Thứ Tư, ngày 04 tháng 5 năm 2016

CHIẾN TRANH VIỆT NAM- NHỮNG CÁI NHÌN SAU 41 NĂM

ĐÔNG LA
CHIẾN TRANH VIỆT NAM-
NHỮNG CÁI NHÌN SAU 41 NĂM

Ngày 27/4/2016 , cuộc Hội thảo "Vietnam War Summit" kéo dài 3 ngày, do Đại học Texas tại Austin và thư viện Tổng thống Lyndon B. Johnson (LBJ) tổ chức tại bang Texas, Mỹ.  
Ngoại trưởng Mỹ, ông Kerry, đã đến tham dự và phát biểu.
 
Nói theo văn hóa phương Đông, John Kerry là một người có thiện tâm tuyệt vời, càng tuyệt vời hơn khi ông là một người Mỹ, một người Mỹ có quan điểm ngược lại ở một đất nước luôn tự đặt ra chân lý, luôn muốn các nước khác phải theo, có khi phát động cả một cuộc chiến để thực hiện điều đó. Chính vì thế dù là một nước phát triển nhất, giàu mạnh nhất, nhưng nước Mỹ đã nhiều lần thất bại, mà Chiến tranh Việt Nam là sự thất bại cay đắng nhất của họ.
          Trong cuộc hội thảo, Ngoại trưởng Mỹ đã phải nén nước mắt khi nhớ về chiến tranh Việt Nam, nhưng ông nói: "Không phải một ký ức cay đắng mà thay vào đó lại là nơi mà nước Mỹ rẽ lối và là nơi mà chúng tôi giúp nước Mỹ trong bước ngoặt này".
Ông Kerry từng được trao huân chương khi còn là một sĩ quan hải quân, tham chiến tại Việt Nam. Nhưng ông sớm nhận ra bản chất của cuộc chiến, nên rời quân ngũ, ông đã trở thành một trong những nhà phản chiến nối tiếng nhất. Năm 1971, trước Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ, ông lên án cuộc chiến mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam là "man rợ".
          Sau đó, là một thượng nghị sĩ của bang Massachusetts, suốt 10 năm, ông đã nỗ lực dành tâm sức cho việc bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam. Ông đã cùng thượng nghị sĩ John McCain đến tận VN điều tra về tù binh chiến tranh, tìm kiếm hài cốt các lính Mỹ. Ông nói: “Đây là câu chuyện đặc biệt về sự cởi mở phi thường của Việt Nam. Họ giúp chúng ta tìm kiếm hài cốt binh sỹ Mỹ cho dù hài cốt của cả triệu quân nhân Việt Nam cho đến nay vẫn còn chưa tìm được. Họ đào cả đồng lúa, cho phép chúng tôi vào nhà, đưa chúng tôi qua những nơi từng là bãi mìn…Họ làm như vậy vì bản thân họ cũng muốn gác lại quá khứ chiến tranh”. Ông kể lại chuyện mình ở trên các chuyến bay trực thăng trên khắp Việt Nam, chui xuống những hố khai quật đầy bùn sâu đến 6 mét để tìm kiếm hài cốt lính Mỹ.
Ông cho rằng bình thường hóa quan hệ Mỹ -Việt không phải để lãng quên quá khứ vì điều đó cũng đồng nghĩa với việc tự mình tước đi những kinh nghiệm quý báu. Trở lại Việt Nam, đã được chứng kiến một thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn đổi khác, nên ông nói: “Đây là một kỷ nguyên khác và do vậy quan hệ giữa hai nước cũng cần hoàn toàn khác. Vào năm 1968, không ai có thể tưởng tượng rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ vào năm ngoái, Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam vào tháng sau, quan hệ hợp tác song phương liên tục được mở rộng, từ biến đổi khí hậu, công nghệ cao cho đến y tế và quân sự”.
Sau 20 năm bình thường hóa, quan hệ Việt-Mỹ, số lượng du khách Mỹ tới Việt Nam đã lên đến nửa triệu người, thương mại song phương tăng từ 400 triệu USD lên 45 tỷ USD, số lượng du học sinh Việt Nam tại Mỹ tăng từ 800 lên gần 19.000 người.
Ông khẳng định: “Rất nhiều người ở cả Việt Nam và Mỹ sẽ không để quá khứ định hình tương lai của chúng ta. Từ một cựu thù, Việt Nam đã trở thành đối tác của chúng ta với những mối quan hệ cá nhân và quốc gia giữa hai bên ngày càng gắn kết và nồng ấm. Đó là di sản chung của chúng ta và cũng là những gì mà tôi hy vọng sẽ tiếp tục được thúc đẩy trong những năm tới”.
Ông nhấn mạnh: “Bi kịch tại Việt Nam cần trở thành lời nhắc nhở thường xuyên đối với chúng ta về khả năng mắc sai lầm, về nhìn nhận sự việc bằng lăng kính thiếu chuẩn xác, về việc bỏ qua lời cảnh tỉnh về những đau thương mà chiến tranh gây ra”; "Tôi bây giờ đang ở trong một cương vị của trách nhiệm để thực hiện những niềm tin và bài học của bản thân mình". Trách nhiệm đó chính là trách nhiệm của một Ngoại trưởng, cụ thể ông sẽ tháp tùng Tổng thống Barack Obama sang thăm Việt Nam vào tháng tới vì các lợi ích kinh tế và chiến lược chung giữa hai nước.
          ***
Ông Robert McNamara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ từ 1961-1968, dưới hai thời TT John F. KennedyLyndon B. Johnson, được coi là "kiến trúc sư trưởng" của chiến tranh Việt Nam, trong cuốn Nhìn lại quá khứ-Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, ông đã thú nhận “chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy”. Ông viết cuốn sách để “mong được nói rằng: “Đây là cái có ích mà chúng ta có thể rút ra từ cuộc chiến tranh Việt Nam và có thể vận dụng cho thế giới hôm nay và mai sau”. Đó là cách duy nhất để dân tộc ta có thể hy vọng đẩy quá khứ về phía sau. Nhà viết kịch Hy Lạp cổ đại Aeschylus có viết: “Phần thưởng cho nỗi khổ đau là kinh nghiệm”. Hãy để cho điều đó trở thành di sản lâu dài của cuộc chiến tranh”. 
Ông chỉ ra “Có 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam”.
Trước hết là “chúng ta đã đánh giá sai các ý định địa - chính trị của đối phương (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng được Trung Quốc và Liên Xô ủng hộ) và chúng ta đã thổi phồng những nguy cơ đối với nước Mỹ trước những hành động của họ”. Tiếp theo ông cho Mỹ đã đánh giá sai về các nhà lãnh đạo và nhân dân VN, “đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”; “đánh giá sai lầm của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân trong vùng”; v.v…
Và giống với ý đương kim Ngoại trưởng John Kerry hôm nay, ông cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã viết:
    “Chúng ta đã không nhận ra rằng cả nhân dân lẫn lãnh đạo của chúng ta đều không sáng suốt. Khi nền an ninh của chúng ta không bị đe doạ, những đánh giá về những gì là lợi ích tốt nhất của nhân dân và đất nước khác của chúng ta cần phải được thử nghiệm trong một cuộc thảo luận cởi mở trên diễn đàn quốc tế. Chúng ta không có quyền tối cao để định hình mọi dân tộc theo hình ảnh của chính chúng ta, hoặc theo hình ảnh mà chúng ta chọn”.
***
Để nhận ra sai lầm của mình con người ta phải khách quan, nhưng để khách quan, người ta lại cần phải có hai yếu tố tối quan trọng, đó là sự thông thái và bản lĩnh, thiếu một trong hai đều không được; thông thái để nhận ra bản chất vấn đề, bản lĩnh để nói ra sai lầm của mình. Cả hai ông Robert McNamara và John Kerry đều là người như vậy. Và tôi thấy, cả Thủ tướng Đức Angela Merkel nữa cũng là một chính khách giống như hai vị chính khách Mỹ.
Ngày 10/5, phát biểu sau cuộc hội đàm với Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Điện Kremlin, Thủ tướng Đức Angela Merkel nói người Đức đã và sẽ luôn nhớ rằng chính Hồng quân Liên Xô đóng vai trò quyết định giải phóng nước Đức khỏi ách phátxít.: "Tôi nhớ rằng những người lính Nga, Ukraine, Belarus và các nước khác trong Hồng quân Liên Xô đã giải phóng Berlin, và cùng với những đồng minh phương Tây giải phóng nước Đức khỏi ách phátxít".
Tiếc là với nước VN chúng ta lại không được như vậy.
Chiến tranh đã chấm dứt 41 năm nhưng vẫn có quá nhiều cái nhìn sai trái về cuộc chiến. Trong cuốn “Bóng tối của ánh sáng”, tôi đã viết:
Nhìn cảnh máu lửa trên ti vi, người Việt giết người Việt mình, tôi thấy cuộc sống loài người sao có những điều vô lý thế, và nhận thấy chính lòng tham của những kẻ mạnh là cội nguồn sâu xa nhất. Chúng ta đã trở thành nạn nhân của cái lòng tham của những nước lớn, rồi dẫn đến chuyện chúng ta lại trở thành nạn nhân của chính chúng ta bởi những cố chấp, những thù hận; bởi sự nô lệ cho những ý thức xơ cứng, mòn cũ, phản tiến bộ và phản nhân văn.
Phải chăng cái Tôi của một xã hội phong kiến tiểu nông, đầy khí khái, sĩ diện, đã làm mờ mắt nhiều người Việt nên họ không thể có cái nhìn khách quan như các vị chính khách của Mỹ và Đức nói trên?
Tôi vốn ít quan tâm đến lý sự của những người thuộc “Bên thua cuộc” vì có thông cảm đến sự mặc cảm “mất nước” của họ. Nhưng vừa rồi nhân dịp 30-4, tôi đã có ấn tượng khi đọc trên internet bài ông Nguyễn Gia Kiểng trả lời phỏng vấn của ông Trần Quang Thành, tiếc là không phải ấn tượng vì những suy nghĩ sâu sắc, có giá trị mà lại vì có những lý sự buồn cười.
Với câu hỏi: “Ông Nguyễn Gia Kiểng có bình luận gì về cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, 1945 – 1975, ở Việt Nam ta?”
NGK :
Lập luận của Đảng Cộng Sản là môt lập luận tự đắc và tuyên truyền trắng trợn mà ta phải bác bỏ. Phải trả lời một cách rất dứt khoát đây là một cuộc nội chiến. Cả hai giai đoạn mà họ gọi là "chống Pháp" và "chống Mỹ" đều chỉ là hai giai đoạn trong một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm, bởi vì khi người trong một nước bắn giết nhau trên một qui mô lớn và trong một thời gian dài thì đó là nội chiến dù có hay không có sự can thiệp từ bên ngoài. Vả lại trong thế kỷ 20, nhất là sau thế chiến thứ hai, làm gì có cuộc nội chiến nào không có sự tiếp tay từ bên ngoài đâu. Nếu ta nhìn lại số người Pháp và số người Mỹ thiệt mạng trong hai giai đoạn của cuộc chiến này thì chúng ta thấy đó là một tỷ lệ không đáng kể so với số tử vong của người Việt Nam. Người Pháp đã thiệt hại 33.000 người, trong đó một phần đáng kể là những người lính châu Phi và Ả Rập, người Mỹ thiệt hại 58.000 người, trong khi đó số tử vong của người Việt ở cả hai phía là trên ba triệu. Nói chung tổng số quân đội nước ngoài thiệt mạng tại Việt Nam trong cuộc nội chiến này chưa bằng 3% của phía Việt Nam”.
Nếu là người có chút hiểu biết ông Kiểng phải hiểu với Triết học và Khoa học có cặp phạm trù Hiện tượng và Bản chất. Có nhiều đối tượng cái quyết định bản chất không phụ thuộc số lượng nhiều ít, kích thước to nhỏ. Như để làm cho ông Kiểng khác với một con vật không phải do kích thước của ông mà do chính cái ADN bé tí trong nhân tế bào của ông.
Có rất nhiều lý sự ngô nghê trong bài đăng nhưng với tư duy thù địch thì tranh luận vô nghĩa bởi các chuẩn mực ngược nhau, nên tôi không muốn mất thời gian với ông Kiểng, chỉ nói thêm ý này nữa của ông ta:
“Một cuộc chiến tranh mà những người cộng sản làm tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản, như chính ông Lê Duẩn đã thừa nhận là "đánh cho Liên Xô và đánh cho Trung Quốc".
Ý của ông Lê Duẩn thực ra là ông muốn nói tính có lý khi ta nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc. Thực tế ta từng vượt qua quan điểm “chung sống hòa bình” của Liên Xô, chúng ta vượt qua toan tính của TQ muốn đất nước ta mãi chia cắt, không vào liên minh với TQ chống Liên Xô, tiêu diệt chế độ Pôn-Pốt tay sai của TQ, v.v…
Một “tay sai” thì không ai dám làm như thế. Nếu ông Kiểng là người khách quan nhìn nhận những sự thật trên, không có cái nhìn thù địch thì sẽ không bao giờ viết như trên.
Với Mỹ, Pháp, hai kẻ thù chính, chúng ta đã hòa giải được và đã hợp tác tốt đẹp. Tiếc là với những người như ông Kiểng thì chắc sẽ không bao giờ có thể hòa giải. Đơn giản là vì họ không thông minh và bản lĩnh như các chính khách Mỹ và Pháp thôi.

