Thứ Sáu, ngày 12 tháng 2 năm 2016

MỪNG CON VỀ NHÀ MỚI

MỪNG CON VỀ NHÀ MỚI
                
              Hôm nay ông bà thông gia mời cơm mừng nhà mới sau hơn một năm đón con dâu:
           Ý định làm nhà mới đón dâu không thành do giấy tờ xây dựng trục trặc hay thế nào đó nên hơi lâu, sau hơn một năm mới làm được. Cuộc đời nhanh chậm không quan trọng, cái chính là cuối cùng phải thành công. Đám cưới mới đó mà đã hơn một năm rồi:

Ảnh đại gia đình chụp sau lễ ở nhà thờ:
12-2-2016                                                                                                    

Thứ Tư, ngày 10 tháng 2 năm 2016

NHỮNG KỶ NIỆM VÀ TÂM TƯ VỀ TẾT

ĐÔNG LA
NHỮNG KỶ NIỆM VÀ TÂM TƯ VỀ TẾT

Niềm vui tết năm nay của tôi bị mẻ một miếng to, đơn giản là vì tôi bị bệnh. Bệnh vặt cảm cúm do trời lạnh đột ngột thôi nhưng triệu chứng rất khó chịu. Sau khi thực hiện ba mũi giáp công, từ tỏi nhà bếp, thuốc cảm, thuốc chống viêm, thuốc kháng sinh, sáng nay gần như đã hết khó chịu, cổ họng còn đau chút xíu thôi.
Nhưng với tôi thực ra từ khi 17 tuổi xa quê tới nay đâu có khi nào vui một cái tết trọn vẹn. Khi lấy vợ, có con, tức đã có một thế giới riêng, cần phải tổ chức tết cho con cái, rồi mình cũng vui theo các con, nhưng rõ ràng là lo tết, niềm vui vẫn không giống mình hưởng những cái tết của cha mẹ dành cho thời bé thơ. 11 năm nay thằng con lại xa nhà, tết lại trống vắng, mất vui già nửa. Buổi sáng hàng ngày (giờ VN) nó hay gọi điện về cho mẹ nó để giết thời gian, vì bên chỗ nó là chiều tan tầm, nó thường đang lái xe trên xa lộ về nhà. Gần trưa 30 kỳ này nó gọi, mẹ nói hỏi “Chuẩn bị đi ngủ hả?”, nó bảo “Con chuẩn bị đi làm, Tết có thằng VN xin nghỉ ăn Tết, con làm 3 ca luôn”. Ông con phải đi làm 3 ca trong ngày tết thì làm cha mẹ cũng khó mà vui tết trọn vẹn được.
Tóm lại với tôi chỉ có thời trẻ con là có niềm vui tết trọn vẹn, và chính tình cảm thực đó đã tạo cảm hứng cho tôi sáng tác được vài bài thơ về Tết.
          Nhớ lại có lần đàm đạo thơ văn với Nhà thơ Hoài Anh và bạn anh là ông “Lâm râu”. Cả hai người đều đã chết, anh Hoài Anh còn thì giờ đã chẵn 80 tuổi. Nếu nói cuộc đời có số mệnh thì quan hệ với anh Hoài Anh là một phần số mệnh của đời tôi. Sau khi cô Anh Thơ xác nhận tôi có khả năng làm thơ, cô xé một tờ lịch viết: “Thân gởi nhà phê bình trẻ Hoài Anh… có cậu này làm thơ khá, có bài này nhờ Hoài Anh đưa…”. Cô viết vậy vì anh Hoài Anh làm ở báo Văn nghệ TPHCM, cũng đã là một tên tuổi trong làng Văn. Sau đó bài thơ của tôi được đăng, đó chính là lần đầu tiên tôi được đăng báo nên vui không thể tả được. Hôm đi lấy nhuận bút, chị phát nhuận bút bảo anh Hoài Anh có nhắn rằng “ảnh” muốn gặp tôi. Tôi ra tìm gặp anh ngay, từ đó bắt đầu một tình bạn vong niên mấy chục năm. Anh hơn tôi gần 2 chục tuổi, nhưng rất quý trọng tôi, tính tôi thích ngồi một mình, tại quán cà phê trong khuôn viên tòa báo, anh đang ngồi bàn với đông người, thấy tôi đến là bỏ sang ngồi riêng với tôi. Lúc đầu chính tôi cũng thấy lạ, mãi sau mới hiểu. Số là trong một bài anh viết nhân sự kiện Nhà thơ lớn Chế Lan Viên mất, anh kể chính Chế Lan Viên đã đến tận báo gởi gắm tôi cho lãnh đạo báo (Nhà thơ Chim Trắng) và chính anh. Tôi nhớ sau lần đầu tiên Chế Lan Viên đọc chùm thơ dự thi của tôi tại nhà ông và ông cho giải ngay, ông còn đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn TPHCM, ông bảo sẽ đến báo giới thiệu tôi. Tôi nghĩ ông nói chơi thế thôi, không ngờ, tận 3 năm sau khi ông mất (1989), thì qua bài anh Hoài Anh viết, tôi mới hiểu ông không nói chơi mà nói thật. Vợ con tôi cũng đã được gặp ông, ông cũng rất quý. Thằng con tôi cũng có chuyện không ngờ, khi lên cấp III lại học cùng lớp với thằng Đức, cháu ngoại của ông. Vì thế tôi có tình cảm sâu đậm thật với Nhà thơ Chế Lan Viên chứ không phải cái thói vớ vẩn “thấy kẻ sang bắt quàng làm họ” như bao kẻ nhỏ nhen trong giới văn chương từng nghĩ về tôi.
          Quay lại chuyện đàm đạo về thơ với anh Hoài Anh và ông “Lâm râu”. Ông “Lâm râu” khoái chí khoe một câu ông làm về cái chuyện va vào nhau thế nào đó mà tôi không nhớ.
          Tôi bảo:
          -Va thế ăn thua gì, em đây này, đi lang thang trong chiều, đêm xuống “va cả vào đêm” mà còn không biết đây này.
          Rồi tôi đọc:
          Ta lại một mình lang thang trên quê
          Va cả vào đêm đặc quánh
          Ông “Lâm râu” vỗ đùi: “Công nhận thơ mày hay!”, còn anh Hoài Anh chỉ tủm tỉm cười.
          Tôi nhắc lại chuyện này đơn giản là vì hai câu đó chính là hai câu mở đầu cho một bài thơ Tết của tôi.
          Dân gian thường nói “Tối như đêm ba mươi”, “Đêm ba mươi tối đen như mực”, đó là những ấn tượng giúp tôi có cái cảm giác đêm đặc quánh, có thể va vào được, và với con mắt nhà phê bình văn học thì “va vào đêm đặc quánh” chính là một sáng tạo ngôn ngữ.
          Bài thơ viết về kỷ niệm thời thơ bé đón Tết khi đất nước còn chiến tranh vô cùng nghèo khổ. Chính vì nghèo khổ nên Tết mới vui hơn, chỉ ngày tết những đứa trẻ mới có cơ hội được mặc áo mới, mới được ít nhiều ăn ngon. Tôi dùng chữ “cơ hội” vì là điều không chắc chắn, “ít nhiều” vì có đâu mà ăn nhiều. Với tôi ấn tượng về cái nghèo khổ chính là về cái lạnh, còn hơn cả về cái đói. Những câu thơ tôi sáng tác đầu tiên chính là viết về mẹ, về sự gian khổ của mẹ trong giá lạnh mùa đông, khi tôi đang là một cán bộ nghiên cứu của một viện Dược thuộc Bộ Y tế, chính vậy mới khiến cho nhà thơ Anh Thơ phải kêu lên là “Cháu có tài đấy cháu ạ”. Những câu thơ rất thật nhưng lại rất sống động, ấn tượng, “không giống ai”, khiến cho một nữ thi sĩ, đến nay hình như vẫn là duy nhất được Giải Hồ Chí Minh, khen tôi là có tài như trên, đã khuyến khích tôi vào con đường văn chương (vô tích sự), lại còn giới thiệu tôi đến với Chế Lan Viên nữa:

Ôi mùa Đông rét trụi cành xoan
Rét quăn mép chiếc lá chè thưa thớt
Rét làm đọng hơi mặt giếng khơi ngùn ngụt
Rét làm dài con đường ngắn ngủi trên quê

Những ấn tượng đó tôi cũng viết trong bài thơ về Tết nói trên:

Lại một mình trên con đường thân quen
Thấy lăn lóc đầy dấu chân một thời thơ bé
Dấu chân của thời không giày không dép
Bao năm rồi còn nằm đó lạnh run

              Cúi nhặt lên ủ ấm giữa lòng tay…

          Nếu không hiểu, không trải nghiệm, những nhà phê bình quen thói bắt bẻ dễ cho tôi là “làm văn”, “làm dáng chữ nghĩa”, làm sao thấy được dấu chân mấy chục năm trước, còn “Cúi nhặt lên ủ ấm giữa lòng tay”. Có điều cần phải phân biệt, sự sáng tạo chữ nghĩa nếu dựa trên một nền tảng của hiện thực, của cuộc sống tất sẽ có giá trị, còn không thì đúng chỉ là thứ văn chương sáo rỗng. Để viết được những câu thơ trên tôi đã phải trải qua cả một tuổi thơ đói rét. Hồi nhỏ, lũ trẻ con chúng tôi trong giá lạnh cắt da nhưng toàn phải đi chân đất, không có giày dép gì cả. Nên một đôi giầy ba ta bình thường luôn là mơ ước của tôi, mơ trong khi ngủ chứ không phải lúc thức, vì lúc thức thì chẳng dám mơ.
Trong một bài khác tôi cũng viết về cái lạnh:

Tuổi thơ con lăn lóc trong lam lũ nhọc nhằn
Những con chữ cũng bị đói lây trong giờ lên lớp
Ngón chân tím bầm suốt mấy mùa đông

Viết về Tết không thể không nhớ về ông bà, cha mẹ.

