Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

NGUYỄN HỮU TÍN - BẠN TÔI


ĐÔNG LA
NGUYỄN HỮU TÍN - BẠN TÔI

Phải đến bây giờ, khi Nguyễn Hữu Tín, cựu phó chủ tịch TP.HCM, bị “xuống chó”, bị “ngã ngựa”, tức bị khởi tố, tôi mới dám khoe mình có một người bạn làm quan to đến thế. Còn khi nó đương chức, tôi khoe ra, nếu nó biết rất có thể nó sẽ trợn mắt lên hỏi: “Mày là thằng nào mà dám khoe là bạn một ông Phó Chủ tịch Tp HCM”! Dù rằng về danh tiếng Tín chỉ được biết  trong giới công quyền TpHCM, còn tôi với tư cách là một nhà văn có trang blog dù bị chặn, vẫn có hàng triệu độc giả trên khắp thế giới vào đọc, và có không ít người hâm mộ không chỉ là người thường mà còn có cả đại trí thức, danh nhân.  Tôi vốn là người coi trọng tài năng chứ không coi trọng quyền chức. Còn Nguyễn Hữu Tín tôi biết chắc chắn Tín không có tài gì cả. Trong chốn quan trường mà lợi ích công tư nhập nhằng như ở VN, nếu Tín giữ được trong sạch thì cũng đáng nể, tiếc là với thông tin đang tràn ngập trên các báo thì Tín không được như thế.
Tôi là bạn Nguyễn Hữu Tín theo nghĩa đen dù không một chút thân tình nào, đó là bạn học, bạn đồng khoá đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp TPHCM. Tôi học khoa Hoá, Tín học khoa Lý; Hoá và Lý rất gần nhau, bản thân tôi phải học vài học phần bên khoa Lý, nên hai khoa rất biết nhau. Có một khoa mà nhiều khoa để ý là khoa Sinh đơn giản là vì có nhiều con gái. Tính tôi ít nói, ít giao thiệp, nên nhiều người không biết tôi, ngược lại tôi lại hay để ý, như bản tính của một nhà văn tương lai. Tôi chú ý nhất khoa Sinh có cô Hiếu Dân vì là con ông Võ Văn Kiệt. Hiếu Dân người đậm, mặt to, trắng. Tiếp đến tôi chú ý khoa Sinh có hai cô Mỵ, Nương sinh đôi giống hệt nhau có nét “lai Tây”; và một người nữa tôi chú ý là cô Lan Anh. Lan Anh tuy da ngăm đen, môi hơi thâm nhưng gương mặt xinh xắn và có cái răng khểnh rất duyên. Nguyễn Hữu Tín chắc chắn để ý Lan Anh nhiều hơn tôi vì sau đó Tín đã lấy Lan Anh làm vợ, không biết vì nhan sắc hay vì Lan Anh con ông Lê Quang Chánh là Phó Chủ tịch TPHCM (tôi nhớ chắc chắn nhưng có thể lầm vì đã quá lâu). Ngày ấy với Tín là một phúc lớn. Trong mắt chúng tôi Nguyễn Hữu Tín hồi ấy da đen, ham đá bóng, không có dấu hiệu gì để có thể trở thành một ông quan to, một chính khách cả. Nếu nói có thiên hướng về chính trị thì hồi ấy khoa Lý có ông Cúc, một bộ đội lớn tuổi đi học, là một trong vài sinh viên được bầu vào Đảng uỷ nhà trường. Sau này ông Cúc về Đồng Nai cả đời chỉ lên được một chức rất khiêm tốn, ngược lại, “thằng Tín ham đá bóng” lại lên được tới chức Phó Chủ tịch TPHCM. Nếu Tín không là con rể ông Lê Quang Chánh, chắc chắn không thể lên được như thế, cũng như Nguyễn Xuân Anh, không là con ông Chi, nguyên Uỷ viên BCT, không thể lên được chức Bí thư Đà Nẵng. Đó chính là sản phẩm của lỗi hệ thống của đất nước chúng ta. Nó không phải do “cộng sản độc tài” như những thế lực chống VN nói mà do bản tính phong kiến của dân ta từ ngàn đời còn rơi rớt lại. Như Đệ nhất VNCH được nước Mỹ dân chủ dựng lên để chống cộng nhưng chế độ Ngô Đình Diệm không chỉ cha truyền con nối mà còn là cả gia đình trị.
Khi đương chức, quyền lực ngút trời, quyết những điều phạm pháp, như Đinh La Thăng, chắc Tín không bao giờ nghĩ có ngày mình bị khởi tố, nhà mình bị công an khám xét. Nhưng tại sao lại như vậy?
Theo các báo, trong giai đoạn làm Phó Chủ tịch UBND TP.HCM, Nguyễn Hữu Tín đã chỉ đạo các sở - ngành giao 1 số lô đất vàng trên địa bàn cho công ty CP Nova Bắc Nam 79 của Vũ “nhôm”.
Đó là lô đất số 8 đường Nguyễn Trung Trực, Q.1, có diện tích khoảng 13.000 m2. Sự việc này dẫn đến khiếu kiện việc chính quyền “tiếp tay” cho Vũ “nhôm” lấy luôn căn nhà liền kề khu đất, số 69A đường Lý Tự Trọng, của gia đình ông Nguyễn Ngọc Thanh. Căn nhà này đã được chính quyền xác lập tính pháp lý, chính quyền đã có chủ trương hoán đổi ngôi nhà cho gia đình ông Thanh để lấy đất phục vụ xây dựng thư viện Thiếu nhi TP. Thế nhưng, Tín đã ký văn bản chỉ đạo UBND Q.1 cưỡng chế hộ gia đình ở 69A đường Lý Tự Trọng để giao cho công ty của Vũ “nhôm”. Tiếp theo là khu đất số 15 đường Thi Sách, Q.1, diện tích hơn 2.300 mét vuông và khu đất nằm trên đường Pasteur, Q.1.cũng rơi vào tay công ty Nova Bắc Nam 79 của Vũ “nhôm” nhờ vào các văn bản ký duyệt của Nguyễn Hữu Tín.
Nhìn cảnh công an khám nhà Nguyễn Hữu Tín, một dẫn chứng nhãn tiền cho thấy hưởng phúc không chính đáng thì hoạ sẽ khó lường, luật nhân quả đến ngay trong hiện kiếp chứ không đợi đến kiếp sau.
            20-9-2018
            ĐÔNG LA