4-5-2016
ĐÔNG LA


Thứ Sáu, ngày 29 tháng 4 năm 2016

ĐÔNG LA 30-4- MỘT CHUYỆN ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI

ĐÔNG LA
30-4- MỘT CHUYỆN 
ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI

(Chiến, Duyệt, Nhẽ, Lộc, Hùng (Đông La)- năm 1975)
Cách đây ít ngày điện thoại của tôi reng reng:
          -Alô, Hùng hả, Đảm 74 đây, có nhận ra không?
          -Làm gì mà không nhận ra.
          Đảm 74 nghĩa là Đảm thuộc tiểu đoàn 74, là đơn vị của chúng tôi, thuộc Trung đoàn 5, trực thuộc Quân khu Miền Đông (QK7 bây giờ). Hồi ấy Đảm là liên lạc tiểu đoàn, cùng quê Huyện Thanh Miện với tôi, còn tôi là chiến sĩ thuộc Đại đội 2, trung đội mấy thì quên mất rồi.
          -Hùng ơi, anh Kế là anh ruột của Hậu đang ở nhà mình. Vừa rồi gia đình có yêu cầu cơ quan chức năng tìm hài cốt của Hậu, người ta đã tra cứu rồi đi tìm gặp những người cùng đơn vị để thu thập thông tin, có gặp mình.
          Hậu là liên lạc của đại đội tôi, chúng tôi đã cùng tham gia một trận đánh khốc liệt tại Ấp La Ngà, đầu cầu La Ngà. Trận ấy, đơn vị tôi phải dùng 600 kg bộc phá giật đổ Cầu La Ngà nhưng gói bộc phá thả trôi, nổ hơi sớm, cây cầu chỉ bị nghiêng, nên tiểu đoàn của tôi đã phải chống trả với rất nhiều lính VNCH tràn qua cầu để giữ chốt. Sau này tôi mới biết chính là Sư 18 của Tướng Lê Minh Đảo. Tôi đã thêm mắm thêm muối viết về trận đánh đó thành truyện ngắn Ân nhân in trên TCVNQĐ, có thay đổi chút tên tuổi, như “Nhữ” thực ra là Nhữ Văn Khu, “Thái” tên thực là Thinh, còn tôi lấy tên con là “Huy”, riêng phần chiến sự thì thật 100%. Truyện có đoạn:
          “Đến khi một đợt pháo dài tưởng vô tận vừa ngừng, bọn anh chợt thấy đại đội trưởng Bảy lù lù ở cửa hầm quát:
          - Mang cuốc xẻng sang moi hầm thằng Nhữ ngay!
          Giời ơi! Huy nấc lên, bật dậy. Anh Lộc y tá đã có mặt. Căn hầm bị san phẳng y như người ta vừa bốc mộ lấp đất lại. Không lẽ dưới mặt đất câm lặng kia đang có ba sinh mạng, lại còn có cả thằng bạn chí thiết của mình nữa! Nhữ ơi! Chúng mày đang ra sao?!
(Anh Lộc y tá, đại đội trưởng Bảy bây giờ)
          Mọi người khẩn trương moi hầm. Đất, cát, những cây gỗ, những tấm ván lót hầm được kéo lên. Một cái đầu, tóc đen nhẫy, nhòe nhoẹt máu trộn đất, hiện ra. Đại trưởng kêu lên:
          - Moi mũi cho nó thở!
          Mọi người nhận ra Khuê và chỉ thấy “phì” một cái rồi thôi; Khuê đã bất tỉnh, nhưng còn thoi thóp. Sau này, vốn có tính tò mò, Huy đã hỏi Khuê là thấy thế nào trong cái lúc bị chôn sống ấy? Không ngờ, câu trả lời của Khuê thật đơn giản: “Không thấy gì cả”! Thì ra, cái chết đến với người trong cuộc không kinh khủng quá như những người chứng kiến! Hai người xốc nách Khuê mang lên đặt bên cây vú sữa để anh y tá làm những việc cấp cứu. Moi được một lúc nữa thì tìm được Thái, người nhỏ bé, đã khá tuổi, hàm răng như nhuộm đen, quê Thái Bình. Anh bị một mảnh pháo nhỏ xuyên qua chỗ mang tai và đã hy sinh! Còn lại mình thằng bạn của Huy. Làm sao mày sống nổi dưới vô vàn mảnh pháo khoan như thuốn kia? Nếu không bị thương thì cũng làm sao mà thở được? Tự dưng tay chân Huy bủn rủn, luống cuống, nên anh được thay ngay. Rồi Nhữ cũng đã được tìm thấy. Một cây đà đè ngang ngực làm gẫy tay và xương sườn Nhữ; máu trào ra cả mũi và miệng; giữa trán một mảnh pháo khoan xuyên qua để lại một vết thương chỉ nhỏ như hạt đậu, nhưng nó vẫn đủ sức giết chết Nhữ ngay! Thế là hết! Một nỗi trống vắng mênh mông dâng ngập lòng Huy. Ý muốn được trả thù cũng cuồn cuộn dâng lên!” 
          Trận đánh đó của đơn vị tôi chỉ là một tiểu đoàn nhỏ nhưng ở giai đoạn đầu chiến dịch nên như tôi đã viết “chẳng khác gì đụng vào tổ ong, tất cả các cụm pháo ở vùng xung quanh như Định Quán, Túc Trưng, Gia Kiệm, cây số 125... bu lại, rót pháo như giội nước; cái ấp nhỏ rung lên bần bật như một hòn đất bị vồ nện. Căn hầm Huy nằm bên những căn nhà lợp mái tôn, pháo đụng nổ ngay trên mái. Tiếng pháo nổ gần rắn đanh, đinh tai nhức óc, áp suất cao như dứt da dứt thịt, trộn với tiếng những mái tôn bị đập như trăm ngàn phèng la cùng gầm lên ù tai, lộng óc”.
          Giữ chốt được mấy ngày, chúng tôi đã phải phá vây về cứ. Có một việc tối quan trọng là phải mang vác thương binh, tử sĩ về. Phẩm dân Tiên Lữ, Hưng Yên, hồi ở quê chuyên đóng gạch rất khỏe nên được giao nhiệm vụ vác Khu về nhưng Phẩm sợ, còn tôi thư sinh quá nên chính Hậu là liên lạc đại đội đã xung phong vác Khu. Đúng là dân Nghệ Tĩnh cách mạng thật! Hậu đã vác Khu theo kiểu ngoặc hai chân vào cổ, thõng hai tay xuống, tôi đi sát sau thấy máu từ đầu Khu chảy thành vệt trên đường về cứ. Thật tiếc, đến trận kế tiếp thì Hậu cũng hy sinh. Trận ấy tôi bị sốt rét nên phải đi bệnh xá nên đã chứng kiến đồng đội cáng Hậu bị thương đến. Tôi đã chứng kiến toàn bộ cuộc phẫu thuật Hậu trong một lán Quân y bên bờ sông La Ngà. Nhưng đến đêm Hậu đã chết. Sáng sau tôi lại chứng kiến toàn bộ việc khâm liệm, bó tăng mang Hậu đi chôn. Vì vậy mới có chuyện sau 42 năm, những ngày hôm nay anh ruột Hậu là anh Kế đi tìm em. Đảm tiếp:
          -Biết Hùng chứng kiến Hậu chết mình có nói với anh Kế. Giờ Hùng nói với anh Kế nhé.
          Tôi đã kể toàn bộ những kỷ niệm mà tôi có về Hậu và để cho người anh trai tự hào về người em mình tôi nói mấy chi tiết:
          -Thằng Hậu em anh nó cách mạng lắm, ở trận Ấp La Ngà chúng em phá vây, thấy đùn đẩy nhau vác liệt sĩ về nó đã xung phong vác đấy. Chuyện thứ hai em đã chứng kiến cả buổi chiều bác sĩ phẫu thuật cho nó, nó bị một vết thương rất to ở ống chân, bác sĩ ngại khi thiếu thuốc tê thế nào đó, nó bảo bác sĩ cứ mạnh dạn làm đi, cháu chịu được. Còn giờ sau 42 năm em chỉ nhớ bệnh xá đó bên sông La Ngà, Hậu chết, bệnh xá người ta khâm liệm tử tế, chôn cạnh đó, còn cụ thể chi tiết ở đâu thì không sao mà nhớ được. Tự tay em tham gia chôn hai người là Khu và Thinh nữa giờ cũng chịu không biết ở chỗ nào. Ngay về quê, đường làng thay đổi, mấy năm không về còn lạc mà anh.
          Bây giờ bằng Google Maps, tôi chỉ có thể vẽ ra sơ đồ như thế này:
          Kế hoạch, sau 30-4, đoàn tìm kiếm Hậu sẽ vào Nam, anh Kế nói là sẽ tìm gặp tôi. Nếu có điều kiện tôi cũng rất mong được trở lại cái nơi đã khắc ghi trong tôi những kỷ niệm không bao giờ quên đó.
          Và đúng là cơ duyên kỳ diệu, cách đây hai ba hôm, Trọng, học cùng cấp III Thanh Miện với tôi, báo tin và rủ tôi tham gia đoàn cựu học sinh cấp III Thanh Miện cùng lớp, cùng khóa tôi du lịch theo lời mời của một người bạn giờ là chủ một khu resort ở Phan Thiết. Từ Bắc tập kết tại TPHCM, tôi đến, rồi cùng đi Phan Thiết.
          Tôi bảo Trọng tôi bận chuyện con gái mới sinh cháu ngoại không đi được, biết trong đoàn có Phú nên tôi bảo sẽ đến chơi với đoàn ở khách sạn, trước khi họ đi Phan Thiết. Phú cũng học cùng cấp III với tôi, ở làng Thông cách làng Đông La tôi 4km, cùng làng với “đồng chí” Trần Bình Minh, hơn nữa còn là chiến hữu với tôi ở C2, D74.
          Tôi đến gặp Trọng, Phú và vài người khác ở khách sạn trên đường Lý Thường Kiệt, rủ nhau ra một quán cà phê ngồi trò truyện. Mấy người hỏi tôi chuyện văn chương la hét. Tôi hỏi Phú:
          -Thằng Trần Bình Minh cùng làng Thông với mày à?
          -Chứ còn gì nữa, anh em chú bác với tao đó. Họ Trần làng tao toàn làm to, như ông Trần Lâm nhá, rồi ông Trần Văn Tuấn cũng chú tao đó, còn ông (tôi không nhớ) cũng là một ông chú tao là Bí thư (hay chủ tịch) Hải Phòng đó.
          -Phú ơi, vừa rồi thằng Đảm nó gọi cho tao nó bảo anh Kế là anh ruột thằng Hậu đang đề nghị nhà nước tìm hài cốt thằng Hậu, có đi tìm gặp những người cùng đơn vị nên đã gặp nó. Sau 30-4 sẽ vào trong này đấy.
          -Thế à, trời ơi thằng Hậu bị thương chính là tao vác nó về cứ đấy. Trận đấy mày đi viện không biết, sáng đấy tầm 9-10 giờ, anh Thọ (chính trị viên đại đội) và Hậu (liên lạc) chạy trước tao, tao thấy một quả pháo nó nổ gần chỗ hai người, chạy lên thấy anh Thọ bị đứt động mạch chủ máu vọt ra, anh chỉ thều thào bảo tao tiến lên đi rồi chết. Thằng Hậu ngã xuống bên cạnh, bị vào chân rất nặng, kêu đau khủng khiếp, nên tao phải vác nó quay lại cứ. Mày biết không về đến rẫy mía mệt quá tao để nó xuống nghỉ bẻ mía ăn, máu nó nhuộm đỏ cả khúc mía nhưng khát quá, ăn vẫn ngon lành. Sau đó đứa nào cáng nó đi bệnh xá quân y thì tao không biết.
(Trọng, Hùng (Đông La), Thơ, Phú- ảnh chụp trước đây)
          Rồi tôi nối máy cho Phú nói chuyện với Đảm, Đảm lại nối máy cho Phú nói chuyện với anh Kế, anh của Hậu.
          Còn tôi thật băn khoăn, liệu sau 42 năm, dấu tích cái bệnh xá có còn không vì hồi ấy chỉ là lán trại lợp lá trung quân? Tìm được bệnh xá sẽ tìm được khu mộ, nhưng các mộ mất dấu có tìm ra không, tìm được thì xương có còn không và có phân biệt được ai với ai không?
          Không có khoa học nào giúp được việc này, không có một quyết tâm nào vượt qua được chướng ngại này. Chỉ có những người có khả năng ngoại cảm thật sự mới giúp được, trong đó có cô Vũ Thị Hòa. Nhưng lại có cả một chiến dịch loại bỏ việc xử dụng khả năng ngoại cảm tìm mộ mất dấu, bất kể sự thật, đúng sai, tốt xấu. Riêng cô Vũ Thị Hòa vẫn đang bị một số cơ quan, cá nhân, lờ đi sự thật, tìm mọi cách đổ tội cho cô. Một chuyện kỳ quái, nhưng cũng như nhiều tệ nạn khác, tiếc là vẫn còn nhiều ở xã hội chúng ta.
          29-4-2016
          ĐÔNG LA