(Cha mẹ tôi)
Cả tuổi thơ, người tôi ở gần nhiều nhất là mẹ, người thứ hai là ông nội chứ không phải cha tôi vì cha tôi luôn bận “công tác”. Ông là y sĩ, trưởng trạm Y tế xã, là người có bằng cấp tây y đầu tiên ở quê tôi. Ông thường bảo: “Bác sĩ thì là cái đếch gì, tại tao già chứ học thêm vài năm là thành bác sĩ chứ có gì đâu”. Hồi nhỏ tôi thấy người ta thường gọi ông là “BS Xuất”, bệnh gì cũng gọi, ông chữa tất, nặng quá thì chuyển lên “tuyến trên”, có khi vừa về đến nhà là lại có người gọi. Chữa bệnh cứu người như một sứ mệnh, ông không bao giờ từ chối, nhưng tôi thấy ông hay chửi tục một câu rồi mới đi: “Tiên sư nó! Bố vừa về đã gọi rồi!”. Ông một tay xách một cái túi nhựa nhỏ đựng hộp ống và kim tiêm (tôi còn giữ), tay kia cầm cái xoong nhỏ có cán để luộc ống và kim tiêm khử trùng. Hầu như ông chữa bệnh cho tất cả mọi người trong xã, không "ăn tiền" như bây giờ, chỉ khi nhà người ta có cỗ thì hay mời ông, có những trường hợp đặc biệt ông được coi như là ân nhân cứu mạng. Như thằng Mạnh “Yêng”, gọi thế vì nó con bà Yêng cùng xóm tôi. Khi mẹ nó sinh, nó bị ngạt, tím tái hết cả rồi, cha tôi hôm đó bận hay do thế nào đó mà không có mặt kịp thời. Khi người ta gọi được ông đến ông đã kiên trì cứu sống được nó. Chính bà ngoại nó, chứ không phải mẹ nó như tôi vẫn tưởng, đã làm lễ mang ra nhà tôi, xin cho nó làm con nuôi chính thức và xin được đặt trùng tên với thằng Mạnh em ruột tôi. Thằng Mạnh này giờ đã là Phó Bí thư thường trực huyện tôi. Thằng Mạnh em ruột tôi nói “Nó to thứ hai huyện mình. Đi đường không đội mũ bị công an bắt cứ gọi cho chú Mạnh!”. Ông anh tôi cũng mới cho tôi biết thêm chính thằng cháu con ông trưởng họ tôi, cũng từng bị bệnh nặng thuộc “diện” cha tôi cứu sống.
Vì thế tôi luôn tự hào về cha tôi, có ý thức học hành vì noi gương ông. Ông hay nói với mẹ tôi: “Thằng Hùng nó thông minh giống tôi”. Nhưng thực tế mẹ tôi không biết chữ nhưng về sự thông minh thì chưa biết ai hơn ai, còn tính nết tôi lại giống ông nội nhiều hơn chứ không phải cha tôi. Tôi giống ông tôi ở chỗ cái gì cũng biết làm. Cha tôi ngoài công việc y sĩ ông không giỏi, không chăm làm một điều gì. Tôi nói với thằng con “Mày đúng là giống ông nội mày, còn tao giống ông nội tao”. Tôi cũng có dáng khòng khòng của ông nội, có người bảo tướng quý đấy, tướng của nhà tư tưởng đấy! Thời ông tôi chuyện học hành quá hiếm, chỉ được học ông giáo làng thôi, nhưng ông tôi học giỏi nhất nên được ông giáo gả con gái cho, đó chính là bà nội tôi. Ông tôi là người thường nhưng lại rất có uy ở vùng quê tôi, chính là người đã đứng ra bảo vệ nhà thờ họ nên nó còn đến ngày hôm nay khi mà thời “Cải cách” người ta đã tính phá đi hết cả.
Vì vậy tôi cũng luôn tự hào về ông nội tôi. Tôi hay nhớ chuyện ông tôi làm món ăn, nhất là ngày tết giã giò, thái nem, gói bánh. Ông thường để dành một phần để cúng giỗ vợ, tức bà nội tôi, ngày 14 tháng giêng, cũng chính là ngày cưới “chạy tang” của cha mẹ tôi. Kỷ niệm tết thời nhỏ không thể không nhớ chuyện “ăn đụng” thịt, mấy nhà chung nhau một con lợn. Giờ thấy chuyện sát sinh ghê ghê nhưng hồi nhỏ, đêm mấy nhà chung nhau mổ lợn chính là niềm trông đợi, là niềm vui, là không khí tết. Tiếng giã giò từ mấy chục năm trước vẫn luôn vang trong ký ức tôi và còn vang lên cả trong thơ tôi nữa. Tôi đã viết:

Cúi nhặt lên ủ ấm giữa lòng tay
                   Nghe vọng lại cái háo hức những ngày nào mong Tết
                   Vọng lại tiếng giã giò ngày nào “cục quyếch”
                   Bóng ông lầm rầm trước bàn thờ Tổ trầm tư        

                   Chưa kịp dạy con khấn vái cha đã ra đi
                   Giỗ Tết về chỉ biết gọi cha bằng những lời im lặng
Những sợi khói hương có bắc được nhịp cầu
                                        giữa hai bờ cách biệt ?
                   Cha đã mất rồi hồn cha có còn không?
          ***
          Tết nhất không chỉ là chuyện vui mà còn gắn bó với tâm linh, không thể có Tết mà không có chuyện cúng Tết. Câu hỏi linh hồn có còn không là câu hỏi đến cả nền khoa học cũng không trả lời dứt khoát được. Nhưng đến nay qua những chứng cớ của hiện tượng ngoại cảm xuất hiện ở VN đã giúp tôi khẳng định có thế giới của linh hồn, có cõi tâm linh, nhưng nó cụ thể như thế nào thì không biết đến bao giờ người ta mới có thể tường tận được, dù các tôn giáo đã tồn tại từ mấy ngàn năm, dù nhiều nhân vật có khả năng siêu phàm từng xuất hiện trong toàn bộ lịch sử của thế giới, và tôi trong chính những ngày hôm nay đây cũng đã tròn hai năm chứng kiến một người như thế. Đó chính là cô Vũ Thị Hòa.
Vì vậy trong ngày Tết tôi không thể không nhắc lại mấy chuyện ấn tượng nhất trong năm qua liên quan đến thế giới tâm linh mà cô Vũ Thị Hòa đã thể hiện khả năng siêu phàm của mình. Đó là chuyện tìm hài cốt một liệt sĩ dưới chân tường một ngôi nhà ở Củ Chi trước sự chứng kiến của tôi và nhiều người, cô nói trước sâu 1m8, vật chứng là cái răng vàng và cái bút máy “kim tinh”, những mảnh quần áo và những mẩu xương còn lại. Tất cả đã được tìm thấy đúng như cô nói. Chuyện thứ hai là chuyện cô dẫn một chủ nợ đi bắt sống kẻ trốn nợ, đã biệt tăm tích mấy năm, ở ngay giữa rừng sâu! Vợ tôi sau khi nghe tôi kể bảo “Bộ Công an mà tin cô, trọng dụng cô phá án thì đỡ tốn biết bao công sức”. Có điều tôi băn khoăn, khả năng của cô có phải là vô hạn không, hay chỉ tùy trường hợp thôi? Chuyện thứ ba còn đặc biệt hơn vì là chuyện tìm mộ thất lạc của chính bà nội tôi. Vật chứng là chiếc hũ gốm mà thằng thầy đểu người Tầu, ông nội tôi nhờ nó yểm bùa “hóa hung thành cát”, nhưng nó lại lừa ông nội tôi, bí mật bỏ theo tiền xu lỗ vuông một chiếc đinh bọc giấy “trang kim” để yểm nhà tôi “độc đinh” rồi tuyệt tự luôn. Cô cũng nói sao thì đào lên đúng như vậy.
Lại nói chuyện “mổ lợn”, trước tết, ông BS Thành cũng nhắn tin, tôi phải chụp đưa lên để bọn xấu không nghĩ tôi xạo để tuyên truyền trục lợi:

          Trước nữa Hường cũng nhắn tin cho tôi. Tôi bảo giờ mọi chuyện về cô tốt đẹp rồi, tôi hoàn thành sứ mệnh rồi. Những ngày lễ, tết, những lúc vui vẻ, nhiều người có thể phụ giúp cho cô tốt hơn tôi, tôi không gặp cô nữa cũng được. Hường nói chuyện, mà chính cô cũng đã nói với mọi người trong đó có tôi, là giờ cô hay đi “công tác”, nhà nước trọng dụng cô rồi, rước cô đi bằng xe có gắn dấu hiệu “gặp công an cũng không sợ” rồi;

giờ cô sáng như ban ngày rồi, vậy mà, nguyên văn Hường viết: “anh lại hết duyên với cô thì em tiếc lắm ạ!” Tôi viết giữa tôi và cô có quá nhiều chuyện ân nghĩa chuyện hết duyên cũng là khó.
          Đúng như thế, mấy ngày sau cô gọi:
          -Anh Đông La ra ngoài này đi, em sắp đi làm từ thiện ở vùng cao đấy.
          -Thôi cô ạ, em mới đi Bắc hai lần liền.
          -Vậy mồng 8 Tết anh phải ra đấy.
          -Em ngại quá, cô cứ ưu ái quá sợ người ta ganh tỵ, hay để nhường người khác, cô cho người khác đi.
          -Ông Đông La ơi, cái tôi của ông còn to lắm. Thôi, không được nói lôi thôi, mồng 8 Tết anh phải ra. Anh không ra là em làm cho anh điên luôn đấy!
          Tôi nghĩ thầm, bà này có phép thần thông, cáu tiết lên làm mình điên thật thì sao?
Nhưng chuyện đi Bắc ăn Tết cũng là chuyện sướng chứ không phải chuyện khổ, cũng không khó khăn gì để mà chiều theo ý cô, nên tôi cuối cùng đã OK.
          Mồng 3 Tết Bính Thân
          10-2-2016
          ĐÔNG LA


Thứ Ba, ngày 02 tháng 2 năm 2016

NGUYÊN NGỌC VÀ GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG CỦA BÀ ALEXEIVICH

ĐÔNG LA
NGUYÊN NGỌC VÀ GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG
CỦA BÀ ALEXEIVICH

Vừa rồi Võ Khánh Linh có “khoe” tôi viết bài về Nguyên Ngọc: Ông Nguyên Ngọc quảng bá cho nhà văn chống Nga được giải Nobel, có ý muốn tôi góp thêm tiếng nói. Nhưng chuyện Đại hội Đảng “nóng” hơn nên hôm nay tôi mới coi. Còn Nguyên Ngọc, một chuyên gia chuyên bầy trò, biết chắc chỉ là bổn cũ soạn lại thôi nhưng không thể không quan tâm. Bởi với văn chương, chữ nghĩa, học thuật, có những điều nhố nhăng nếu không phân tích thì những kẻ quấy rối dễ lừa mị được người đọc, biến những điều nhố nhăng thành những giá trị cao siêu.
            Về giải Nobel, gần đây tôi có trả lời phỏng vấn của các bạn “cờ đỏ”, một tác phẩm dạng mua vui bình thường thì không thể được giải, mà muốn được giải tác phẩm phải có tư tưởng. Thực tế đúng là có những nhà văn đồng thời là nhà tư tưởng khi tác phẩm của họ chỉ ra những căn bệnh của xã hội loài người và của chính nhân cách con người. Như nhà văn Gabriel Garcia Marqueztư viết về “cái cô đơn” chẳng hạn. Marquez là trường hợp đặc biệt, dư luận cho rằng ông là người đoạt giải Nobel trong số những giải Nobel. Ông được chọn trao giải vì tài năng và chiều kích tác phẩm của ông chứ không phải vì quan điểm chính trị, dù một nhà văn như ông tất phải có quan điểm chính trị. Có điều khác thường ở chỗ ông từng làm phóng viên ở Cuba và thân thiết với Fidel Castro, nghĩa là ông có quan điểm thân cộng, ngược với quan điểm thường lệch về phía chống cộng của giải Nobel Văn chương và Hòa bình. 
           Như Giải Nobel Hòa bình năm 1973 là một giải buồn cười khi người được trao giải cùng với ông Lê Đức Thọ là Kissinger, sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Buồn cười vì không có chiến thắng của quân đội VN trên các chiến trường và đặc biệt là cuộc đối đầu lịch sử ngay trên bầu trời Thủ đô Hà Nội với không quân Mỹ, với B52 trải thảm, thì không bao giờ có chuyện ông Kissinger, đại diện phía Mỹ, ký vào bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