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

“CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC” LẤY HỒ NGỌC ĐẠI LÀM TRỌNG TÂM


ĐÔNG LA
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
 LẤY HỒ NGỌC ĐẠI LÀM  TRỌNG TÂM

Hồ Ngọc Đại tuyên bố công nghệgiáo dục của mình không lấy thầy làm trọng tâm như phương pháp cũ mà lấy trò làm trọng tâm. Nhưng như tôi đã phân tích, Hồ Ngọc Đại đã tự ý thay đổi cách đọc các chữ cái để đánh vần khấp khểnh và ngọng nghịu một cách sai trái so với những quy ước chuẩn mực của cách đọc các chữ cái dần hình thành từ bao đời (như cờ - ua qua; i-a-n iên...). Còn nhiều điều Hồ Ngọc Đại vô lý và vô nghĩa nữa tiếc là tôi lại đang bận chưa viết được. Tất cả đều chứng tỏ công nghệ giáo dục của Hồ Ngọc Đại không lấy cả thầy lẫn trò mà lấy chính Hồ Ngọc Đại làm trọng tâm.
Vậy phương pháp giáo dục lấy trò làm trọng tâm mà Hồ Ngọc Đại mượn danh thực chất như thế nào? Xin trích lại vài ý tôi đã viết khi viết về nền giáo dục VN.
***
Đã có nhiều nhà khoa học, học giả phân tích phương pháp phi lý, phản khoa học của nền giáo dục VN.
     Đó là phương pháp giáo dục thụ động, thầy đọc trò chép, nhồi nhét, học vẹt; đó là mặt tiêu cực của tâm lý Á Đông coi thầy như cha, thầy nói trò phải nghe, thầy dậy gì trò được biết nấy, phương pháp lấy thầy làm trọng tâm … Tất cả đã tiêu diệt khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo của học sinh. Vậy điều cần thiết là phải làm ngược lại theo phương pháp giáo dục tiên tiến của những nước phát triển. Một tác giả ở Úc cho biết phương pháp của họ là lấy trò làm trọng tâm (learner based approach). Khi học, trò tự do thảo luận với sự hỗ trợ tối đa của thầy. Một du học sinh ở Anh cho biết trước khi đến Anh: “Trước một sự kiện, phản xạ tự nhiên của tôi là What, Who và cũng chỉ dừng ở đó. Nhưng với người Anh thì khác. Tiếp ngay sau What? Who? sẽ là Why? Đối với họ, câu hỏi Ai? Cái gì? rất quan trọng, nhưng câu hỏi Tại sao? còn quan trọng hơn nhiều. Câu hỏi Tại sao dẫn ta đến nguyên nhân, bài học mà nhờ đó lần sau ta sẽ thành công lớn hơn hay tránh được sai lầm đã mắc”. Một giáo viên ở Mỹ cho biết ngay từ bậc tiểu học đã chú trọng đến lối suy nghĩ phân tích (critical thinking), tạo cho các em chủ động. Khi học về số bình quân thì các em tự đi hỏi về chiều cao của bạn học; ăn những viên kẹo sô-cô-la M&M đủ mầu cũng cho các em về khái niệm xác xuất thống kê; để tìm tỷ lệ ô-xy trong không khí thì các em làm