Thứ Tư, ngày 27 tháng 4 năm 2016

THƯ CẢM ƠN

ĐÔNG LA
THƯ CẢM ƠN

Tôi mới nhận được thư mời của Hội nhà Văn VN đích danh Chủ tịch là Nhà thơ Hữu Thỉnh ký mời tôi ngày mai 28-4-2016 dự Lễ kết nạp Hội viên năm 2016:

          Tiếc là xa xôi quá, tôi cũng lại bận nấu cơm cho con gái mới sinh cháu ngoại nên không đi được. Cái số tôi hình như không được hưởng niềm vui mà người ta tổ chức lễ vinh danh có tên mình. Lần này là lần thứ 4 tôi được mời ra Hà Nội mà không đi được. 1997 ra Tạp chí Văn nghệ QĐ nhận Tặng thưởng hàng năm về Phê bình; 1998 cũng ra TC Văn nghệ QĐ nhận Tặng thưởng hàng năm về Thơ; 2013 ra Liên Hiệp các Hội VHNT VN nhận Giải thưởng Lý luận Phê bình cuốn Bóng tối của ánh sáng.
          Thế là từ ngày mai tôi chính thức là Hội viên HNV VN. Nhiều người đã gọi điện, gởi email chúc mừng tôi, vậy mà tôi chưa gọi cho một ai trong số những người mà theo thủ tục họ đã giúp tôi được kết nạp. Vậy hôm nay tôi xin viết lời cảm ơn công khai này.
Trước hết tôi xin cảm ơn cố GS Trần Thanh Đạm, một trong hai người đứng tên giới thiệu tôi. Ông mới qua đời, một người tốt như ông linh hồn sẽ siêu thoát nên vẫn sẽ biết được lời cảm ơn này; tôi xin cảm ơn người giới thiệu thứ hai là GS Mai Quốc Liên. Tôi cũng cảm ơn Nhà Văn Đào Thắng, nguyên Ủy viên BCH HVNVN khóa trước, qua Đại tá Nhà Văn Đỗ Viết Nghiệm đã tìm gặp tôi, hai người đã “động viên” tôi vào Hội và chuyển hồ sơ cho tôi viết đơn. Tôi cũng xin cảm ơn BCH HNV VN khóa mới đã kết nạp tôi.
          Không thể không nhớ đến Nhà thơ Anh Thơ rồi Chế Lan Viên, chẵn 30 năm trước, 1986, ông cùng Nhà thơ Chim Trắng đứng tên giới thiệu tôi vào HNV TPHCM, trước đó ông đã đề nghị trao giải Thơ cho tôi trong một cuộc thi. Đây là giấy mời tôi dự lễ trao giải do Nhà Văn Nguyễn Quang Sáng ký:
          Lễ trao giải ở TPHCM nên tôi có đi “hưởng vinh quang”.
          Tôi còn có một lần vinh danh khác nữa mà tôi có đi dự lễ, nhưng ở một lĩnh vực hoàn hoàn khác, đó là khoa học công nghệ. Năm 1993, công trình của tôi mang đi thi Sáng tạo KHKT TPHCM đã được giải A. Trước đó tôi còn được lên HTV, và có ai ngờ Hương Trà, chiến sĩ “rân trủ” Cô gái Đồ Long bây giờ, đã viết về công trình của tôi trên báo SGGP:
          27-4-2016
          ĐÔNG LA

         

Thứ Ba, ngày 26 tháng 4 năm 2016

NGỤY HỮU TÂM -- NGỤY LIỆU CÓ TÂM (Phần II)

ĐÔNG LA
NGỤY HỮU TÂM-NGỤY LIỆU CÓ TÂM (Phần II)