             Tại hai nước từng đứng đầu “phe” XHCN là Liên Xô và Trung Quốc, người ta thường chọn những nhà văn có tư tưởng chống lại chính quyền để trao giải Nobel.
Với Liên Xô, Boris Pasternak, đoạt giải năm 1958, cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của ông, Bác sĩ Zhivago, không được in ở Liên Xô;  Alekxandr Isayevich Solzhenitsyn, đoạt giải năm 1970, từng viết một bức thư bày tỏ quan điểm chống lại chủ nghĩa Stalin, 7 – 1945, ông bị kết án tù 8 năm, khi Stalin mất, ông mới được phục hồi; Joseph Brodsky, đoạt giải  năm 1987, năm 1963 Brodsky bị kết tội "ăn bám xã hội" và bị đi cải tạo 5 năm, năm 1972, ông lại bị trục xuất, phải sang ViênLondon và cuối cùng là Hoa Kỳ.
Với Trung quốc, Cao Hành Kiện là nhà văn gốc Trung đầu tiên đoạt giải Nobel năm 2000, Chính phủ Trung Quốc từng coi ông là một phần tử chống đối và các tác phẩm của ông đã bị cấm lưu hành từ năm 1986, ông đã bỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1989, năm 1988, ông sang Pháp sinh sống và nhập quốc tịch Pháp từ 1998.
Có sự thiên lệch như vậy đơn giản là vì Giải thưởng Nobel được lập theo di chúc của nhà phát minh hóa học người Thụy Điển Alfred Nobel năm 1895. Mà Thụy Điển lại là một thành viên của EU, quan điểm về nhân quyền trong các tác phẩm tất phải lựa chọn theo “giọng” Phương Tây.
          ***
Võ Khánh Linh viết:
Giải Nobel Văn học lần này một lần nữa được lợi dụng cho động cơ chính trị khi Nguyên Ngọc đứng ra giới thiệu và quảng bá cho Alexeivich. Nguyên Ngọc cho biết trong buổi nói chuyện ngày 13 tháng 1 năm 2016 rằng ông có quen biết và thậm chí thân thiết với Alexeivich, nên nhanh chóng có bản thảo của bà từ rất lâu trước khi bà ta được giải Nobel Văn học. Được biết, Nguyên Ngọc đã dịch cuốn sách “Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ” của Alexeivich từ năm 1987, nhưng sau đó, do không có tiếng vang, Nguyên Ngọc không hề để tâm đến bà nữa, mà hoàn toàn chỉ dịch các tác phẩm của Milan Kundera – một nhà văn lớn và nổi tiếng khác cũng có xu hướng bài Cộng Sản. Như vậy, Nguyên Ngọc không dịch tác phẩm văn học chỉ vì nó hay mà vì ông thấy ở các nhà văn đó có các yếu tố giúp ông ta tuyên truyền chính trị (cũng như các học giả trong hội đồng trao giải Nobel Văn học)”;
Tiếp sau đó, Nguyên Ngọc phân tích về nội dung mà Alexeivich muốn truyền tải trong tiểu thuyết của bà. Cho dù bà ta viết về cái gì, dù là phụ nữ hay trẻ em trong chiến tranh, thì vẫn để lên án Chủ nghĩa Cộng Sản và nước Nga Xô Viết toàn trị. Bà gọi thẳng đó là cái ác”;
Xin mọi người nhớ cho Nguyên Ngọc từng là một Đảng viên Cộng sản, Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà Văn VN, chỉ vì có những quan điểm và hành động sai trái, đã bị phê phán, bị thất sủng, bị mất chức, nên mới thoái hóa trở thành một người có tư tưởng chống đối như trên.
Còn bà Alexeivich, vì chưa đọc trực tiếp tác phẩm của bà tôi không thể bình luận qua cách đọc đầy chủ quan, sai trái của người khác được, nhưng qua những phát biểu cụ thể về chính trị thì tôi hoàn toàn có thể có ý kiến về quan điểm chính trị của bà ta. Chỉ với câu nói: “Ở phía Đông (châu Âu) người ta "đã lừa gạt người dân 70 năm trời và sau đó lấy đi thêm 20 năm nữa". Vấn đề này làm cho ở Nga và Belarus "sinh ra những con người rất hung hăng, rất nguy hiểm cho thế giới"”, bà ta đã chứng tỏ không khách quan, quan điểm chính trị đầy tính chủ quan, thiên lệch, sai trái. Thực tế, hai cuộc chiến tranh thế giới khủng khiếp đã xảy ra; một do tham vọng phân chia lại thuộc địa của các nước thực dân, đế quốc; hai là sự phục thù của Chủ nghĩa Phát-xít chứ hoàn toàn không phải do tư tưởng XHCN. Vì vậy Nguyên Ngọc hoàn toàn sai trái khi viết về bà Alexeivich, theo Võ Khánh Linh:
Nguyên Ngọc cho biết bà Alexeivich khẳng định rằng khi ai đó muốn mang một thứ chủ nghĩa, một thứ lý tưởng áp đặt lên một xã hội nào đó thì đó là điều ác, và tai họa trên thế giới đều đến từ những ảo tưởng tốt đẹp về một thế giới không có người ác, không phân biệt giai cấp, như Chủ nghĩa Cộng Sản. Và đó là ảo tưởng, một thứ ảo tưởng muốn thay đổi thế giới bằng chiến tranh và bạo lực. Vậy thì, rốt cuộc Alexeivich hay Nguyên Ngọc đều đang công kích vào Chủ nghĩa Cộng Sản, quy kết cho Chủ nghĩa Cộng Sản đã tạo ra bất hạnh cho thế giới dù rao giảng lời tốt đẹp”.
***
          Trong vụ Nguyên Ngọc “quậy” lần này lại thêm một lần ông ta thể hiện quan điểm về lịch sử, cũng lại liên quan đến khả năng dịch thuật và mục tiêu “truyền bá tư tưởng” của ông ta! Xin thống kê lại mấy vụ:         
Nguyên Ngọc từng là chủ trò trao giải Phan Châu Trinh cho Nhà Sử học Keith W.Taylor, một Cựu Chiến Binh Mỹ tại Việt Nam, mà các nhà báo thuộc Câu Lạc Bộ Kháng Chiến TPHCM cho rằng không thỏa đáng.
          Trên TuanVietNam, 25/11/2013, Nguyên Ngọc viết: “Ở Pháp, một số các nhà sử học nổi tiếng đã lập ra một tổ chức gọi tắt là CVUH (Comité de vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy ban cảnh giác đối với việc đưa lịch sử ra sử dụng trong công chúng. Các nhà sử học uyên thâm ấy cảnh giác với việc chính quyền đương thời nhào nặn lịch sử để làm công cụ tuyên truyền cho những lợi ích chính trị…Tôi nghĩ một sự cảnh giác thật hiền minh như vậy cũng rất cần ở ta”.
Tôi đã viết việc bên ngoài người ta nhả ra chữ nào Nguyên Ngọc vồ ngay lấy chỉ chứng tỏ cái dốt của ông ta. Với các nước thực dân, đế quốc đi xâm lược phi nghĩa, bọn bán nước phi nghĩa thì mới cần “nhào nặn lịch sử”, còn với VN ta chỉ có một lịch sử oai hùng chống ngoại xâm, giành lại nền độc lập, thì cần gì phải “nhào nặn lịch sử” mà cần đến cái “cảnh giác hiền minh”?
          Việc Nguyên Ngọc từng tâng bốc mấy tác phẩm “phản lịch sử” không chỉ chứng tỏ quan điểm sai trái về lịch sử của Nguyên Ngọc mà còn làm cho mấy ông, bà tác giả mơ về giải Nobel, nên họ đã nhiệt thành noi theo việc chống chính quyền của mấy tác giả trên thế giới từng đoạt giải Nobel, và như chính bà Alexeivich ngày hôm nay!
          ***
          Về dịch thuật, trước đây vì trình độ ngoại ngữ nói chung ở  ta còn kém nên người ta thường chú ý tác phẩm dịch là hay hay dở chứ ít ai chú ý đến chuyện dịch đúng sai. Mãi gần đây khi trình độ ngoại ngữ khá hơn, nhiều người Việt định cư ở nước ngoài, chuyện dịch đúng sai mới được chú ý và cũng đã có nổ ra những cuộc tranh cãi.
Tôi không giỏi ngoại ngữ nhưng tôi thấy trước những vấn đề liên quan đến học thuật, thì ngoài trình độ ngoại ngữ, người dịch cần phải có một nền tảng tri thức để dịch cho đúng cũng quan trọng không kém. Như một đứa trẻ dù thông thạo tiếng mẹ đẻ đến mấy cũng không thể hiểu nổi những trang học thuật viết bằng chính tiếng mẹ đẻ.
Tình trạng ngoại ngữ của Nguyên Ngọc với văn hóa cấp II cũng y như một đứa trẻ bản xứ vậy. Nên Nguyên Ngọc đã dịch sai tùm lum. Thật e ngại khi lần này cũng lại chính Nguyên Ngọc “đã trổ tài” dịch cuốn “Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ” của Alexeivich ngay từ năm 1987.
Vì chưa đọc cuốn đó nên tôi không biết Nguyên Ngọc dịch ra sao. Vậy xin nhắc lại vài ví dụ về khả năng dịch thuật của Nguyên Ngọc.
Nhà phê bình Pháp Barthes viết cuốn Le Degré zéro de l'écriture suivi de Nouveaux essais critiques. Barthes dùng l'écriture để thể hiện sự dấn thân của nhà văn, ông cho sự không tỏ thái độ là “độ không” (Le Degré zero). Nên “độ không” ở đây là thái độ trung tính, là sự vô cảm chứ không phải “độ không của lối viết”. Cụm từ “độ không của lối viết” hoàn toàn vô nghĩa nên Nguyên Ngọc đã dịch như vậy là hoàn toàn sai, là chưa hiểu bài! Nguyên Ngọc cũng dịch câu của Kundera la sagesse de l’ambigui là “sự hiền minh của tính nước đôi”. L’ambigui là sự mơ hồ mà sự mơ hồ thì hoàn toàn không phải là nước đôi. Sự mơ hồ chỉ cái chưa rõ ràng, còn nước đôi chỉ sự lưỡng lự giữa hai cái. Mà đã “nước đôi” thì hoàn toàn không thể “hiền minh” được. Làm dáng chữ nghĩa đúng đọc đã ghê, lại còn làm dáng sai nữa thì đọc đúng là thấy gai cả người! Milan Kundera cho khi dân số thế giới tăng thì trọng lượng của cái tôi, của đời sống nội tâm ngày càng nhẹ đi, nên ông đã đặt nhan đề một cuốn sách của ông là L'Insoutenable légèreté de l'être. Vì vậy L'Insoutenable légèreté nghĩa là cái “sự nhẹ không thể chịu nổi”, thể hiện sự e ngại về sự biến mất cái tôi trong thế giới hiện đại mà con người ngày một sống chen chúc hơn. Vậy mà Nguyên Ngọc đã dịch là Nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh. Nhẹ bồng (bồng trong phiêu bồng) chỉ sự phiêu du nhẹ nhàng, ngược với cái sự nhẹ không chịu nổi nói trên!
          ***
Trong bài Chính ủy Nguyên Ngọc trên VietNam.net, Phạm Xuân Nguyên từng viết:
“Nguyên Ngọc ngày càng nhận thức sâu hơn, khác hơn về thực tại… trở thành nhà tư tưởng Nguyên Ngọc, hơn thế, nhà tư tưởng hành động”; “…khác với những người làm tư tưởng từ chính trị. Ông đã từ văn hóa nghệ thuật đến văn hóa tư tưởng… Ông có một cơ bản tiếng Pháp vững, và trên hết là một lòng say mê đọc và truyền bá tri thức nhân loại cho đồng bào mình”.
Nếu có trình độ để hiểu như tôi phân tích ở trên sẽ thấy những lời tâng bốc của Nguyên thật buồn cười, vì Nguyên Ngọc không chỉ không có tư tưởng gì mà còn không đủ trí để hiểu những vấn đề mang tính tư tưởng. Vì không hiểu nên Nguyên Ngọc kỳ công dịch tác phẩm của Barthes để truyền bá tư tưởng của ông, rồi cũng lại kỳ công dịch tác phẩm của Kundera, một người có tư tưởng ngược với Barthes.
Barthes coi trọng tác phẩm dấn thân, phê phán sự vô cảm, cho là số không, nghĩa là coi trọng ý thức cống hiến. Còn Kundera coi Hiện tượng học làm cơ sở triết lý cho văn chương. Husserl là người sáng lập ra Hiện tượng học mô tả sự tự sinh của ý thức, hướng về đối tượng nào đó (ý hướng tính), rồi ban bố cho nó ý nghĩa. Không có duy tâm hay duy vật mà chỉ có trạng thái nối liền liên khách chủ thể (Relation sujet-objet) mà Husserl gọi là sự suy tư về chính chủ thể suy tư. Chủ nghĩa Hiện sinh ra đời đã chịu ảnh hưởng nhiều từ Hiện tượng học. Đó là một chủ nghĩa đề cao cái tôi, cái hiện sống, cho con người không phải chịu ràng buộc bởi tự nhiên cũng như xã hội. Có thời thanh niên ở một số nước phương Tây đua nhau sống theo bản năng, tự nhiên chủ nghĩa, lũ lượt kéo nhau lên rừng sống bằng rau trái, tự nhiên khỏa thân, tự do chung chạ v.v… Sau nữa, Chủ nghĩa Thực dụng ra đời cũng dựa trên cái Tôi “Không có cái gì gọi là chân lý khách quan mà chỉ có chân lý của cái tôi. Chỉ có cái gì có lợi cho tôi sẽ là chân lý”! Vì vậy nói tư tưởng Kundera ngược với Barthes là vì thế, và nói Nguyên Ngọc “đếch biết gì” cũng vì thế!
***
Chính vì Nguyên Ngọc mê (mụ) Kundera nên đã luôn ủng hộ, ca ngợi những tác giả, tác phẩm đề cao cái tôi chủ quan, bất chấp sự cực đoan, lập dị, lộn ngược, thậm chí phản động. Trong một bài trả lời phỏng vấn cũng trên VietNam.Net, Nguyên Ngọc viết:
Dân chủ không phải là cái đem cho, dân chủ đem cho thì không phải là dân chủ, dân chủ là giúp cho người ta vùng lên tự giải phóng. Hơn ở đâu hết, trong giáo dục điều ấy càng rõ và thiết yếu”.
Tôi đã viết, một người luôn phản bác sự “chính trị hóa” giáo dục vậy mà ở đây khi bàn về giáo dục Nguyên Ngọc cũng lại tranh thủ tuyên truyền chính trị cho con đường “đấu tranh cho dân chủ” của mình, chẳng khác gì ông ta đã đi gieo mầm phản loạn độc hại, nguy hiểm trong tâm trí trong sáng của các em học sinh.
Nguyên Ngọc là người luôn kiếm cớ để thực hiện mục đích chống đối thì kỳ này, chuyện bà Alexeivich được giải Nobel Văn chương, Nguyên Ngọc mau mắn tổ chức buổi tọa đàm tất cũng chỉ vì mục đích đó mà thôi. Rất cần nhiều bài viết chỉ ra sự sai trái như bài của Võ Khánh Linh.
2-2-2016
ĐÔNG LA


Thứ Hai, ngày 01 tháng 2 năm 2016

Nguyễn Văn Thịnh NÊN CHĂNG CẦN CÓ MỘT ỦY BAN BẢO VỆ LỊCH SỬ VIỆT NAM?

