quả đúng là “thơ mới chả thẩn”!
Bài “Họ nhà rùa” là bài thứ hai của Đặng Huy Giang được giải là bài khá hơn, và có thể là khá nhất về mặt cách viết trong tất cả những bài được giải. Tác giả có nhiều dụng công đưa ra một kết cấu tượng trưng, dùng hình tượng con rùa với tất cả những phẩm chất được tượng trưng hóa, huyền thoại hóa về nó, biểu đạt một thực tế của cuộc sống, đó là cái nền tảng thấp nhất nhưng không có nó làm giá đỡ, nhiều giá trị khác không đứng được. Bài này về mặt cấu tứ hao hao như bài “Những nhịp cầu” của tôi đã đăng trên Văn Nghệ trước cuộc thi, nhưng tầm khái quát hạn hẹp hơn, bởi  hình ảnh con rùa chỉ có thể là biểu tượng của sự chắn chắn, sự kiên trì, sự  hy sinh … chứ chưa phải là biểu tượng của sự sinh sôi và phát triển. Giống như bài trên, tác giả có năng lực suy tư nhưng năng lực ngôn ngữ còn yếu. Ngôn ngữ tượng trưng thường là ngôn ngữ chắt lọc, có khả năng gợi mở, chừa chỗ cho sự liên lưởng của độc giả, đằng này tác giả lại viết quá rườm rà, quá chi tiết, khiến người đọc nghĩ con rùa tác giả viết ra là con rùa thật chứ không còn là ngôn ngữ ký hiệu, biểu tượng của thi ca nữa.
       Những giải thấp hơn, một bài viết không thể phân tích hết được, tôi chỉ nói một điều rất dở chung là, đó là việc ta thấy rất rõ bóng dáng thơ ca của những tác giả lớp trước trong đó. Sự ảnh hưởng, tương đồng giọng điệu là điều bình thường, nhưng sẽ là không bình thường khi có sự sao chép, sự lặp lại với những motif  biểu cảm đã thành mòn cũ. Về mặt thi pháp, chúng cũng chưa thoát ra khỏi những giới hạn, những điều mà tôi đã viết trong một bài viết dài “Hành trình thơ ca”. Nếu thơ ca kháng chiến có bước tiến là đã thoát ra khỏi được quy phạm khuôn mẫu gò gẫm của thơ cổ, có khả năng phản ảnh được mọi mặt của cuôc sống, nhưng còn điểm yếu là: bút pháp tả thực bị lạm dụng. Rất, rất nhiều tác giả đã biến thơ ca không phải thành thơ điệu nói mà là lời nói, thường dùng cách nói trực quan, kể và tả, ít khơi gợi, phải dùng quá nhiều chữ, nhiều câu chỉ để diễn giải một ý, dùng nhiều công sức chỉ để nói ra những điều hiển nhiên, ý thơ đơn tuyến, ít dụng công, ít có cấu trúc mạng liên tưởng mở rộng biên độ những ý nghĩa…
          Tôi đến với cuộc thi thơ này đơn giản là vì sau khi đăng bài Những nhịp cầu cho tôi, Nguyễn Quang Thiều gọi điện bảo ông Hữu Thỉnh khen và bảo kỳ này bảo Đông Là dự thi đi. tôi gửi 8 bài, đã được chọn đăng 6 bài, với những cách viết khác nhau, trong đó có bài Cánh đồng quê. Chúng đã được khá nhiều bạn viết, bạn đọc đánh giá cao. Ông bạn Lê Huy Mậu (tác giả lời ca khúc Khúc hát sông quê chắc có sau thời gian tôi viết bài này) còn làm cả một bài thơ về bài này tặng tôi. Nhà thơ Hải Như, tác giả lời ca khúc Thành phố hoa phượng đỏ, đã đi hỏi số điện thoại của tôi nói: “Nếu tôi có quyền tôi sẽ cho anh giải nhất”, ông khen là thơ tôi “hiện đại mà giản dị” không như thơ Nguyễn Quang Thiều “hiện đại mà rối rắm, bắt chước nước ngoài”. Một người nữa cũng so tôi với Nguyễn Quang Thiều chính là anh TS Dung, ở Trường KHXH&NV TPHCM, từng đoạt giải học sinh giỏi văn Miền Bắc, nói là: “Đọc thơ anh rồi không còn đọc được