          Trong một bản tin của Đại Học Quốc Gia HN, ông Ngụy Hữu Tâm đã chia sẻ:
“Nhờ sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, nhất là sự ảnh hưởng từ người cha “tài đức vẹn toàn“ , mà chúng tôi đã được như ngày nay, dù mỗi người đều đi theo những con đường riêng. Dù ở bất cứ vị trí nào trong xã hội, làm bất cứ việc gì, chúng tôi luôn lấy việc phụng sự gia đình, đất nước làm trọng. Chính cha tôi đã rời bỏ nước Pháp để về phụng sự đất nước còn hết sức nghèo nàn, lạc hậu theo lời khuyên của người thầy Pháp, một chiến sĩ cộng sản. Bố tôi đã dành trọn cuộc đời cho khoa học và cũng đã hướng con cái đi theo con đường đó… Chúng tôi không bao giờ phụ ơn người cha đáng kính, luôn giữ mình là người ngay thẳng, trung thực, luôn lấy cái đức trung với nước, hiếu với dân làm lẽ sống”.
Vậy người cha “tài đức vẹn toàn“”của ông Tâm là ai? Đó chính là GS Ngụy Như Kon Tum.
Trên http://cand.com.vn/, 21/11/2010, có bài GS-Nguy-Nhu-Kon-Tum-mot-nhan-si-yeu-nuoc-mot-thay-giao-lon cho biết, GS Ngụy Như Kon Tum sinh năm 1913 là người gốc Huế, con cụ Ngụy Như Bích, một chủ sự bưu điện. Ngụy Như Kon Tum từng là một học sinh xuất sắc nên được cấp học bổng toàn phần sang Paris học đại học. Ông đã lấy bằng cử nhân khoa học rồi bằng Thạc sĩ Vật lý. Đầu năm 1939, ông được nhà bác học người Pháp GS Giôliô Quyri hướng dẫn làm luận án Tiến sĩ Vật lý. Nhưng mới được một năm thì đại chiến thế giới thứ 2 bùng nổ. Phòng thí nghiệm của nhà bác học G.Quyri bị Bộ Quốc phòng Pháp trưng dụng. Giáo sư G. Quyri khuyên: “nếu muốn tiếp tục ở lại phải có hai điều kiện là xin nhập quốc tịch Pháp và được Bộ Quốc phòng Pháp tuyển dụng, nhưng tôi nghĩ rằng đất nước của anh cần anh hơn là nước Pháp". Ông đã nghe theo lời khuyên đó và trở về nước vào cuối năm 1939. Về nước, ông dạy học trong lúc phong trào Việt minh chống Pháp đang dâng cao trên toàn quốc. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Ngụy Như Kon Tum đã là Giám đốc Khu học xá Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 mấy ngày, dù bận trăm công ngàn việc nhưng đã dành thời gian đến thăm Khu học xá Đông Dương và nhà riêng của Giám đốc Ngụy Như Kon Tum. Năm 1946, Bác cho mời GS lên ngỏ ý giao cho ông giữ chức Bộ trưởng Giáo dục, ông xin từ chối với lý do "Bộ trưởng Giáo dục phải là người có chuyên môn sâu rộng về khoa học xã hội và nhân văn thì quản lý, sáng tạo mới tốt. Tôi là người làm khoa học tự nhiên, e khó hoàn thành được nhiệm vụ". Bác và Chính phủ sau đó đã bổ nhiệm GS.TS Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng theo tiến cử của GS Ngụy Như Kon Tum. GS Ngụy Như Kon Tum coi kỷ niệm đó là đức sáng cao cả của Bác Hồ, đã lôi cuốn GS Ngụy Như Kon Tum cùng các trí thức khác khoác ba lô rời Hà Nội lặn lội lên núi rừng Việt Bắc cùng toàn dân chống  Pháp.
Theo GS VS Nguyễn Duy Quý, khi Trường ĐH Tổng hợp được thành lập vào năm 1956, Bộ Giáo dục trình lên Chủ tịch nước danh sách những người có thể giữ chức Hiệu trưởng, nhưng không có tên GS Kon Tum. Bác Hồ nói: "GS Ngụy Như Kon Tum hiện đang làm gì? Nên để GS làm hiệu trưởng là hợp nhất". Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bổ nhiệm GS Ngụy Như Kon Tum giữ chức Hiệu trưởng Trường ĐH Tổng hợp. Cảm động trước sự quan tâm của vị Lãnh tụ tối cao, suốt đời mình GS Ngụy Như Kon Tum đã thủy chung với Đảng, với dân tộc.
Trên VietNamNet, 6/05/2013, nhân 100 năm ngày sinh của GS Ngụy Như Kon Tum, có bài Cần lắm những 'tinh thần Ngụy Như Kon Tum!, cho biết GS.VS Nguyễn Văn Hiệu, tại lễ kỷ niệm, đã nhớ lại: “Dù trong khó khăn gian khổ nhưng ông (GS Ngụy Như Kon Tum) vẫn kiên định và truyền cho cán bộ giảng viên sinh viên tinh thần say mê, không ngừng nghiên cứu khoa học... Tinh thần ấy cho đến ngày nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị và ý nghĩa”.
Trong loạt hình ảnh nhìn lại hình ảnh cuộc đời, sự nghiệp của cố GS Ngụy Như Kom Tum có bức chụp ông ngồi giữa Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ và Thủ tướng Chu Ân Lai và một bức ông còn ngồi giữa Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai:
          Nhưng thật bất ngờ, ngược với những lời ca ngợi cha mình như trên, ông Ngụy Hữu Tâm như đã “vạch áo cha cho thiên hạ xem lưng”, bởi trong bài Bài báo nhân kỷ niệm thành lập Đảng, ông ta đã viết:
          “Hồi đó là vào những năm đầu chiến tranh, khoảng năm 1964-1965 gì đó, tôi mới vào đại học Nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng 3/2 năm đó, báo Cứu Quốc của Mặt trận Tổ Quốc mà cụ nhà tôi, một nhân sĩ (xin các bạn trẻ hiểu cho đây là danh từ thời đó chỉ người ngoài đảng, hơi có nét miệt thị chút đỉnh) trí thức nổi tiếng, vốn hay tham gia viết, có mời cụ góp một bài. Chắc cụ chán lắm nên mới giao cho tôi viết”; “Việc về lại Việt Nam của cụ như vậy là hoàn toàn xuất phát từ lòng yêu nước mà thôi. Hơn nữa, những năm ba mươi thế kỷ trước, mấy ai hiểu được thuyết Mác–Lê như bây giờ
Đúng như người ta thường nói: Khi 20 tuổi mà không yêu chủ nghĩa cộng sản là không có trái tim, còn khi đến 30 tuổi mà vẫn còn tin vào chủ nghĩa cộng sản thì sẽ là không có não bộ. Thế nên khi về nước dạy học và tổ chức những hoạt động yêu nước chống thực dân Pháp cho học sinh của mình rồi tham gia Cách mạng tháng Tám 1945, rồi khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, làm cán bộ trung cao cho Bộ Giáo dục của thể chế mới, tiếp xúc với các đảng viên cộng sản Việt Nam, dần dà cụ cũng hiểu ra”.
Như vậy theo Ngụy Hữu Tâm cha mình không thực lòng theo Đảng, theo cách mạng, thái độ ông thể hiện để mọi người ca ngợi chỉ là diễn kịch? Ông không thực lòng theo nhưng ông vẫn nhận mọi danh vị và sự vinh danh của chế độ phải chăng ông cũng là một kẻ cơ hội?
***
Trong Thư ngỏ gửi Ông Nguyễn Đình Cống đăng trên trang  basam  01/04/2016, Ngụy Hữu Tâm viết:
“Từ lâu, nhất là sau Die Wende-Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, em đã chán ngấy chế độ này lắm rồi, thậm chí căm thù, vì nó là phản động, phản dân tộc, thậm chí bán nước theo đúng nghĩa của từ đó … Họ hành xử vi hiến ra sao trước kỳ bầu cử „Quốc hội“ khóa này. Thật là một trò hề ngoạn mục, Charlie Chaplin có bất ngờ sống dậy cũng phải bái phục bọn họ”; “Còn về mặt tuyên truyền hay nói gọn là mị dân, chắc Bộ trưởng Nazi lừng danh Joseph Goebbels, cũng phải vái chào bọn họ, nhưng cứ xem lại lịch sử, cộng sản họ thanh trừng nhau như thế nào… và lịch sử chính Việt Nam ta: Các lãnh đạo cộng sản Việt Nam như NVL, LĐT… (Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ?-ĐL) từng hành xử ra sao với những người bất đồng chính kiến nói riêng và giới trí thức nói chung, như thế nào, và nhất là các vụ CCRĐ, Nhân văn – Giai phẩm, Xét lại… mà nay ai cũng biết. Xin anh cho phép em ôn lại lịch sử gần đây một cách hết sức ngắn gọn như thế để nói: trang sử dân tộc Việt quá ư bi ai”.