Nguyễn Văn Thịnh
NÊN CHĂNG CẦN CÓ MỘT
ỦY BAN BẢO VỆ LỊCH SỬ VIỆT NAM?
                                                           
Với Đại hội VI (1986-1990) cực kỳ gian nan, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một thời kỳ đổi mới, tạo mũi đột phá quan trọng, thoát khỏi tư duy bảo thủ trì trệ, tháo gỡ được một số bế tắc, mang lại cơm no áo ấm thiết thực cho người dân khắp mọi miền đất nước. Tuy nhiên cuộc sống vận động theo quy luật riêng của nó mà người lãnh đạo luôn bị bất ngờ. Trên cơ sở nghị quyết của Đại hội VI, về cơ bản chúng ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Song hậu quả  tiêu cực của nó lại có xu hướng làm khuất lấp đi những thành quả tích cực mà nó đã tạo ra. Cổ phần hóa trong công nghiệp và tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp, người người lao động ở thành thị và nông thôn lại trắng tay! Bằng những mối liên minh ma quỷ, một lớp người giàu mới hình thành đồng thời với khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh cách biệt, làm mối quan hệ xã hội trở nên căng thẳng. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng. Cụ thể là tới trước Đại hội XI, uy tín của Đảng đã tới mức báo động. Phải thừa nhận một thực tế rằng trong nhiệm kỳ 2011-2015, Ban lãnh đạo Đảng đã cố gắng rất nhiều, đưa nền kinh tế nước ta bước đầu hội nhập với kinh tế thế giới, chỉ đạo đấu tranh kiên trì giữ vững môi trường hòa bình ổn định trong tình thế khu vực vô cùng gay go căng thẳng. Đặc biệt giữa nhiệm kỳ, tổ chức hội nghị phê bình và tự phê bình những người lãnh đạo cấp cao, đã có tác dụng răn đe tệ thao túng và lợi ích nhóm; và cuối khóa chuẩn bị cho Đại hội XII kế tiếp tiến hành tương đối xuôi xả giữa tình thế trong và ngoài nước diễn biến vô cùng phức tạp. Trước những chuyển động bất ngờ  không lường trước được của một thế giới đang bất ổn với sự biến động nội sinh đa chiều, đa dạng mà sự ứng phó của lãnh đạo các cấp còn tỏ ra bị động lúng túng thì chưa thể vội vã nói đến một sự lạc quan với tiền đồ đất nước. Dù sao có được kết quả trước mắt là điều đáng mừng. Trên cơ sở đó, bộ máy lãnh đạo mới của Đảng có thể tận dụng thời cơ, hoạch định những bước đi vững chắc cho tương lai đất nước. Một thực tế khắc nghiệt là chúng ta xây dựng đất nước trong tình thế nửa hòa bình và nửa chiến tranh. Tất nhiên về mặt quân sự, giới lãnh đạo đã dự kiến mọi tình huống tới khả năng xấu nhất. Đặc biệt trong tình thế mới, cuộc chiến tinh thần tăng tốc về  tính đa dạng và cường độ, có vai trò không nhỏ trong việc dọn đường cho một cuộc đảo chính dưới dạng “cách mạng màu” hoặc một cuộc chiến tranh vũ trang chớp nhoáng nhằm kết thúc mưu đồ chiến lược thâm sâu. Tất nhiên nó còn phụ thuộc vào sự chuẩn bị và phản ứng quyết liệt của nhà nước ta và mối liên minh quốc tế của cả hai bên.
Cuộc chiến tinh thần đó chính là cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng và văn hóa mà ngay từ buổi đầu giành được độc lập chủ quyền cho tổ quốc và dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được và ra sức tăng cường củng cố nó trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên cuộc chiến đó luôn biến thiên với các hình thức đa dạng và đa chiều của nó. Từ những hình thức sơ đẳng là bịa đặt, vu khống đến những thủ đoạn tinh vi, trắng trợn như khai thác những sai sót trong quá trình chỉ đạo thực hành các chủ trương chính sách tới sự sụp đổ của hệ thống XHCN và những sự bất ổn trong mối quan hệ truyền thống gần xa, các thế lực đối lập ra sức xuyên tạc lịch sử, tô đen thành trắng, bôi lọ hình ảnh các lãnh tụ và anh hùng nghĩa sỹ đã thành biểu tượng đáng tự hào, dựng dậy những thây ma chính trị, sơn phết thành những biểu tượng văn hóa, thậm chí biến hình ảnh của đội quân tay sai chống lại lợi ích của dân tộc ngang hàng với đội quân yêu nước chiến đấu vì sự tồn vinh của tổ quốc Việt Nam. Đáng buồn là vì nhận thức thiếu chiều sâu chín chắn hoặc vì những động cơ cá nhân bất chính mà không ít người mang danh học giả, kể cả những người chức sắc đã a tòng với thế lực chống đối nhà nước ta, nói và làm những điều bất nhẫn với anh linh các anh hùng liệt sỹ đã quên mình vì nghĩa cả, làm lẫn lộn chính tà. Họ  bất chấp sự thật là chính những người cầm đầu chính quyền ấy, đội quân ấy, đã công khai thừa nhận việc họ làm là phi nghĩa. Như ông Ngô Đình Diệm từng tuyên bố: “Phải giành lại chính nghĩa từ tay cộng sản” – nghĩa là họ không có chính nghĩa! Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong giờ phút hấp hối của đội quân do ông ta làm Tổng tư lệnh tối cao, đã bộc lộ ra bản chất: “Viện trợ nhiều thì đánh nhiều. Viện trợ ít thì đánh ít. Không viện trợ nữa thì bỏ cuộc”! Đúng như ông Nguyễn Cao Kỳ là người chống cộng tới giờ phút chót, sau này nhiều lần về thăm tổ quốc, ông đã không vì tự ái cá nhân mà nói lên sự thật: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ mà chúng tôi là những kẻ đánh thuê”! Ông Đặng Ngọc Tùng chớ coi thường lời cảnh báo của một cháu thế hệ 9X về sự tôn vinh lộn xòng trên cái đài tưởng niệm mà ông nhân danh giai cấp công nhân Việt Nam dựng lên trên đảo Lý Sơn. Nhân dân ta đang đứng trước họa xâm lăng cận kề mà không phân biệt thế nào là đội quân chiến đấu vì chính nghĩa, thế nào là đội quân đánh thuê phi nghĩa thì làm sao “nâng cao sức chiến đấu” của đội quân yêu nước đã từng làm nên kỳ tích phi thường, bảo vệ được bờ cõi, thống nhất giang sơn mà cả nhân loại tiến bộ đều ngưỡng mộ?! Không nên lẫn lộn ý nghĩa tế độ chúng sinh trong lễ xá tội vong nhân dịp Rằm tháng Bảy hàng năm của nhà Phật với sự tôn vinh các anh hùng liệt sỹ vị quốc vong thân mà bất kỳ nhà nước nào cũng luôn coi trọng. Một đằng xuất phát từ lòng nhân ái xót thương những thân phận sống khổ thác oan mà mở lòng từ bi quảng độ giải oan cứu khổ. Một đằng là cả xã hội có trách nhiệm phải trân trọng ghi nhớ công ơn trước vong linh những con người dũng cảm quên mình vì nghĩa cả. Anh linh của họ như những vị thần thiêng hộ mệnh muôn đời cho dân cho nước.
Trên mặt trận văn hóa tư tưởng, chưa bao giờ các thế lực đối kháng với nhà nước  Việt Nam độc lập lợi dụng thời cơ hội nhập và quyền tự do dân chủ, ra đòn tấn công kết hợp cả trong và ngoài nước, đòi xét lại đủ thứ từ lịch sử truyền thống đến các vấn đề văn hóa xã hội với nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi thâm độc như lúc này. Trong khi ở Nga, trước khuynh hướng phủ định sạch trơn những thành tựu hiển nhiên của thời Liên bang xô viết vẫn len lỏi vào mọi địa hạt của đời sống văn hóa, đặc biệt là trong môi trường giáo dục. Do ngày càng ít những người còn sống trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến cuộc chiến tranh vệ quốc (1941-1945) nên càng có nhiều cách lý giải và quan điểm gây tranh cãi đến cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, thậm chí người ta cố tình đưa ra những quan điểm trái chiều về cuộc chiến tranh này. Nhằm chống lại những âm mưu thâm độc và trắng trơn xuyên tạc và bôi nhọ lịch sử Nga. Dẫu rằng không được nhắm mắt làm ngơ trước sự thật khủng khiếp của chiến tranh. Nhưng mặt khác cũng không cho phép bất kỳ ai nghi ngờ về chiến công vĩ đại của nhân dân Liên xô trong cuộc chiến tranh đó. Ngày 19/5/2009, Tổng Thống Nga Medvedev ra sắc lệnh thành lập “Ủy ban bảo vệ lịch sử” trực thuộc Phủ Tổng Thống, vì bảo vệ chân lý lịch sử luôn là nhiệm vụ của mọi công dân trong một quốc gia tiến bộ văn minh.
Ở Việt Nam cũng đang xảy ra tình trạng đó mà phản ứng của các cơ quan có trách nhiệm lại tỏ ra quá yếu ớt nếu không nói là làm ngơ trong khi các phương tiện truyền thông ta hoàn toàn chủ động. Thậm chí vài tờ báo còn có thái độ tiếp tay như xen đăng bài viết của một vài nhân vật cơ hội muốn khuynh đảo dư luận. Tuy nhiên nhiều bạn đọc trong đó có không ít các bạn trẻ đã thể hiện tinh thần bảo vệ chân lý lịch sử, được dư luận rất quan tâm. Dù sao thì với những người viết không chuyên nên tính thuyết phục chưa cao, chưa có tác động sâu xa trong xã hội. Thiết nghĩ để bảo vệ và phát huy thắng lợi của Đại hội XII đầy kỳ vọng này, nhà nước ta nên chính thức thành lập một “Ủy ban bảo vệ lịch sử Việt Nam”, tập hợp rộng rãi những người viết sử chuyên và không chuyên có tâm huyết, có trình độ cùng chung sức chung lòng trên mặt trận văn hóa tư tưởng, hướng công luận trở về quỹ đạo tự nhiên, góp phần thiết thực cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ một nước Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời, mau chóng sánh vai cùng các quốc gia trong khu vực và theo kịp trào lưu tiến hóa của nhân loại tiến bộ, đúng như tinh thần của đại chí sỹ Nguyễn Công Trứ: “Có giang sơn thì sỹ mới có tên”.