của ai nữa. Thơ anh đã đạt được sự giản dị không như thơ nguyễn Quang Thiều”. Nếu hiểu thì phải biết trong lý luận phê bình những câu khen “đạt được sự giản dị” là rất cao, cũng như người ta khen một tác phẩm “đã trở thành cổ điển” nghĩa là những tác phẩm đã thành “bất tử”. Bởi “đạt được sự giản dị” cũng giống như sắc đẹp không cần son phấn của một thiếu nữ, bởi má bồ quân rồi thì còn cần gì son với phấn! Tất nhiên, đó cũng chỉ là những ý cá nhân mà thôi. Tiếc là những bài thơ của tôi lại bị loại ngay từ vòng sơ khảo. Tôi vốn quen với Giáo sư Trần Đình Sử, sau khi nghe tôi trình bày, ông cũng phải ngạc nhiên không hiểu sao lại như vậy! Tại sao ư? Tôi nghĩ, có lẽ do trong số những người có quyền lựa chọn, những người chấm giải, còn có nhiều người chưa thể phân biệt được những khác biệt tế nhị trong văn chương: giữa cũ và mới, thấp và cao, nhỏ bé lọn mọn với lớn lao; giữa sắc thái bình dân với sắc thái trí tuệ, câu thơ đại ngôn với những câu có tính khái quát lớn, môi mép uốn éo với sáng tạo ngôn ngữ, lập dị với cách tân đổi mới…và, liệu có sự  thành kiến cá nhân và sự không công tâm không? Giáo sư Trần đình Sử vốn là người chuyên viết về thi pháp, nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng, việc thẩm định chính xác sự hay dở, cao thấp của thơ hiện đại là vô cùng khó; ông lại đánh giá cao tôi về mặt này, nên  ông đã khuyên tôi nên viết một bài cho cái chung, góp thêm tiếng nói để nhận diện thơ ca hôm nay. Nhưng thú thật là tôi rất ngại, dù đã viết tương tự không ít lần.
Bởi thuốc đắng giã tật sự thật mất lòng, tôi biết mỗi lần viết như trên  là tôi lại đi gây thêm thù, chuốc oán. Nhưng đắn đo mãi lại hì hục ngồi viết, vì nghĩ, nếu tất cả mọi người phó mặc để mọi chuyện trôi qua, người sáng tác thực sự không biết phấn đấu như thế nào, khi sự hay dở, cao thấp bất phân minh và không có cơ sở vững chắc để thẩm định.                                                                                                
   Bình Thạnh
    15-2-2001 
   (Đã đăng trong cuốn Biên độ của trí tưởng tượng,
có sửa và viết thêm mấy chữ)

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 1 năm 2015

ĐẠI TÁ “BÒNG, BƯỞI” VÀ LŨ THƯƠNG VAY, KHÓC MƯỚN

ĐẠI TÁ “BÒNG, BƯỞI” 
VÀ LŨ THƯƠNG VAY, KHÓC MƯỚN    
Tôi lại vừa nhận được một email này:
Gửi bác, Trinh Giang binhtrinhgiang@yahoo.com, 4:16 PM (15 hours ago)
Dear bác,
Em search từ khóa Dong la la thang nao thấy ra cái bài với comment của nhiều người quá. Em bức xúc thay cho bác nên gửi để bác tham khảo, bác đọc kiên nhẫn nhé”.
  Cảm ơn bạn đã “bức xúc” thay cho tôi nhưng nói cho bạn yên tâm tôi chẳng có một tí bức xúc nào cả. Bởi ta chỉ nên bức xúc trước những điều có thể làm ảnh hưởng đến cuộc sống của ta. Nếu có người chính danh có tâm, có trí chỉ ra đúng cái sai của mình, mình mới phải quan tâm, sửa chữa. Còn những kẻ biết phạm pháp mà vẫn đâm đầu vào rồi bị bắt thì mới là những thằng ngu. Bạn nên lo lắng cho bọn đó thì đúng hơn không cần phải “bức xúc” giúp tôi! Vì tôi viết không những không bị bắt mà còn được “Trung ương” gởi thư chúc tết đây. Có bao nhiêu nhà văn được như vậy?