ngay thí nghiệm dùng nước, đèn cầy, lọ thủy tinh… rồi tính toán. Một tác giả khác cho biết một em gái 12 tuổi chọn thuyết trình về đề tài “Hồng quân Trung Quốc”. Em đã đến thư viện tìm đọc các sách báo và xem tất cả cuốn băng video nói về hồng quân. Sau mấy tuần lễ miệt mài như thế, em kết luận : “Sách báo, phim ảnh nói về đề tài này không thống nhất gì cả”. Em muốn gặp và phỏng vấn trực tiếp một chiến sĩ hồng quân thứ thiệt”.
      Cũng có nhiều ý kiến về sách giáo khoa, cho nội dung SGK vừa nặng lại vừa yếu, đầy tính ''hàn lâm'' nhưng ít tính ứng dụng, thực hành, không hỗ trợ tốt cho học sinh phát triển năng lực sáng tạo. Sự biên soạn sách giáo khoa vô cùng quan trọng. Một cuốn sách được soạn tốt, đọc đến đâu hiểu đến đấy thì việc học nhiều không phải là gánh nặng mà là sự thú vị. Trái lại, một cuốn sách soạn dở, người đọc không hiểu, mà khi đã không hiểu thì dù có học ít bao nhiêu cũng sẽ là quá tải. Sự khó hiểu đối với tri thức không chỉ vì nó cao sâu mà còn vì sự truyền đạt. Một vấn đề hóc búa, có khi ta không hiểu một tí gì khi đọc ở cuốn sách này nhưng lại hoàn toàn có thể hiểu khi đọc một cuốn sách khác. Vậy việc biên soạn sách giáo khoa cần phải giao cho những người có trình độ cao, có kinh nhiệm giảng dạy, có khả năng diễn đạt mạch lạc, phải hiểu được khả năng tiếp nhận của học sinh; cần chú ý sự giải thích, tránh nói tắt, làm sao học sinh khá trở lên có thể tự hiểu, người thầy chỉ cần hỗ trợ. Cũng giáo viên ở Mỹ đã nhắc ở trên cho biết: “Một cuốn sách giáo khoa ở Hoa Kỳ rất đầy đủ. Sách các môn chính của bậc trung học như Anh ngữ, toán, khoa học thực nghiệm, khoa học xã hội thường dầy trên 500 trang vì ngoài phần giảng giải kiến thức chính, còn phần bài tập, ôn luyện đều có đủ trình độ từ dễ đến khó để học sinh nào muốn học hỏi thêm có thể dùng sách nhà trường cung cấp mà không phải mua thêm sách ở ngoài”.  
Như vậy giảm tải là giảm sự nhồi nhét, học vẹt, thay đổi phương pháp đánh giá dẫn đến lối học vẹt như thế, chứ không phải là giảm gọn giáo trình. Nếu chỉ cắt gọt một cách cơ học đơn giản là đã chủ động tạo ra những lỗ hổng kiến thức, trong khi sự phát triển của tri thức là một hành trình liên tục. Tôi cũng đã viết, người ta không thể chỉ biết cái cũ mà không biết cái mới, bởi cái cũ hôm qua là đúng thì hôm nay không còn hoàn toàn đúng nữa; nhưng người ta cũng không thể chỉ biết có cái mới, bởi để hiểu được cái mới người ta cần phải biết cái cũ.
14-9-2018
ĐÔNG LA