Thành phố Hô Chí Minh
ngày 28 tháng 01 năm 2016

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 1 năm 2016

TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG – GÁNH NẶNG ĐẤT NƯỚC TRÊN VAI

ĐÔNG LA
TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG –
GÁNH NẶNG ĐẤT NƯỚC TRÊN VAI   

      

Thế là TBT Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử chức TBT khóa mới, một điều trước giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội Đảng tôi không bao giờ ngờ tới, dù tôi đã nhiều lần viết “bênh” ông trước nhiều sự công kích. Tôi viết hoàn toàn tự nhiên vì sự đúng sai chứ hoàn toàn không có ý “vận động bầu cử” cho ông. Bắt đầu Đại hội Đảng tôi đã viết, tôi viết nhiều về chính trị nhưng lại không quan tâm đến chuyện nhân sự trước Đại hội Đảng, dù biết nhân sự là quan trọng nhất vì chính nhân sự sẽ chọn ra những người làm chính trị. Tôi không quan tâm vì tôi có muốn thế nào thì sao mà thực hiện được? Không ngờ kết quả nhân sự lại vừa ý tôi bởi tôi thấy vậy là đất nước còn phúc, Trời Đất còn phù hộ đất nước này. Tôi không ảo tưởng như bọn hãnh tiến kêu gào đổi mới. Không ai không muốn đổi mới để cuộc sống sung sướng hơn, nhưng đổi mới lại phụ thuộc vào trí và lực của đất nước chúng ta chứ không phải vào những ảo tưởng viển vông, phi thực tế, đổi mới không phải tiến lên mà đâm xuống vực. Đất nước không thể phát triển chỉ bằng những sự thay đổi cực đoan không phù hợp như thực hiện đa đảng chẳng hạn. Tôi đã một lần viết, nếu có đảng nào thay thế Đảng hiện thời làm cho đất nước thành như Mỹ, Đức, Nhật, như Bắc Âu thì tôi sẽ giơ cả 4 tay chân đồng ý và bảo con mèo nhà tôi cũng giơ 4 chân đồng ý luôn. Nhưng thực tế chỉ với “một bộ phận không nhỏ” của một đảng thôi đã làm đất nước biết bao rắc rối rồi, nếu lại có cả một trăm đảng lưu manh giành giật nhau nữa thì đất nước sẽ loạn thế nào. Điều này không phải tôi tưởng tượng mà có rất nhiều dẫn chứng thực tế. Như Ucraina trình độ hơn ta rất nhiều vậy mà suốt từ ngày là một mảnh vỡ ra từ Liên Xô, nhân dân chỉ là bình phong cho các nhóm quyền lực tranh giành nhau! Đến nay còn đấm vào mặt nhau trên nghị trường.
Còn tại sao tôi viết việc TBT Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử là đất nước còn phúc? Bởi thực tế đất nước ta đang có nhiều yếu tố bất ổn, mầm mống của hỗn loạn, thì giữ được sự ổn định mới là điều quan trọng nhất. Có được ổn định mới tiếp tục chỉnh đốn, gỡ rối, ươm mầm, chăm sóc để những yếu tố tiến bộ sinh sôi; cắt bỏ, ngăn chặn những tệ nạn, sai trái; từ đó đất nước sẽ dần phát triển một cách bền vững đúng theo quy luật lượng đổi chất đổi của Chủ nghĩa Mác. Hãy liên tưởng chỉ với việc xây dựng đội bóng của nước ta để đá thắng Thái Lan thôi đã quá khó rồi huống hồ xây dựng cả một đất nước tiến lên CNXH! Tôi hay chống lại bọn hãnh tiến thùng rỗng kêu to đòi lật đổ tất cả để đổi mới là vì vậy, bởi chuyện đó cũng giống như tay trắng mà đòi đập nhà cũ xây nhà mới vậy!
            Muốn đất nước đổi mới thì cũng giống như một cơ thể, trước khi hành động phải được trị hết bệnh cho khỏe mạnh mới có thể làm được. Căn bệnh nặng nhất của đất nước chúng ta là chuyện tham ô, tham nhũng. Nó mâu thuẫn với bản chất công bằng của chế độ XHCN, nó chính là bất công lớn nhất khi thời chiến tranh cả nước đổ máu để đến hôm nay một nhóm nhỏ người hưởng thành quả cách mạng. Vậy muốn chống được tham nhũng trước hết như chính lời TBT Nguyễn Phú Trọng nói: “Bản thân mỗi đồng chí và vợ, con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được” (BBC. 2 tháng 4 năm 2013). Cũng đã có nhiều người nói, người ta còn nói hay hơn ông, nhưng chính ông là người có lời nói đi đôi với việc làm.
           Chính vì vậy từ lâu tôi đã ủng hộ ông. Thật mừng khi bản lĩnh của ông đã thể hiện qua việc ông lãnh đạo tổ chức thành công Đại hội XII vừa qua, một điều đã làm ngạc nhiên không chỉ tôi mà cả dư luận trên toàn thế giới.
***
Tôi từng lo ngại rất nhiều ở chỗ ông có dáng hiền lành của một nhà giáo, một nhà nghiên cứu hơn là một nhà chính trị. Chính vì vậy đã xảy ra nhiều chuyện kiểu chó con liếm mặt, những kẻ du côn từ những thằng già cho đến con trẻ thi nhau hỗn láo, diễu cợt công kích ông.
Như vụ Nguyễn Đắc Kiên bị lãnh đạo Tòa báo GĐ&XH đuổi việc sau khi viết Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng phản bác những ý kiến của ông trên VTV1.
 Kiên viết:
Bằng tất cả sự tôn trọng dành cho người đang đứng đầu một đảng chính trị của VN, tôi xin nói với ông Nguyễn Phú Trọng vài lời như sau:
Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách”!
Tôi đã viết, trước mắt tôi VTV4 đang chiếu lại phim “Long thành cầm giả ca”, thật e ngại khi xem cảnh “nạn kiêu binh”, và còn e ngại hơn nữa khi thấy Nguyễn Đắc Kiên đúng là một “kiêu binh”  trên mặt trận chính trị tư tưởng trong những ngày hôm nay!
Nguyễn Đắc Kiên tiếp: “Tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp … mà tôi muốn … lập một Hiến pháp mới”; “Tôi ủng hộ”: “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập”, “phi chính trị hóa quân đội”; “Tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng
Tôi đã viết, ĐCSVN hiện đang lãnh đạo không chỉ các cơ quan báo chí mà còn lãnh đạo tất cả Nhà nước VN. Chỉ khi nào về lý thuyết Hiến pháp VN xóa điều 4, trong thực tế ĐCS từ bỏ quyền lãnh đạo thì Nguyễn Đắc Kiên viết như trên là có lý. Đúng là ai cũng có quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, nhưng nếu “tự do” ấy làm loạn, làm mất ổn định xã hội, có nghĩa là xúc phạm tự do của gần 100 triệu người VN khác thì “tự do” ấy là phạm pháp, “tư tưởng” ấy là phản động. Các nhà chức trách tất nhiên phải có trách nhiệm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, “xử lý” thứ “tự do” ấy. Nên Nguyễn Đắc Kiên đang bú “con bò” nhà nước mà viết vậy bị “cắt sữa” là đúng, nếu có bị bắt nữa thì cũng chẳng oan, nói chung là dốt không hiểu gì.
Lẽ ra Kiên phải xin nghỉ việc trước rồi mới “đấu tranh” thì đúng là có khí phách. Và cần phải hiểu đã làm cách mạng lật đổ quyền lực nói chung thì không thể chỉ viết vài chữ là giành thắng lợi mà còn phải biết chấp nhận như thơ Tố Hữu: “Dấn thân vô là phải chịu tù đầy/ Là gươm kề cổ súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa”.  Nguyễn Đắc Kiên mới bị đuổi việc mà đã cuống lên thì làm được trò gì. Và Nguyễn Quang A hung hăng vận động các phóng viên bảo vệ Kiên cũng “đếch biết gì về pháp luật! Đếch hiểu gì về cuộc đời!”
Cả Kiên và A cần phải biết:
Khoản 1, điều 8 trong Luật cán bộ, công chức: "Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia" và khoản 1 điều 16 Luật Viên chức: "Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước".
Những ngày hôm nay, trước thành công của Đại hội Đảng, Nguyễn Quang A thể hiện sự cay cú và thù hận của mình qua lời “tâm sự” : “Mình cố tránh xem, nghe các ông ấy nói xạo để khỏi bị stress. Tối qua tham gia một tọa đàm của BBC đành phải xem 2 clip mà lộn cả ruột”; “Chuyện các ông ấy, nhất là ông Trùm, đánh tráo khái niệm, dối trá”; “Dân chủ ư? Dân chủ có 2 khía cạnh cơ bản là cạnh tranh và tham gia”.