          Trong CCRĐ, dù có sai lầm nhưng chúng ta đã có bản lĩnh vượt qua toan tính của Trung Quốc. Theo ông Hoàng Tùng “Họ muốn qua cải cách ruộng đất để “chỉnh đốn” lại Đảng ta”. Khi nhận ra sai lầm chúng ta đã quyết dừng lại sửa sai, không nghe Trung Quốc nữa. Cũng cần phải đánh giá toàn diện về CCRĐ, dù có sai lầm nhưng Cải cách ruộng đất đã xóa bỏ được chế độ phong kiến đã từ ngàn đời đè nặng, mọc rễ sâu trong mọi ngõ ngách trong xã hội nông thôn VN, xóa bỏ địa vị và lợi ích của tầng lớp quan lại và giai cấp địa chủ bóc lột tàn ác, từng được diễn tả rất rõ trong các tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan và Tắt đèn của Ngô Tất Tố, và đem lại ruộng đất cho dân cày. Chỉ có vậy cả dân tộc mới có quyết tâm chiến đấu giành lại nền độc lập.
Còn vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Khi cả nước cần hy sinh lợi ích cá nhân, tất cả đều vì mục tiêu chung lớn lao là giành lại nền độc lập, thì rõ ràng mấy vị văn nghệ sĩ hãnh tiến, thích khác người bằng sự lập dị, lộn ngược, đòi tự do tư tưởng, tự do sáng tác là không hợp thời, là “hâm”!
Trần Dần với những câu thơ:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ
Và Lê Đạt:
Nhưng đem bục công an đặt giữa trái tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
thì trong hoàn cảnh lúc đó không chỉ là “hâm” mà còn đi ngược lại xu thế chung!  
Vụ án “Xét lại” là vụ lớn hơn rất nhiều, Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu và là người bị bắt đầu tiên. Ở cương vị Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, nhưng Hoàng Minh Chính đã chọn lập trường “chung sống hòa bình” của Khrusov, dù bị bác bỏ, nhưng Hoàng Minh Chính lại “không chịu thua”, đã viết tiếp và phân phát bài "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" nên mới bị bắt. Vụ án trên thực chất là một cuộc đấu tranh tư tưởng, thể hiện quyết tâm giải phóng, thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập của các nhà lãnh đạo nước ta chứ hoàn toàn không phải là một cuộc đấu đá cá nhân như các nạn nhân tự biện hộ và các “nhà sử học phương Tây” suy diễn. Nước ta ngày đó như một con tầu vượt sóng gió giữa trùng khơi, các nhà lãnh đạo như thuyền trưởng cầm lái. Những người trong vụ án đã đánh thẳng vào tay lái đó nên đã bị bắt, bị kỷ luật chứ không phải vì họ theo Liên Xô hay chống TQ. Trong thời chiến, nếu không kiên quyết, nghiêm khắc xử lý, con tầu không thể nào vượt qua được sóng gió để đến được bờ bến bình yên mà chắc chắn sẽ bị lật nhào, chìm nghỉm tận dưới lòng biển sâu! Cuộc kháng chiến của chúng ta cũng như tất cả các cuộc chiến mà nhân loại đã trải, hòa bình đã không tự đến, hòa bình chỉ đến với nhân loại, đến với dân ta bằng việc đánh đổi rất rất rất nhiều máu! Cũng như mọi thành công trong cuộc đời, bản thân sự chiến thắng chính là chứng cớ sống động nhất chứng tỏ tài trí, đạo lý thuộc về những người làm nên chiến thắng đó. Nếu sự thật lịch sử không tiến theo đường thẳng, bước đi của lịch sử không được trải thảm, thực tế phải trả giá cao hơn, ta sẽ càng thấy quý giá hơn chiến thắng đó.
Chỉ có việc tự coi mình là kẻ thù của chế độ mới viết như Ngụy Hữu Tâm như trên mà thôi.
***
Thực tế nước ta trong quá khứ đã có những sai trái và lầm lạc vì vậy mới có sự sửa sai và công cuộc đổi mới. Ngay cả hiện tại nước ta vẫn còn nhiều tệ nạn, sai trái, yếu kém, nếu không “chỉnh đốn” sẽ dẫn tới sụp đổ như chính ý TBT Nguyễn Phú Trọng đã nói. Nhưng so với toàn bộ Lịch sử VN toàn máu và nước mắt, từ chỗ mất nước, kiếp nô lệ, dân ta có được những ngày như hôm nay vẫn là hạnh phúc nhất. So với Nam Á, Bắc Phi, Trung Đông, Đông Âu, chiến tranh, nghèo đói, loạn lạc đang diễn ra triền miên thì càng thấy giá trị của hòa bình, ổn định trên đất nước chúng ta. Chỉ có một cái nhìn thiển cận và tăm tối mới suy nghĩ và viết như Ngụy Hữu Tâm. Và hơn thế ông ta còn là một kẻ ăn cháo đá bát, vong ân bội nghĩa khi chính chế độ mà Ngụy Hữu Tâm “căm thù” cho là “phản động, phản dân tộc, bán nước” đã cho cha Ngụy Hữu Tâm địa vị và danh tiếng, còn có cả một sự vinh danh lớn lao khi có con đường mang tên GS Ngụy Như Kon Tum. Vì là con một người được chế độ ưu đãi và trọng dụng như thế nên như chính Ngụy Hữu Tâm tự khoe, ngay từ năm 1956 khi đất nước còn tan hoang sau chiến tranh, còn bị chia cắt, chuẩn bị bước vào một cuộc trường chinh mới thì Ngụy Hữu Tâm đã: “có cái may là năm 1956 đã đi thiếu sinh quân ở CHDC Đức, và còn tiếp tục học trường công nhân kỹ thuật ở đấy 3 năm”. Về nước lại tiếp tục du học, đỗ đạt, thành đạt.
           ĐCSVN, từ ngày thành lập 3-2-1930, trải qua một hành trình dài vô cùng gian khổ, để được dân tin theo, biết bao máu của các chiến sĩ cộng sản đã đổ. Chỉ riêng những vị lãnh tụ cao nhất đã có liên tiếp tới 4 tổng bí thư  chết dưới tay quân Pháp: Trần Phú, Lê Hồng PhongHà Huy TậpNguyễn Văn Cừ. Để rồi từ đó mới có được Cách mạng Tháng 8 thành công, và 2- 9 - 45, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh một nước VN mới. Chính với vị thế đó, chỉ trong 30 năm (1945-1975), một chớp mắt của lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân ta đã đánh thắng đến 4 cuộc xâm lược, trở thành biểu tượng anh hùng của ý chí bất khuất và trí thông minh tuyệt vời trong công cuộc chống ngoại xâm giành lại nền Độc Lập. Có những chiến thắng chấn động địa cầu làm cả thế giới kinh ngạc. Từ một đội quân lúc đầu chỉ có 34 người với vài khẩu súng kip, nhưng sau 10 năm đã đánh thắng được Đế quốc Pháp được Mỹ hỗ trợ mạnh về quân sự tại Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống Chỉ huy trưởng Tướng Đờ Cát với lời thú nhận: "Tôi cũng thấy làm vinh dự được làm tù binh của một quân đội như quân đội Việt Nam". Trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ có lẽ đỉnh cao của sự đối đầu Việt -  Mỹ chính là trận Điện Biên Phủ trên không. Chúng ta đã thắng không chỉ bằng ý chí, bằng máu mà còn bằng cả trí thông minh tuyệt vời mà một tờ báo Mỹ đã gọi đó là cuộc "Chiến tranh điện tử” mà phần thắng đã thuộc về VN. Với tinh thần của Bác, chúng ta chống lại sự xâm lược nhưng không chống nhân dân Mỹ, nên sau ngày toàn thắng, chúng ta lại có được một thành tựu ngoại giao quan trọng, khép lại quá khứ hướng tới tương lai. Năm 1995, TT Clinton tuyên bố thiết lập bang giao đầy đủ với Việt Nam. Ông đã cùng vợ con thăm Việt Nam và nói: “Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ là thời khắc tuyệt vời trong nhiệm kỳ của tôi”; “Việt Nam là đất nước có vị trí đặc biệt trong trái tim tôi”. Với TT Bush, từ “bạn” (friend) đã được ông nhắc lại nhiều lần khi nói về quan hệ với Việt Nam: "You’ve got a friend in America". Về phía VNCH, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, một người lính sẵn sàng tử thủ tới cùng, cũng đã vượt qua mặc cảm của một kẻ bại trận, trốn chạy, đã thừa nhận sự thật lịch sử: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối… Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ”. Ông đã trở lại VN và được chào đón và trở thành một biểu tượng của sự hòa giải: "Những sự mất mát và đau khổ trong cuộc chiến cũng như sau cuộc chiến thì chồng chất nhiều lắm, nhưng cứ quay lại dĩ vãng và uất hận thì chỉ là chuyện của cá nhân mỗi người”.
Vậy là một người được hưởng nhiều ưu đãi, may mắn từ chế độ, chỉ có mất trí, mất nhân tính như Ngụy Hữu Tâm mới cho một Đảng từng có một lịch sử hào hùng, vẻ vang, có công trạng lớn lao đối với dân tộc như vậy là “phản động, phản dân tộc, bán nước”! Tận những ngày hôm nay lại tìm cách chiêu hồi và suy tôn hồn ma những thể chế và những nhân vật đã chết từ lâu.