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2018

HỒ NGỌC ĐẠI- NHÀ NGHIÊN CỨU TÂM HUYẾT HAY KẺ PHÁ HOẠI


ĐÔNG LA
HỒ NGỌC ĐẠI- NHÀ NGHIÊN CỨU
TÂM HUYẾT HAY KẺ PHÁ HOẠI?

Theo tin các báo:
“Bộ GD-ĐT cho biết, Tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục (TV1- CNGD) là kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của một số nhà khoa học, đứng đầu là GS.TSKH Hồ Ngọc Đại thông qua các đề tài nghiên cứu và được áp dụng vào dạy học ở Trường Thực nghiệm Giảng Võ, Hà Nội.
Bộ đã tổ chức Hội đồng thẩm định quốc gia Tài liệu TV1- CNGD. Sau 2 vòng thẩm định, Hội đồng thẩm định đã đánh giá: Tài liệu TV1- CNGD về cơ bản đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ GD-ĐT). …
Căn cứ kết quả khảo sát, đánh giá của Viện KHGD Việt Nam và ý kiến kết luận của Hội đồng thẩm định Tài liệu TV1-CNGD, Bộ hướng dẫn các sở GD-ĐT triển khai Tài liệu TV1-CNGD phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trên nguyên tắc tự nguyện…
Theo Bộ GD-ĐT, Tài liệu TV1-CNGD là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhất là với học sinh vùng khó, vùng dân tộc thiểu số”.
***
Ta hãy xem vài ví dụ về cái “công nghệ” đánh vần của ông Đại.
Trước hết chúng ta cần phải hiểu “đánh vần” xuất phát từ việc các cháu lớp vỡ lòng chưa biết chữ nên các bậc tiền nhân mới phát minh ra cách đánh vần phù hợp để dạy các cháu học chữ.  Đó là việc phải đọc từng chữ cái để ghép thành một “vần” (một âm tiết), như chữ “uynh” phải đánh vần là u-y-nhờ “uynh”. Tất cả đã thành tri thức giáo dục ổn định, như thế hệ tôi học vỡ lòng từ đầu những năm 1960 hoàn toàn dễ dàng tiếp thu. Vậy mà ông Đại lại đưa ra cái "công nghệ đánh vần", biến đánh vần u-y-nhờ "uynh" thành u-ynh "uynh", nghĩa là không phải đánh vần, mà là ghép chữ “u” với chữ “ynh”.
 Đặc biệt chữ “iên” ông Đại đánh vần là i-a-nờ  “iên”. Ở đây ông ta đã tự ý đọc chữ “ê” thành âm “a”, rồi khiên cưỡng cố lái âm “an” thành “ên” để ghép với “i” ở trước thành âm “iên”. Với tất cả các chữ “ê” trong các “yên”, “iết”, “iếc”, “yêm”, v.v… cũng như vậy. Tương tự, ông Đại cũng đọc chữ “ô”, chữ “ơ” thành âm “a”.
Ông Đại cần phải hiểu cách đọc chữ cái là quy ước, như chữ “ê” phải đọc là “ê” chứ không thể đọc là “a”, tất cả đã được dần hoàn chỉnh từ bao đời, đã trở thành thói quen, thành tập tục, thành tri thức và văn hoá. Rồi một chữ nghĩa như thế phải là như thế, không ai có thể hiểu nghĩa khác được. Như viết “ông GS Đại” là chỉ “ông GS Đại”, không thể hiểu thành một “tên đạo tặc”, “tên phá hoại" được.
 Nhưng với việc ông Đại tự ý đọc chữ “ê”, chữ “ô”, chữ “ơ” thành âm “a” thì đúng là có thể coi ông là một kẻ phá hoại những gì đã thuộc về tri thức ổn định của tiếng Việt.
Vậy mà Bộ Giáo dục từ bao đời, bao nhiêu cục, vụ, viện; bao nhiêu GSTS, v.v… ngốn biết bao tiền thuế của dân, đã không nhìn ra những sai lầm hiển nhiên của ông Đại, ngược lại lại kết luận là “đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 1”! Thật ngao ngán thay cho nền giáo dục VN!
Los Angeles
8-92018
ĐÔNG LA