Như vậy, theo ý ông ta Đại hội Đảng không dân chủ vì mọi người không được tự do “cạnh tranh, tham gia”. Có điều đó chỉ là ý của một kẻ đầu gấu chính trị vì đến các nước dân chủ phương Tây cũng cho nền dân chủ trực tiếp là nguy hiểm và không thực tế nên đa số đã thực hiện một nền dân chủ đại diện. Vậy một cơ chế bầu cử đảm bảo lựa chọn một cách dân chủ những người đủ phẩm chất ứng cử, ngăn chặn và loại bỏ những người không đủ phẩm chất là một việc làm tỉnh táo và cần thiết. Chỉ có những thành phần thuộc băng nhóm Nguyễn Quang A mới cho là phản dân chủ và lồng lộn lên mà thôi!
***
Tay “GS tương cà” Tương Lai cũng là một nhân vật hay kiếm cớ công kích TBT Nguyễn Phú Trọng. Ông ta từng mau mắn bênh vực Nguyễn Đắc Kiên. Trên quechoa của “Lập què” từng đăng Thư ngỏ gửi ông Nguyễn Phú Trọng, trong đó Tương Lai viết:  “Vì chưa lúc nào vận mệnh của đất nước lại bấp bênh, chao đảo như hiện nay khi mà bàn tay của Trung Quốc đã thọc quá sâu vào mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, của đời sống đất nước ta”; “Chính vì thế, chưa bao giờ uy tín của Đảng xuống thấp đến vậy”.
Tôi đã viết, đây hoàn toàn là sự phóng đại, thổi phồng một cách chủ quan không đúng thực tế. Nếu so với toàn bộ lịch sử thì chưa bao giờ nước ta có vị thế độc lập như những ngày hôm nay, không chỉ với riêng Trung Quốc mà với tất cả các nước. Nếu nói giai đoạn ta chịu chi phối và ảnh hưởng từ TQ thì phải nói đó là giai đoạn kháng chiến thống nhất đất nước, lúc ta phải ngửa tay xin họ từ bánh lương khô, quân trang quân dụng đến vũ khí đạn dược, và giai đoạn chịu ảnh hưởng nhiều nhất chính là lúc xuất hiện Chủ nghĩa Xét lại tại Liên Xô với tư tưởng “chung sống hòa bình” của Khơrutsov, bởi như vậy chỉ còn có TQ viện trợ cho ta mà thôi. Nhưng rồi lãnh đạo của nước ta đã tài tình cởi bỏ được cái nút thắt ấy. Còn rắc rối trong quan hệ với Trung Quốc hôm nay chủ yếu là về biển đảo, vì biển đảo ngày càng quan trọng hơn vì có dầu, vì giao thông biển, vì vị trí chiến lược. Đó chính là hậu quả để lại của lịch sử, là một trong những cái giá phải trả cho sự thống nhất, độc lập ngày nay. Đảng và nhà nước đã thực hiện chiến lược ngoại giao, một mặt mềm mỏng với TQ, một mặt ta vẫn tăng cường ngoại giao đa phương và vẫn trang bị vũ khí hiện đại, còn xây nhà giàn, đồn biên phòng canh giữ trên biển. TBT Nguyễn Phú Trọng từng đối đáp trực tiếp với Hồ Cẩm Đào Việt Nam luôn tôn trọng Công ước quốc tế về Luật biển của LHQ năm 1982 có chữ ký của các nước, trong đó có chữ ký của TQ. Nếu TQ không đồng ý, thì đem ra Tòa án Công lý Quốc tế phân xử.
Với vụ Nguyễn Đắc Kiên, Tương Lai viết: “Quả thật, tôi quá sửng sốt khi nghe anh nói: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy. Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? Tham  gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì…ì? Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này””. Tương Lai đã cho TBT Nguyễn Phú Trọng là “tùy tiện quy kết một cách hồ đồ”, là “đánh tráo khái niệm”.
Tôi viết, người “hồ đồ” ở đây chính là ông Tương Lai. TBT Nguyễn Phú Trọng dùng từ “suy thoái” chỉ những hành động như vậy là quá nhẹ và chưa chính xác, mà hành động đó chính là hành động công khai lật đổ chế độ, gọi như trước đây thì gọn hơn là “bọn phản động”. Mọi lý sự quanh co của Tương Lai chỉ là ngụy biện che đậy sự gian xảo của mình.
***
Một người nữa luôn chống phá TBT Nguyễn Phú Trọng điên cuồng chính là Nguyễn Khắc Mai. Tôi vốn không biết Nguyễn Khắc Mai là ai, chỉ loáng thoáng thấy cái tên này gắn với cái trung tâm “minh triết” gì đó. Khi TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ theo lời mời của Chính phủ Mỹ mới biết đến Nguyễn Khắc Mai vì có viết bài “Lại có điều hầu chuyện với anh Trọng” lan truyền trên các trang có khuynh hướng chống phá nhà nước VN. Tìm hiểu chút nữa thì thấy Nguyễn Khắc Mai không chỉ có một bài đó mà còn có nhiều bài về minh triết khác nữa, không chỉ bàn về minh triết mà còn dùng minh triết bàn về chính trị. Bàn về chính trị đã khó, về minh triết chính trị nữa lại càng khó hơn, điều này đã khiến tôi tò mò tìm hiểu. Nhưng kết quả khiến tôi “ngã bổ chửng” bởi thấy minh triết của Nguyễn Khắc Mai là thứ minh triết du côn!
Còn hai chữ minh triết tưởng dễ hiểu nhưng không ngờ giới “tinh hoa” rồi cả những người xưng là “nhà minh triết” như ông Mai cũng lại chẳng hiểu gì! Theo nghĩa chung nhất của từ thì chữ “minh” là sáng suốt, chữ “triết” là hiểu biết, vậy “minh triết” là hiểu biết một cách sáng suốt. “Sáng suốt” ở đây có nghĩa là hiểu sâu sắc và toàn diện; nói theo ngôn ngữ triết học là hiểu một cách biện chứng. Theo Nguyễn Khắc Mai: “Minh triết chính là năng lực để sống”. Năng lực để sống là trí tuệ, là tay nghề, là cần cù chịu khó, là có chí để vượt khó, để thích nghi hoàn cảnh chứ “năng lực” không phải là minh triết. Một người “minh triết” mà lười, mà không có chí thì cũng đói ăn thôi! Như vậy, Nguyễn Khắc Mai, một người chưa hiểu chính xác chữ minh triết, lại làm giám đốc một trung tâm minh triết, rồi bàn về minh triết e rằng sẽ có nhiều huyên thuyên!
Trên BBC, 9 tháng 2 2015, Nguyễn Khắc Mai đã trả lời phỏng vấn BBC về vấn đề tối quan trọng “Đảng nên chọn Tổng bí thư kế tiếp thế nào?” Nguyễn Khắc Mai nói:
“…chúng tôi cũng đang mong muốn là xu hướng ấy nó sẽ xảy ra là làm sao chọn được một Tổng Bí thư mà có thể nói là không lú lẫn như anh Trọng (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) hiện nay”.
Tôi đã viết, tôi thật ngạc nhiên một ông già U90, từng là Vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương, một ban của Đảng, lại nói về TBT Đảng của mình một cách “du côn” như vậy. Giờ còn làm giám đốc một trung tâm minh triết nữa, thì theo tôi, minh triết của Nguyễn Khắc Mai là một thứ “minh triết du côn”!
Nguyễn Khắc Mai “tâm sự” với TBT Nguyễn Phú Trọng: “Anh từ Mỹ về, hãy đem những “thực tế văn minh tiến bộ của một Dân tộc hiện đại” làm bài học cho Việt Nam. Hãy từ bỏ cách nghĩ thực chất là của Liên Xô và Trung Cộng, chúng mớm cho ta kèm theo với vũ khí và lương thực, rằng Mỹ là đế quốc sài lang, là kẻ thù nguy hiểm nhất”. Một người học Văn- sử mà viết vậy đúng là mù lịch sử. Chỉ những thằng ngu mới phải cần người khác chỉ cho biết người xâm lược mình là ai. Nước ta nhược tiểu, hai bàn tay trắng, vậy muốn giành được độc lập buộc phải đi nhờ vả. Nhưng thực tế trong hai cuộc kháng chiến ta hoàn toàn không phải là con rối cho các nước lớn giật dây, mà nếu hiểu lịch sử thì phải biết, chúng ta đã không chỉ một lần vượt qua sự sắp xếp của các nước lớn, để thực hiện được mục tiêu tối thượng là giành lại nền độc lập, thống nhất đất nước của mình.
Gần đây, trong Đại hội Đảng, lại có bài viết vu cáo, bôi nhọ hình ảnh TBT Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Khắc Mai còn hung hãn yêu cầu điều tra làm rõ, thậm chí bắt giam TBT Nguyễn Phú Trọng. Vũ Hoàng Sơn, chủ trang trelang blog viết:
Với những bài viết trên facebook của ông đạo diễn và những bài trên blog Khang Nguyên của Nguyễn Khắc Mai, cơ quan công an hoàn toàn có thể bắt cả 2 ông theo điều 258.
Rất mong cơ quan công an ra tay”.