***
Cũng trong thư gởi “Anh Cống”, Ngụy Hữu Tâm viết:
“Vậy em xin nói điều nay cũng nhiều người Bắc nghĩ, nhưng chưa dám công khai nói ra mà thôi: xét cho cùng: Ông Diệm đúng! Ông Hồ sai!
Ông Diệm ngay từ đầu đã hướng về phương Tây, theo Đạo theo nghĩa trong sáng nhất của từ này, toàn tâm toàn ý theo Chúa, để đánh chủ nghĩa cộng sản vô thần, phải cầu cứu Hoa Kỳ nhưng kiên quyết không để cho quân Mỹ vào rồi cuối cùng bị ngay cận thần của mình phản bội, sai lầm tai hại của Hoa Kỳ và giới quân sự Việt Nam Cộng hòa thời đó.
Ông Hồ, tuy cũng đi tìm đường cứu nước, quá láu cá nhưng ít học nên trở nên gian giảo, phạm sai lầm ngay từ đầu, mạo danh Nguyễn Ái Quốc là tên gọi nhóm năm trí thức sáng giá nhất thời đó, nhưng lại theo đuôi cộng sản dù không biết nó là gì để với trò chơi này, đến 1946 khi có thời cơ độc nhất vô nhị nhân xuất hiện chân không quyền lực, „cướp“ được chính quyền khỏi tay chính phủ Trần Trọng Kim, đuổi được quân „Tầu ô“ ra ngoài, nhưng bị tên thực dân cáo già de Gaulles quyết tâm chiếm lại, cầu cứu Hoa Kỳ không được vì họ biết tỏng người cộng sản giả hiệu này, đã hoàn toàn „bán nước“ năm 1951 cho họ Xít và họ Mao. „Gieo gió ắt gặt bão“, Ông Hồ cũng bị cận thần cho „ra re“ ngồi chơi xơi nước từ năm 1960 để chết thảm năm 1969 dù vẫn được đàn em giả vờ tung hô, và cho đến cuối đời vẫn lầm lẫn nói trong di chúc „tôi về với cụ Mác và cụ Lê Nin“, không nhắc đến cụ Mao vì… Mao đã chết đâu mà về với y? Y vẫn đang còn nhăn răng sống với Giang Thanh và lũ mỹ nữ chân dài kia mà”
          Đúng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã bởi “Anh Cống” của Ngụy Hữu Tâm từng là trưởng khoa tại một trường đại học “dưới chế độ XHCN” cũng có một lý sự kỳ quái như thế này:
“Thực chất là chế độ Diệm đàn áp cộng sản nhưng người ta lại dùng cách đánh tráo khái niệm để ngụy biện thành “Đàn áp những người yêu nước, đàn áp nhân dân”. Đánh tráo như vậy nhằm kích động hận thù dân tộc”.
Tôi đã viết về “Anh Cống” của Ngụy Hữu Tâm, dẫn lại cũng là để trả lời Ngụy Hữu Tâm hôm nay:
“Thật là khùng điên khi cho chế độ của Ngô Đình Diệm chỉ “đàn áp cộng sản” chứ không phải đàn áp “người yêu nước”, cho cái ý “người cộng sản là người yêu nước” là “đánh tráo khái niệm để ngụy biện”, để “nhằm kích động hận thù dân tộc”. Chỉ là một kẻ thù điên cuồng của chế độ mới có một sự phân chia thù địch như vậy.
Trước bao linh hồn của các chiến sĩ cộng sản hy sinh trong tù ngục thời cách mạng còn trứng nước, trước bao linh hồn các chiến sĩ hy sinh trong hai cuộc kháng chiến khốc liệt để có được ngày hòa bình hôm nay, trong đó có đồng đội của tôi, tôi không chửi Nguyễn Đình Cống là một “thằng già láo” thì tôi không còn là tôi nữa! “Thằng già” này cần phải biết về Ngô Đình Diệm”.
 Ngày 8 tháng 3 năm 1949Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại, thực chất là con bài giúp Pháp thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương. Rồi đến khi Pháp thua tại Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn có một chính phủ mở rộng hơn là chính phủ của một ông Vua bù nhìn để làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh. Ngô Đình Diệm đã được Mỹ chọn là quân bài giúp Mỹ thế chân Pháp. Bảo Đại đã phải cho Diệm một chức vụ Thủ tướng. Ý thức được rằng mình đang ném ngai vàng đi, Bảo Đại đã bắt Diệm phải thề trung thành. Diệm đã quỳ xuống trước Hoàng Hậu Nam Phương thề là sẽ làm hết sức để giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long. Nhưng chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đã dùng tiền của CIA tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý gian lận để phế bỏ Bảo Đại và lên làm Tổng Thống. Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô Đình Diệm, người đã dựa vào thế lực công giáo, giúp em mình đoạt quyền từ Bảo Đại, phản lại Pháp, khi trước đó đã quỳ gối viết gởi những quan thầy Pháp như thế này:
     "Với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi (Ngô Đình Khả) cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh.
      Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp...."
Theo "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald, Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139, khi viết về Ngô Đình Diệm, tác giả viết: “Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thành phố ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương”. (For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West)”. Trong thời gian chúng ta vẫn kiên trì chờ đợi thực hiện Hiệp định Genève, Ngô Đình Diệm đã đưa ra luật 10/59 để diệt cộng; với những nhà tù khét tiếng như nhà ngục Chín hầm ở Huế, nhà tù Côn Đảo, nhà tù Phú Quốc v.v… Những hành động tàn sát chính đồng bào mình được coi là quốc sách. Mức độ độc tài, tàn ác quá lớn đã làm mất lòng cả thuộc cấp, làm phật ý cả Mỹ, vì thế Diệm mới phải chịu quả báo nhãn tiền, bị đảo chính, bị giết. Ấy vậy mà đến tận giờ vẫn có những người như Nguyễn Đình Cống, Ngụy Hữu Tâm, v.v… được lớn lên và giáo dục “dưới mái trường XHCN” suy tôn Ngô Đình Diệm thì đúng là quá kỳ quái!
          ***
          Giống như Ngụy Hữu Tâm và Nguyễn Đình Cống, những người cũng được hưởng nhiều may mắn, ưu đãi của thể chế như Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Thị Từ Huy, v.v…, họ không phải ra trận như những người cùng trang lứa hoặc thế hệ trước, đều được du học, nhờ chế độ mà thành đạt rồi thành danh, bây giờ quay lại “cắn” chế độ. Họ đều nhân danh “dân chủ, nhân quyền” để chống lại thể chế hiện tại bằng những việc nói bậy, quấy rối, làm càn. Họ đã có tất cả, chỉ thiếu quyền lực, phải chăng họ chống đối để giành quyền. Nhưng giành quyền lực đâu phải đơn giản thế nên chỉ có thể lợi dụng sự quấy rối để mong đạt những tham vọng ảo tưởng mà thôi!
          Ngược lại về phía Đảng, Đảng cần phải giành lại quyền lãnh đạo, chú trọng hai việc quan trọng nhất, đó là công tác tổ chức cán bộ và giám sát sự điều hành nền kinh tế, tránh tình trạng mang tiếng “toàn trị” mà “ngồi chơi xơi nước”, không trị được ai. Đến như TBT Nguyễn Phú Trọng cũng thể hiện sự bất lực khi nói về vấn đề tham nhũng: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi, như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu” và ông cũng băn khoăn: “Hiện nay, trong dư luận xã hội vẫn râm ran chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy chế độ, chạy luân chuyển... Nếu có thì ta phải sửa… phải khắc phục cho được tình trạng này".
          Cần khắc phục tình trạng “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, lãnh đạo làm ngơ trước sự bức xúc và oan khiên của dân, cần có những hành động quyết liệt, cấp thời như Bí thư TP HCM Đinh La Thăng và mới đây nhất trong vụ quán Xin Chào của tân TT Nguyễn Xuân Phúc. Hành động của các ông là cục bộ, đơn lẻ, nhưng như tấm gương, có khả năng cảnh báo những chuyện tương tự, là ví dụ chân thực, sinh động, thiết thực nhất về hành động vì dân của lãnh đạo, có sức lan tỏa, làm yên lòng dân rất lớn trong thực trạng có nhiều bất ổn về ý thức, về tinh thần hiện nay.