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

DU LỊCH SAN FRANCISCO

ĐÔNG LA
DU LỊCH SAN FRANCISCO
Sau đám cưới, vợ chồng ông con nghỉ 10 ngày “honeymoon” tại Hawaï, về bảo sẽ đưa vợ chồng tôi đi nốt San Francisco, sau khi đã đi hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế, giải trí, ăn chơi của nước Mỹ: Los Angeles, Washington, Philadelphia, New York, Las Vegas.
Sáng 5-9, chúng tôi lên đường, sau khoảng 6 tiếng chạy xe hơi theo đường gần hơn so với đường ven biển, chúng tôi đến nghỉ tại một khách sạn ở ngoại vi San Francisco .
 San Francisco nằm trên  vịnh San Francisco nổi tiếng với những cây cầu rất dài bắc qua các eo biển mà nổi tiếng nhất là cầu cổng vàng (Golden Gate Bridge). San Francisco cũng nổi tiếng vì những đường phố làm theo những ngọn đồi dốc. Có hơn 50 ngọn đồi bên trong địa giới thành phố. Phố Lombard là con phố rất dốc, người ta trồng kín hoa và làm con đường chữ chi ngoằn ngoèo lát gạch đỏ nghiêng cho xe đi xuống , là nơi du khách đến chụp ảnh. Ông con để ba người xuống, kiếm chỗ đậu xe ngồi chờ để cô con dâu chụp cho hai vợ chồng tôi mấy tấm ảnh kỷ niệm. Sau đó đi ăn trưa tại một tiệm ăn hải sản của Ý khá ngon. Ăn xong, thấy sương mù bớt, chúng tôi đến gần Cầu Cổng vàng chụp ảnh rồi đến công viên cũng mang tên Cổng Vàng, trong đó có một khu vực làm theo phong cách văn hoá Nhật Bản rất đẹp.
San Francisco
6-9-2018
ĐÔNG LA





 












Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

CÓ RẤT NHIỀU VIỆC CHO CÁC NHÀ NGÔN NGỮ CHỨ KHÔNG PHẢI NHỮNG CẢI TIẾN BA LĂNG NHĂNG


ĐÔNG LA
CÓ RẤT NHIỀU VIỆC 
CHO CÁC NHÀ NGÔN NGỮ
 CHỨ KHÔNG PHẢI NHỮNG CẢI TIẾN
BA LĂNG NHĂNG
Không chỉ lĩnh vực ngôn ngữ mà cả ngành giáo dục VN còn nhiều yếu kém, phi lý. Phi lý lớn nhất là chúng ta đã hàn lâm hoá, khoa học hoá ngay từ lớp vỡ lòng, như muốn đào tạo tất cả học sinh thành bác học cả vậy. Nhưng kết quả trong thực tế sẽ còn rất lâu hoặc có thể không bao giờ, nền giáo dục VN mới có thể đào tạo ra được một người đoạt giải Nobel khoa học, và cũng không biết đến bao giờ chúng ta mới có được những sản phẩm của kinh tế tri thức sánh được với thế giới. Ngược lại, ở nước Mỹ, học sinh học như chơi, có học sinh VN sang học một năm mấy lớp, vậy mà năm nào họ cũng có người đoạt giải Nobel; họ cũng có những “đại công ty” tri thức như Microsoft, Google, Facebook, v.v… đã làm thay đổi cả nền văn minh, văn hoá của nhân loại. Vì vậy Bộ Giáo dục của ta không “loanh quanh cho đời mỏi mệt” nữa mà nên chú tâm nghiên cứu cụ thể ngay nền giáo dục Mỹ để vận dụng sao cho phù hợp, không mong được bằng họ nhưng chắc sẽ có bước phát triển. Cần phải chấm dứt biết bao những công trình đổi mới giáo dục tốn kém, không chỉ vô bổ mà còn phá hoại, làm nhân dân cả nước âu lo, bức xúc đến độ phẫn nộ, hết năm này đến tháng nọ.
         Riêng lĩnh vực ngôn ngữ, nhất là liên quan đến khoa học, triết học, tôn giáo, những lĩnh vực gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tri thức từ nước ngoài, viết bằng ngoại ngữ, có rất nhiều từ ngữ, thuật ngữ, tên gọi, nếu suy xét sẽ thấy nhiều chữ ta đã quen dùng là sai, là tối nghĩa, là vô lý.
         Đã rất lâu, một ông đại tá nhà văn hỏi tôi “Thuyết Tương đối là gì?” tôi giật mình nghĩ hai chữ “tương đối” với người VN thường được hiểu là “không triệt để” để so sánh với chữ “tuyệt đối”. Nhưng “tương đối” trong Thuyết Tương đối của Einstein hoàn toàn không phải như vậy, nó chỉ “mối quan hệ” giữa “thời gian và kích thước” của một “vật thể” theo “chuyển động” (Thuyết Tương đối đặc biệt) và chỉ “mối quan hệ” của “không gian”, “thời gian” (bị “uốn cong”) bởi “khối lượng” hoặc “chuyển động có gia tốc” của “vật thể” (Thuyết Tương đối Tổng quát).  Tra cứu thấy “Thuyết Tương đối” được dịch từ “Theory of relativity”. Tra cứu tiếp thấy “relativity” xuất phát từ tính từ “relative” mà từ điển giải thích là “được xem xét trong “mối quan hệ” hoặc tỷ lệ với cái gì khác” (considered in relation or in proportion to something else). Với ý này thì hoàn toàn đúng với bản chất của Theory of relativity của Einstein. Còn chúng ta đã dịch là “Thuyết Tương đối”, nếu chỉ căn cứ theo nghĩa tiếng Việt, sẽ không ai có thể hiểu được một tí nào về Thuyết của Einstein cả.