Còn những comment của “nhiều người quá” mà bạn viết tôi biết đó là ở trên trang của tay đại tá “bòng, bưởi”. Tôi đã viết không chỉ một lần, khi phê phán ai đó nếu họ phản bác tôi sẽ đăng bài của họ ngay trên trang của tôi và tôi sẽ tranh luận đến cùng, kể cả việc họ chắc chắn thấy tôi sai, xúc phạm họ, họ kiện thì tôi cũng sẽ sẵn sàng ra hầu tòa. Tôi đã phê phán rất nhiều người nhưng tất cả phải im lặng chịu đựng nghĩa là tôi đúng nên họ không thể làm gì được. Còn thương vay, khóc mướn, bọn comment nặc danh, núp danh bầy đàn chửi bậy như lũ sâu bọ rắn rết chuột chù, tôi có coi chúng là người đâu, sao tôi lại phải bận tâm, mất thì giờ quan tâm?
  Còn tay Bùi Văn Bồng trong giới văn chương, báo chí nên tôi có biết tên từ lâu, nhưng không phải hạng mà tôi quan tâm viết về cái gì và viết như thế nào, giờ lại thấy dấn thân vào con đường “rân trủ”. Nhưng buồn cười ở chỗ xưng danh đại tá, quân phục chỉnh tề, lại đi quấy rối chính cái nhà nước cấp cho mình lợi danh thì trước hết đúng là tự phỉ nhổ mình là kẻ ăn cháo đá bát. Trông mặt phương phi, bóng mỡ, to như cái thớt, chắc lương đại tá cao, ăn nhiều, mỡ lấp hết lớp nhăn trên vỏ não rồi! Những cái sai của những cái tên cỡ Cao Xuân Huy, Trần Độ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Mạnh Hảo, Phan Huy Lê,…, mới đáng để tôi quan tâm nên biết trang của thằng đại tá “bòng, bưởi” ném đá mình tôi vẫn không làm sao mà chú ý được đến cái thằng “mặt thớt” này. Rất may vô trang trelangblogspotcom của bạn Vũ Hoàng Sơn lại thấy bạn đọc ở đây vẽ chân dung “bòng, bưởi” chân thực và sống động quá, xin mượn về giới thiệu tại đây thì thật là tiện:
Nặc danh says:
11:00 31/07/2014 Reply
Anh Bồng trông cũng to béo như Hà Vũ nhỉ.
13:13 31/07/2014 Reply
buổi trước em tìm hiểu về vụ này http://vinhquangsoiduong.blogspot.com/2014/07/chuyen-me-pham-thi-lanh-va-su-khon-nan.html mà thêm ức chế bài trên blog của tay Diện . Bọn này thật mất dậy
13:54 31/07/2014 Reply
Công nhận thằng nặc danh nói đúng. hai tay này đều có gì đó về hình thức giống Cù Huy Hà Mã và về nội dung thì tâm thần hoang tưởng.

20:02 01/08/2014 Reply
Thằng Diện mặt l. Nguyên là cán bộ trường tớ - SQLQ
Không dám vác mặt về quê đâu. Dân đánh bỏ mẹ
Nặc danh says:
21:18 01/08/2014 Reply
Tay Bồng này nguy hiểm hơn Diện nhiều . Nhìn mặt Bồng là thấy hiện lên hàng chữ : hèn nhát, phản trắc, tráo trở, thâm hiểm .
22:25 01/08/2014 Reply
Bồng, hay Bòng, Bưởi là một - cơ hội
Họ và tên thật : Bùi Văn Bồng
Bút danh khác: Chu Mã Giang
Sinh ngày 03-3-1953
Quê quán: Thôn Duyên Hy, xã Định Hưng, huyện Yên Định. Tỉnh Thanh Hóa
Khóa 15, khoa Ngữ Văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Đại tá quân đội, nguyên Trưởng Đại diện báo Quân đội nhân dân tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh.
Hội viên hội Nhà văn thành phố Cần Thơ
Hội viên hội Nhà báo Việt Nam.