          26-4-2016

          ĐÔNG LA

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 4 năm 2016

VỤ QUÁN XIN CHÀO, VIỆC NHỎ MÀ Ý NGHĨA RẤT LỚN CỦA TÂN THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC

ĐÔNG LA
VỤ QUÁN XIN CHÀO, VIỆC NHỎ 
MÀ Ý NGHĨA RẤT LỚN
CỦA TÂN THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC


Vừa rồi tân Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc có một hành động gây bất ngờ đối với dư luận, một sự bất ngờ thú vị. Cụ thể, theo VietNamNet, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết sáng 21/04/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có chỉ đạo Chủ tịch UBND TP.HCM yêu cầu cơ quan tư pháp dừng ngay vụ việc chủ quán cà phê “Xin Chào” (ở thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh) do chậm đăng ký kinh doanh bị khởi tố hình sự.
Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong, chiều 21/4, trao đổi với báo chí, xác nhận tối 20/4 ông đã nhận được điện thoại của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc yêu cầu lãnh đạo thành phố xem xét lại vụ án “quán cà phê Xin Chào” và: “Thủ tướng đã chỉ đạo rồi, cứ theo chỉ đạo của Thủ tướng mà làm!”.
Có lẽ đây là việc chưa từng có, một Thủ tướng Chính phủ phải quan tâm những chuyện đại sự quốc gia nhưng vẫn chú ý giải quyết một chuyện rất nhỏ “như cái móng tay”! Thứ hai, một nhà nước pháp quyền, luật pháp là tối thượng, tất cả phải theo luật, một Thủ tướng can thiệp như vậy liệu có lạm quyền, có phạm luật không?
Sự việc của một chủ quán cà phê đúng là nhỏ nhưng lại liên quan đến một vấn đề rất lớn, đó là nhân quyền. Một vấn nạn kéo dài ở ta đó là thủ tục hành chính hành dân trong trong kinh doanh. Lẽ ra phải làm ngược lại mới đúng, không chỉ tạo môi trường thông thoáng mà còn phải có biện pháp hỗ trợ người kinh doanh, bởi một việc kinh doanh ra đời, không chỉ mang lại lợi ích cho chủ sở hữu mà còn tạo ra việc làm cho người khác và còn đóng thuế vào ngân sách nữa. Vậy việc can thiệp của tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào một việc nhỏ nhưng lại có ý nghĩa rất lớn. Còn với nhà nước pháp quyền đúng là tất cả phải theo luật. Nhưng xã hội không phải là một xã hội của rô-bốt, cứ có luật như lập trình là rô-bốt thực hiện nguyên xi, mà là xã hội của loài người. Mà loài người thì không bao giờ hết tham, sân, si nên quan thì còn lạm quyền, dân thì còn lách luật sẽ mãi là chuyện muôn thủa. Việc tuân thủ pháp luật cũng còn phải phụ thuộc vào trình độ luật pháp của một xã hội nữa. Vì vậy trong một cái mớ bòng bong vẫn cần phải có một tiếng nói quyết định. Trong vụ quán cà phê Xin Chào, tiếng nói đó chính là tiếng nói của tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Theo thông lệ, ông mặc kệ “bọn ở dưới” cũng không ai trách ông. Như không ai trách ông Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ của mình mà như ông nguyên Tổng Thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh, trong một buổi đăng đàn (hình như trên Quốc hội) nói còn có vô vàn đơn khiếu nại, tố cáo không được giải quyết, có đơn kéo dài đến ba- bốn mươi năm! Như vậy việc tân TT Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo cấp tốc vụ quán Xin Chào đã chứng tỏ ông là người có TÂM. Xã hội VN người tỏ ra có TÀI ngày càng nhiều nhưng người có TÂM hình như ngày càng ít đi, chính vì vậy những oan khiên của người dân đã bị làm ngơ nên đã dẫn tới tình trạng có quá nhiều vụ việc dân oan khiếu kiện, tụ tập, biểu tình. Trước đây ít người nghĩ ông Nguyễn Xuân Phúc sẽ “trúng” Thủ tướng. Ông có vẻ ít nói, nét mặt ít cởi mở, không diễn giỏi như một số người. Qua hành xử của ông trong những ngày hôm nay tôi chợt nhận ra những nét trên của ông chính là nét của một người cả nghĩ, sâu sắc, coi trọng hành động hơn lời nói, và trên hết ông có tình người.
Về cái tên người, có tên ngược với thực tế, như Viện Dược tôi ngày xưa có ông tên là Nhai nhưng răng rụng hết không nhai được; “các bạn” rân trủ cả đực, cái có mấy cái tên là Hảo nhưng đều bất hảo; nhưng cũng có tên khớp với thực tế. Như tôi đây lấy bút danh Đông La (thực ra là tên làng tôi) suốt ngày cứ phải la hét trên mạng. Rất mong cái tên Nguyễn Xuân Phúc của ông tân Thủ tướng được thể hiện trong đời sống, chính là mùa xuân gieo phúc cho đất nước, cho dân tộc.
***
Quay lại vụ quán Xin chào, tiếp theo, sáng 22/04/2016, Chủ nhiệm UB Tư pháp Lê Thị Nga cho biết đã yêu cầu Viện trưởng Viện KSND Tối cao Hà Minh Trí và Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình yêu cầu các cơ quan chức năng liên quan tại TP.HCM báo cáo đầy đủ vụ việc khởi tố ông Nguyễn Văn Tấn, chủ quán cà phê Xin chào, huyện Bình Chánh, TP.HCM xem có đúng pháp luật?
Cũng sáng 22/04/2016, trả lời tại cuộc họp báo về hội nghị Thủ tướng với DN năm 2016, Phó chủ nhiệm VPCP Lê Mạnh Hà cho biết:
“Dù VPCP chưa kịp tham mưu bằng văn bản, Thủ tướng đã chỉ đạo ngay để tháo ngòi nổ cho vụ này và được dư luận đánh giá cao. Nếu chủ quán Xin chào 'thua', sẽ đưa ra thông điệp rất xấu cho cộng đồng DN. Điều đó cũng có nghĩa mọi DN đều có thể đi tù”.
Theo ông, cần xem động cơ vụ việc này là gì, tội kinh doanh trái phép chỉ xảy ra đối với trường hợp kinh doanh những ngành nghề bị cấm, bị hạn chế kinh doanh, đã được quy định rất cụ thể trong danh mục. Chẳng hạn như kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao. Còn trường hợp kinh doanh của quán cà phê Xin chào chỉ là kinh doanh ăn uống bình thường.