Gần đây khi bàn về chuyện ông Vũ chủ Trung Nguyên nói về hạt higgs, về sự hình thành vũ trụ, tôi coi lại lý thuyết về “Mô hình chuẩn”. Theo đó, sau từ Big Bang, đến “kỷ nguyên Planck” (từ lúc 0 cho đến 10-43  giây), rồi đến “giai đoạn giãn nở lạm phát” của vũ trụ (thời điểm 10−36 giây), dạng vật chất đầu tiên sinh ra là plasma của các hạt quark–gluon. Các hạt quark có tính chất kỳ lạ là không chỉ có “điện tích” mà còn có “mầu tích”. “Điện tích” thì ai học hết phổ thông cũng hiểu còn “mầu tích” thì tôi tin là vô cùng ít người hiểu. Quark có 3 loại (mầu và phản mầu) và khi cộng chúng vào nhau sẽ thành trung hoà giống như trộn 3 mầu đỏ, lam, lục thành trắng vậy, nên các nhà vật lý hạt đã “mượn” từ của mầu sắc để chỉ tính chất đó của hạt quark.
Nhưng “mầu tích” nghĩa là gì? “Điện tích” ta có thể hình dung cắm dây của một thiết bị vào nguồn điện thì nó tích được điện nên có thể hiểu, còn “mầu” thì biết cắm vào đâu? Lại tra cứu thì thấy “điện tích” được dịch từ “Electric charge” và “mầu tích” được dịch từ “color charge”, cả hai đều có chữ “charge”. “Charge” vừa là động từ vừa là danh từ. Với động từ người ta thường hiểu “charge” theo nghĩa là “sạc để tích tụ điện”, nên đã dịch “Electric charge” là “điện tích”. Từ này dùng mãi rồi quen không ai chú ý cả. Nhưng khi đọc hai chữ “mầu tích” thì không thể hiểu theo nghĩa đó? Vậy phải xem lại chuyện dịch chữ “charge”. Tôi chợt tự hỏi ai là người đầu tiên dịch thành chữ “điện tích”? Vì theo ngôn ngữ Việt, danh từ đứng trước, tính từ đứng sau, “điện” là danh từ (chỉ một tính chất vật lý) còn “tích” là tính từ. Chữ “tích” chỉ có nghĩa khi là động từ (nó “tích” của cải) hoặc là danh từ nhưng phải thêm từ ghép (“sự tích luỹ”, “sự tích”), còn là tính từ thì “tích” hoàn toàn vô nghĩa. Như chẳng ai nói “trông anh “tích” quá, con vật “tích” quá, cái cây “tích” quá” cả. Ghép với danh từ nào nó cũng vô nghĩa. Như vậy dịch “Electric charge” thành “điện tích” là sai. Hoặc phải biến “tích” thành động tính từ và viết là “điện được tích” mới đúng nghĩa. Nhưng thuật ngữ thế là dài quá. Bản tính người Việt ít lý tính, nên chẳng ai chi li xem “điện tích” cũng như vô vàn cách nói, cách viết những cái liên quan đến tiếng nước ngoài là sai hay đúng cả. Có sách giáo khoa định nghĩa “điện tích là vật tích điện". “Điện tích” là một tính chất vật lý sao lại là “vật” được? Dịch theo từ điển tiếng Anh một cách đầy đủ là: “Điện tích là tính chất vật lý của vật chất làm cho nó chịu sự tác động của một lực khi đặt trong trường điện từ”. (Electric charge is the physical property of matter that causes it to experience a force when placed in an electromagnetic field).
         Vậy dịch sao cho đúng? Ta phải coi “charge” là danh từ với nghĩa là “lượng”, hoặc “độ” (như nhiệt độ), và “Electric” là điện, rồi dịch “Electric charge” là “lượng điện” hoặc “độ điện”, nhưng “độ điện” là hay hơn vì tương tự như “nhiệt độ” đã quen dùng, mà đúng theo ngữ pháp Việt, tính từ đứng sau, phải viết là “độ nhiệt” thì đúng hơn.
Từ đó, ta thấy có thể dễ dàng dịch “color charge” là “độ mầu” và hoàn toàn dễ hiểu.
         ***
         Vì vậy, có rất nhiều việc để bàn, để sửa ngôn ngữ Việt cho đúng. Khổ cái là cần phải có những nhà ngôn ngữ có tài năng đích thực, chứ không phải là những cải tiến thành cải lùi ba lăng nhăng như hai trường hợp của Bùi Hiền và Hồ Ngọc Đại.
         Los Angeles
4-9-2018
ĐÔNG LA