Hiên sống tại Hưng Lợi, Ninh Kiều, Cần Thơ.
Tũn says:
22:26 01/08/2014 Reply
BÒNG VỚI CHẢ BƯỞI - NGU NHƯ LỢN
Chưa kịp bàn về chuyện tự trọng của cô giáo và hai em bé thì lại gặp mớ giẻ lau có tên là Bùi Văn Bòng. Đúng là ngu vãi sử.
Bùi văn Bòng Bưởi vừa mới có bài tán dương: "cảm phục hành động của tướng Nguyễn Cao Kỳ đã là Tư lệnh Không lực Việt Nam cộng hòa mà trực tiếp lái máy bay F4 ra đánh phá Hàm Rồng (Thanh Hóa)".
Tán dương thì kệ mẹ Bưởi, nhưng lại Bưởi lại so tướng trẻ Cao Kỳ với cụ già Lê Đức Thọ khi cụ lên chốt 13 Khau Chỉa (chống Tàu xâm lược) thăm lính, đi hết nổi phải có người cõng.
Bưởi ngu nên Bưởi không biết rằng Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay AD6 (không phải F4), ngày 8-02-1965, bắn phá cột cờ tại cầu Hiền Lương (Vĩnh Linh, bấy giờ thuộc Quảng Bình), nhưng pháo cao xạ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắn trả bị thương, Kỳ không ngu như Bưởi đâu nhá, đéo dai mà mon men tới chảo lửa Hàm Rồng, vả lại năm ấy (1965) Kỳ mới 35 tuổi.
Cái ngu của bòng Bưởi là ở chỗ lại đi so với ông già Thọ ra trận, Bưởi có biết ông Thọ năm ấy bao nhiêu tuổi, trải qua ngục tù thế nào chưa, Bưởi có lăn lên được cái điểm cao ấy không?
Hơn nữa Bưởi đéo biết rằng Kỳ nghiện lái máy bay, đi làm và tán gái cũng bằng máy bay, Bưởi khen thế, khác gì khen anh lái tắc xi chịu khó lái ô tô.
Bưởi mon men làm "rân chủ" nhưng trong đầu đèo có tép kiến thức nào, toàn cùi bưởi.
Đúng là ngu như lờn. Ấy chết, anh xin lỗi, ý anh là ngu như lợn. Vì nói ngu như lờn là xúc phạm cái lờn.
À, nhân chuyện này, bạn nào rành thì chỉ cho mình biết với, cùng là cái lờn, nhưng có cái thì sinh ra Bà Trưng, Bà Triệu, nhưng tại sao lại có cái sinh ra Bòng Bưởi nhỉ?
10:55 02/08/2014 Reply
Gia Minh là thằng b. nào thế hả?
Công Còi says:
15:06 02/08/2014 Reply
Em đéo biết gia minh là thằng nào, nhưng thằng diện phò thì em đéo lạ. Thằng diện chuyên bám váy đàn bà, nhất là con rồ Lê hiền đức, và con phò phạch bùi minh hằng.
Một hôm theo con phương bích, nhưng con BÍch cao tay hơn, và gai giáo hơn, nển tránh được thang gay này.
batistrung says:
10:43 02/10/2014 Reply
thật tội nghiệp cho Bồng bưởi, con ruột thì xi ke, buồn đi nuôi con tu hú vợ hờ rồi nghỉ hưu cũng bị đá đít.
Nặc danh says:
21:58 07/10/2014 Reply
Được giao chức Trưởng đại diện báo QĐND tại Cần Thơ được ít thời gian, Bùi Văn Bồng hy vọng được điều
ra Hà Nội và lên làm phó tổng BT báo QĐND, nhưng do phẩm chất, ý thức tổ chức kỷ luật không đáp ứng để lên chức, không được như ý, Bồng trở nên bất mãn và lập Blog để quậy. Nghe đâu không ít lần CA đã mời đến cơ quan nhắc nhở, cứ hóng tin bài trên mạng mà bình vô tội vạ sẽ có ngày gặp vạ đấy Bồng ơi!
Thiên Chúa says:
08:46 31/12/2014 Reply
Sau Lập lẽ ra là Diện.