Kết quả, ngày 23/4, Viện trưởng VKSND Tối cao Lê Minh Trí đã làm việc với lãnh đạo VKSND TP HCM và huyện Bình Chánh về vụ án của ông Nguyễn Văn Tấn. Sau khi nghe lãnh đạo VKSND TP HCM và huyện Bình Chánh báo cáo nội dung, quá trình giải quyết vụ án, ông Trí cho rằng ông Tấn không phạm tội Kinh doanh trái phép theo Điều 159 BLHS. Ông Trí cũng yêu cầu Viện trưởng VKSND TPHCM chỉ đạo Viện trưởng VKSND huyện Bình Chánh ra ngay quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can đối với ông Tấn. Đồng thời công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại (nếu có) cho ông Tấn theo quy định. Viện trưởng VKSND TP HCM tạm đình chỉ công tác ông nguyên Viện phó VKSND huyện Bình Chánh Lê Thanh Tòng (hiện là Viện phó VKS quận 6) và kiểm sát viên Hồ Văn Son - hai người trực tiếp tiến hành tố tụng vụ án này để kiểm điểm, làm rõ sai phạm.
          Như vậy, chỉ từ một việc “nhỏ như móng tay” theo lời ông Thiếu tướng Minh, Phó Giám đốc CATPHCM, cả nền chính trị VN đã vào cuộc.
          Như đã viết, vụ việc đúng là nhỏ, chỉ liên quan đến một cá nhân, chủ một quán nhỏ, nhưng lại là vấn đề lớn liên quan đến nhân quyền. Qua việc này VN đã chứng tỏ với thế giới rằng nhân quyền ở VN luôn được tôn trọng và bảo vệ. Dù rằng trong thực tế còn xảy ra rất nhiều vụ vi phạm nhân quyền nhưng tất cả đều là do trình độ và đạo đức của người thi hành công vụ, tất cả đều là phạm pháp, chứ Hiến pháp VN, Pháp luật VN không có dung túng. Qua vụ này cũng chỉ cho các lực lượng chống phá VN, cả người Việt lẫn các tổ chức mang danh nhân quyền nước ngoài, bớt nói điêu đi, các quyền mà “các bạn” gào thét, lu loa đòi là quyền “nói bậy, quấy rối, làm càn” sẽ không bao giờ được nhà nước VN chấp thuận đâu vì đó không phải là nhân quyền. Vụ ông Nguyễn Văn Tấn, chủ quán cà phê Xin Chào, vừa được bảo vệ mới đúng là nhân quyền, mà lại là quyền quan trọng nhất, đó là quyền làm ăn để duy trì cuộc sống của người dân, quyền mưu cầu hạnh phúc.
          ***
          Ngay bản thân tôi đã từ lâu và nhiều lần bằng chính chữ nghĩa của mình đã bảo vệ được nhiều người khỏi oan sai, cũng chính là việc bảo vệ nhân quyền. Chỉ xin đưa ra mấy ví dụ.
Nhân chuyện ông Võ Văn Thưởng kỳ này vào Bộ Chính trị, giữ chức trưởng Ban Tuyên giáo, ông Thưởng từng học triết tại tường ĐH KHXH & NV TPHCM thì chắc chắn là học trò ông PGS TS triết học Lê Trọng Ân, giáo viên ở trường đó. Ông Ân từng phê phán sách giáo khoa triết học bị Ban Biên soạn phản đối, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đánh công văn đề nghị trường kỷ luật ông Ân và ông Ân đã bị kỷ luật. Chính tôi đây đã giúp ông Ân, chỉ ra sách giáo khoa triết học sai thật, ông Ân đúng, từ các bài viết của tôi, ông Ân đã cãi lại và cãi thắng, việc kỷ luật ông Ân buộc phải xóa bỏ. Xong việc, ông Ân đã cảm ơn tôi và mang quà biếu. Tôi bảo: “Ông làm thế mất tư cách tôi và mất cả cái ý nghĩa tôi giúp ông”. Ông Ân: “Không có đâu, mong anh nhận cho, đây là tấm lòng của tôi!”
          Việc thứ hai là việc ông Cấn Văn Hành ở Bình Phước. Tỉnh Bình Phước đã lập một đoàn đi đập mộ liệt sĩ Cấn Văn Học là anh ruột ông Hành để kiếm cớ kết luận ông có móc nối với cô Vũ Thị Hòa làm di vật giả và mộ giả. Kết luận do chính ông Nguyễn Văn Trăm, chủ tịch tỉnh, ký. Ông Hành đã đến tận nhà tôi trình bầy vụ việc, tôi đã giúp ông Hành viết đơn kiện ông Chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Trăm, gởi Cơ quan điều tra Bộ Công an. Đơn kiện chưa được giải quyết nhưng đã ngăn được ý đồ của ông Nguyễn Văn Trăm kiếm cớ đổ tội cho cô Vũ Thị Hòa qua ông Cấn Văn Hành. Ông này
vốn là Cục trưởng Cục chính trị QK7, nơi từng ra công văn vu khống cô.
Với cô Vũ Thị Hòa là trường hợp thật đặc biệt, cô được cá nhân và cơ quan mời giúp tìm mộ liệt sĩ; những bệnh nhân đã bị bệnh viện trả về, cùng đường, tìm đến cô, nhờ cô cứu giúp bằng khả năng đặc biệt. Cô chỉ làm từ thiện, không lấy của ai một thứ gì, không gây thiệt hại cho ai, được nhiều người mang ơn. Vậy mà cô đã bị những cá nhân, những cơ quan rất to như QK7, VTV,…, gần đây nhất là Thị xã Phúc Yên,  tố cáo cô lừa đảo, lợi dụng mê tín dị đoan.
          Đến nay, tôi không theo cô Hòa từng bước nên không thể biết hết việc cô làm, nhưng tôi khẳng định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chuyện tôi nói cái điều những cơ quan, cá nhân đã nói cô lừa đảo, trục lợi trên xương máu liệt sĩ, rồi lợi dụng mê tín dị đoan khám chữa bệnh trái phép là hoàn toàn vu khống. Tôi đã giúp cô viết những đơn kiện, cũng như vụ ông Cấn Văn Hành, các đơn kiện chưa được giải quyết, nhưng đã bảo vệ được cô bình yên cho đến hôm nay, và đặc biệt, chương trình Trở về từ ký ức của Thu Uyên trên VTV1 đã phải dừng lại.
          Hiện tại cô Vũ Thị Hòa đã có luật sư riêng, rất mong với tư cách pháp nhân của mình, văn phòng luật sư xem lại và tiếp tục giúp cô đòi lại sự trong sạch và công minh theo đúng pháp luật.
          Qua vụ chủ quán Xin chào “nhỏ như móng tay” mà tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã quan tâm như thế thì vụ cô Vũ Thị Hòa “to như trái núi” nhất định Thủ tướng phải quan tâm. Luật sư cần lập toàn bộ hồ sơ gởi đến Văn phòng Chính phủ. Vì việc của cô Hòa không chỉ là việc vi phạm nhân quyền, xúc phạm nhân phẩm một người mà còn là việc phủ nhận hàng ngàn, hàng vạn hài cốt liệt sĩ, xúc phạm giáo lý Đạo Phật, xúc phạm cả công cuộc nghiên cứu những khả năng đặc biệt của con người giúp đời mà chính TBT Lê Khả Phiêu đã ký quyết định. Đúng sai, tốt xấu phải phân minh, không thể vơ đũa cả nắm được.
          24-4-2016
          ĐÔNG LA