Nghe không chắc chắn, có người nói, Nguyễn Quang Lập khai ra Nguyễn Ngọc Già?



Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015

TRÁI ĐẤT TRÒN

ĐÔNG LA
TRÁI ĐẤT TRÒN
 
(Tướng Doanh, Đông La)
Cách đây mấy hôm tôi nhận được điện thoại của tướng Nguyễn Ngọc Doanh:
-Anh Đông La, mình đang ở làng Đông La đây, mình gặp được Phẫu rồi! Mấy anh em đang chuẩn bị vào nhà Phẫu ăn cơm đấy!
Tôi chỉ còn biết kêu lên trong đầu đúng là trái đất tròn! Trong mênh mông biển người, đúng là con người ta gặp nhau đều có cơ duyên cả, do một sự xếp đặt huyền linh nào đó.
Tôi vốn không biết Tướng Nguyễn Ngọc Doanh, nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, hiện là Giám đốc trung tâm thông tin Tìm kiếm Hài cốt Liệt sĩ thuộc Hội Hỗ trợ gia đình Liệt sĩ Việt Nam. Tôi cũng không quen cô Vũ Thị Hòa. Nhưng khi tôi viết về sự sai trái của Chương trình trở về từ ký ức trên VTV, cả đệ tử của cô Vũ Thị Hòa và Trung tâm của Tướng Doanh đã liên lạc hẹn gặp tôi. Vì vậy tôi đã gặp tướng Doanh tại nhà ông cùng với vị phó của ông là anh Trịnh Duy Sơn, để nghe họ nói về vụ quy tập hài cốt các liệt sĩ đã hy sinh tại trận đánh căn cứ biệt kích Cần Lê (Tống Lê Chân) mà họ chính là những người trong ban tổ chức, đã nhờ cô Hòa.
Tướng Doanh cho tôi biết, qua một đồng đội tên là Miên, ông đã tìm cách gặp được cô Hòa. Khi cô còn hoàn toàn chưa biết gì về cái tên Cần Lê hay Tống Lê Chân nhưng cô đã nói cho ông ghi chép tên các liệt sĩ, các vật dụng dưới mộ, kích thước hố chôn. Từ tất cả những thông tin đó, việc quy tập đã được tiến hành với kết quả đúng như lời báo trước của cô Hòa, đặc biệt tên trên các di vật cũng có đúng trong Danh sách Liệt sĩ Quân đoàn 4 hy sinh tại Cần Lê. Chính vì vậy vị tướng già từng xông pha chiến trận, thương tật đầy mình, đã nói với tôi: “đúng là mình cũng không hiểu”; “đặc biệt là người ta ngồi ở Q 12 mà lại nhìn được ở tận Tống Lê Chân, nói những sự vật nào thì đào lên đúng như thế… thế mới giỏi”! Và cũng vì vậy Tướng Nguyễn Ngọc Doanh mới gởi kiến nghị tới Tổng Cục Chính trị: “Nếu không đúng là hài cốt liệt sĩ đề nghị Bộ Quốc phòng cho điều tra mở Tòa án Quân sự xử bắn tôi trước 164 liệt sĩ trên”!
Những chuyện đó tôi đã viết không chỉ một lần, hôm nay tôi muốn nói về cái chuyện thú vị dẫn đến chuyện tại sao Tướng Doanh lại có mặt ở chính làng Đông La, quê tôi, nói ở trên, cái làng mà tôi đã lấy làm bút danh và khiến tôi thành danh.
Số là lần đầu gặp ông ông cho biết đã bị thương tật đầy mình, có lần bị vào quai hàm làm ông bất tỉnh, đồng đội đã đưa ông xuống huyệt, phủ lá, chuẩn bị lấp đất, có người canh để kỳ đà không ăn xác ông. Nhưng trước khi lấp, một người đã sờ bàn chân ông thấy nóng nên đã mang ông lên. Ông nói: “Vì thế hôm nay mới còn để mà  tiếp chuyện Nhà văn Đông La”. Sau đó chuyện trò đủ thứ, ông hỏi quê quán, biết tôi ở Hải Dương, ông bảo hồi đầu vào chiến trường đơn vị ông có nhiều người quê Hải Dương, dường như có người còn cùng làng, xã, huyện của tôi luôn. Ông hỏi tôi có biết anh Phẫu không? Xóm tôi quả là có anh Phẫu con ông Chậu, nhà phía tay trái nhà tôi, cách có một nhà là ông Chố, em ruột ông Chậu. Anh Phẫu còn lớn hơn anh cả tôi, đi bộ đội từ khi tôi còn rất nhỏ, có em là Phường cùng tuổi, cùng học từ lớp một với tôi. Với đám bạn như Phường thì như ngôn ngữ bây giờ tôi là siêu sao, đơn giản là vì tôi học giỏi, mà cái giỏi của tôi hoàn toàn là tự nhiên không phải “luyện gà chọi” như bây giờ. Tôi đã trả lời Tướng Doanh là có biết anh Phẫu, nhưng không thể ngờ là anh Phẫu cùng xóm tôi, vì với Tướng Doanh đã 50 năm, ông không thể nhớ chính xác tên làng quê đồng đội mình.
Nhưng không ngờ rằng cách đây mấy ngày Tướng Doanh đã gọi cho tôi khi đang ở chính làng Đông La, quê tôi, đã gặp người đồng đội, chính là vị ân nhân cứu mạng ông, bởi trước khi lấp huyệt, cũng chỉ vì không muốn chôn đi đồng đội mình nên đã hy vọng, đã cẩn thận sờ chân ông lần cuối và mới thấy còn nóng, và vì thế Tướng Doanh mới nói “hôm nay mới còn để mà  tiếp chuyện Nhà văn Đông La”. Người đó chính là anh Phẫu con ông Chậu cùng xóm tôi, nơi tôi đã lớn lên từ ấu thơ, cuốn “Những dấu vết không phai” chính là tôi đã viết về nơi chốn ấy! Tướng Doanh còn đến tận nhà ông anh tôi, nói sao anh em giọng nói giống nhau quá!
Trái Đất đúng là tròn. Tướng Doanh đâu có ngờ sau 50 năm lại gặp người cùng xóm với người từng cứu mình lên từ dưới huyệt mộ trước khi lấp đất tại một cánh rừng! Tại sao tôi lại gặp cô Vũ Thị Hòa, lại gặp Tướng Doanh? Những người theo lẽ thường thì tôi không gặp họ để làm gì cả. Nhưng rồi tôi đã gặp và đời tôi đã gặp bao người rồi? Phải chăng mọi cuộc gặp gỡ đều có cơ duyên. Nhưng duyên nào lành, duyên nào dữ? Với tôi thì tiếc là duyên dữ lại nhiều hơn. Đến thằng Nhà văn Nguyễn Quang Thiều mới hôm nào gặp gỡ, chào mời, cũng lại “chơi” tôi luôn thì tình người trong thời thực dụng này đúng là chán thật! Nó còn tính bỏ tiền in sách cho tôi nữa chứ. Đến hôm nay thì tôi mới biết đó chính là cái giá nó mua việc tôi viết về thơ nó cho cuộc Hội thảo về thơ nó mà nó đã móc với thằng Nguyễn Đăng Điệp, Viện trưởng Viện Văn, tổ chức tại Viện Văn. Phải chăng đó chính là việc Thiều tự đánh bóng tên tuổi, dọn đường hất ông Hữu Thỉnh về vườn để lên làm Chủ tịch Hội Nhà Văn thay ông Thỉnh? Có thể Nguyễn Quang Thiều sẽ thành công. Với luật đời thì chẳng có pháp luật nào lại bỏ tù khi Nguyễn Quang Thiều chơi xấu bạn văn Đông La cả. Nhưng với luật nhân quả của thế giới tâm linh thì công minh hơn, không chỉ những hành động xấu mà mỗi ý xấu, lới nói xấu cũng đã tạo nghiệp nặng và sẽ phải trả giá rồi! Tiếc là người đời đa phần chỉ coi cái được của cõi tạm là quý giá, bất chấp mọi chuyện để tranh đoạt mà không sợ quả báo!
22-1-2015
ĐÔNG LA