Với bọn vô văn hóa, chống đối, quấy rối thì không chỉ TBT, các vị lãnh đạo, mà cả các bậc thánh nhân, các lãnh tụ cũng đều bị chúng bêu xấu diễu cợt. Tôi cũng bị bọn “sâu bọ rắn rết” chửi bậy rất nhiều, nhưng đời tất phải có kẻ xấu người tốt, nếu mình tự tin là tốt thì bọn chửi mình tất phải xấu. Còn muốn bọn xấu cũng khen mình thì buộc phải làm điều xấu thôi nên tôi không chấp! Nhưng chuyện ông Nguyễn Khắc Mai nói về ông Nguyễn Phú Trọng không phải là chuyện cá nhân mà là chuyện chính trị, mà với chuyện chính trị thì cái gì cũng “không chấp” đất nước sẽ loạn!
            Thật e ngại khi chưa bao giờ xã hội ta có tình trạng “chó con liếm mặt”, “cá mè một lứa”, dốt nát nhưng dám công kích công khai đích danh Tổng Bí thư. Trước tất cả những hiện tượng không phải phản biện mà là phản bác, đối kháng chứ không phải đối lập, trong triết học chỉ ra là cần phải sử dụng bạo lực, cần phải chuyên chính, chứ cải lương cũng sẽ loạn. Tất nhiên bạo lực trong thời bình là kiên quyết giữ nghiêm kỷ cương phép nước, thưởng phạt công minh, chứ không phải đối thoại bằng súng ống như thời chiến.
Trên thế giới hiện tại cũng có quá nhiều tổ chức nhân quyền sống bằng nghề chõ mõm vào chuyện nhà người khác, tôi thấy cũng chỉ là trò vớ vẩn. Bởi khi các địa ngục trần gian mọc lên khắp nơi, họ có đỡ đòn được cho bao chiến sĩ cách mạng từng bị tra tấn tàn khốc không? Họ có ngăn được bom rơi, đạn nổ trên đất nước chúng ta ngày nào không?
            ***
Ngày 28 tháng 01 năm 2016, sau khi tái đắc cử, khi được các phóng viên hỏi "Cảm nghĩ của Tổng Bí thư ra sao khi được bầu là người lãnh đạo cao nhất của Đảng". TBT Nguyễn Phú Trọng trả lời:
Hơi bất ngờ với tôi, khó trả lời. Tôi cũng không ngờ được Đại hội tín nhiệm giới thiệu, được BCH trung ương bầu làm Tổng bí thư gần như 100% tuyệt đối.
Bất ngờ vì tuổi cao, sức khoẻ có hạn, trình độ có hạn, tôi đã xin nghỉ rồi. Trách nhiệm Đảng giao thì tôi với tư cách đảng viên thì phải chấp hành.
Tôi chân thành cảm ơn đồng bào đã có những nhắn gửi, giao trách nhiệm cho chúng tôi. Tôi bất ngờ, xúc động và có lo lắng vì trách nhiệm sắp tới còn nặng nề lắm, trước tình hình diễn biến trong nước và quốc tế”.
          Theo lẽ thường người ta thường chúc mừng người ta trước mỗi sự thành công, thành đạt, nên tôi cũng xin chúc mừng sự “thắng cử” của TBT Nguyễn Phú Trọng. Nhưng mọi bữa tiệc đều tàn, không khí lễ hội cũng qua đi, chỉ còn lại gánh nặng đất nước đè trên vai ông. Tất nhiên chỉ “nặng” đối với người có tâm với dân với nước còn với những người coi chiếc ghế để kinh doanh quyền lực thì không. Thực tế chứng tỏ TBT Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không có điều tiếng về sân sau, sân trước; không móc ngoặc với các nhóm lợi ích này, nhóm lợi ích kia; vợ con, họ hàng ông không lợi dụng quyền lực của ông; nên tôi tin rằng ông tái cử không phải vì tham quyền, cố vị, không vì lợi lộc, mà vì dân, vì nước. Chính vì vậy mới nói trên vai ông giờ đây là gánh nặng đất nước.
          Vừa rồi dự luận rất đồng tình, kể cả có sự lợi dụng, bài phát biểu của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Ông nói:
          “Đảng là người lãnh đạo cao nhất của đất nước cần chủ động, nghiêm khắc đánh giá lại chính mình, và thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết của Đại hội toàn quốc. Kiên quyết đổi mới cơ cấu tổ chức, chức năng hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị để hoạt động hiệu quả hơn, thực chất hơn”;
“… bao năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp gần như không thay đổi. Nền chính trị phù hợp với nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường. Thậm chí còn là rào cản, trở ngại cho phát triển. Vì vậy, trong giai đoạn tới, việc đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới về kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách”.
Tôi thấy ý của ông Vinh vừa rất đúng những cũng có phần chưa đúng.
          Đúng ở chỗ phương thức hoạt động của Đảng về danh nghĩa đúng là Đảng trùm lấp, ở đâu cũng có “Đảng”, có bí thư, có đảng viên. Nước ta cũng có cơ chế tam quyền phân lập, cũng có Quốc hội lập pháp, Chính phủ hành pháp, Tòa án tối cao xử án. Bao trùm lên cơ chế đó còn có Đảng lãnh đạo. Lẽ ra sự phạm pháp phải bị kiểm soát tốt hơn cơ chế chỉ có “tam quyền phân lập”. Nhưng thực tế đã diễn ra ngược lại. 
          Có tình trạng như vậy bởi đúng là Đảng lãnh đạo toàn diện, nói theo “lề trái” là “toàn trị” nhưng thực tế lại không “trị” được ai. Bởi Đảng có quyền lãnh đạo nhưng không có quyền chỉ đạo. Đảng chỉ ra đường lối, chủ trương bằng nghị quyết, rồi mọi chuyện diễn ra ngoài tầm kiểm soát của Đảng. Chính vậy mới có chuyện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi tiếp xúc cử tri 2 Quận Hoàn Kiếm và Ba Đình từng nói: “Cha ông ta nói rất hay: “Miếng ăn là miếng tồi tàn / Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”…  Đụng đến lợi ích là phản ứng, nhất là một khi lợi ích nhóm móc ngoặc với nhau thành đường dây vô cùng phức tạp”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng nói ý là giải quyết các vấn nạn bây giờ rất khó vì “đụng đâu vướng đó”. Vậy phải chăng thực chất quyền lực của Đảng chỉ là quyền lực rỗng. Đảng lãnh đạo toàn diện, nhưng là lãnh đạo tập thể, cá nhân chỉ là người được phân công phụ trách; ai cũng là người của Đảng, đồng thời là người của Quốc hội, đồng thời làm quan chức; khi sự cố xảy ra thì chịu trách nhiệm chung, không ai bị làm sao cả, ngoài những người dính líu trực tiếp đến những chứng cớ phạm pháp.
         Vì tất cả các lẽ đó, đúng là cần phải có một sự đổi mới về sự lãnh đạo của Đảng, làm cho sự lãnh đạo của Đảng đúng là toàn diện. Có vậy mới giám sát được mọi hoạt động của chính quyền, của các cơ quan, các đơn vị. Đảng không làm cụ thể nhưng Đảng có quyền giám sát, mà quyền giám sát là quyền đặt cao hơn. Và càng những lĩnh vực liên quan đến kinh tế, đến tiền, thì càng cần phải giám sát chặt chẽ hơn. Sự lãnh đạo cần phải được cụ thể hóa. Sự chịu trách nhiệm của cá nhân ở mọi cấp cũng phải được luật hóa.
          Còn ý Bộ trưởng Vinh “bao năm qua phương thức hoạt động của Đảng gần như không thay đổi” cũng có phần sai ở chỗ Đảng cũng có nhiều thay đổi về sự lãnh đạo kinh tế, ở chỗ đã tăng cường sự tự chủ cho các doanh nghiệp. Như qui định chủ sở hữu (Thủ tướng) phải có nghĩa vụ: “…đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm của công ty nhà nước trong quá trình hoạt động. Cơ quan thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước không can thiệp trái pháp luật vào các công việc của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc của công ty nhà nước”.
      Điều này dẫn đến chuyện trong vụ Vinashin, Bộ Chính trị kết luận, Chính phủ có khuyết điểm chưa kiểm tra chặt chẽ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ năm 2006 - 2009 tuy đã qua 11 lần kiểm toán, kiểm tra, thanh tra nhưng vẫn không phát hiện được khuyết điểm nghiêm trọng của Tập đoàn. Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng có ý kiến: “...Trước hết phải nghiên cứu để thay đổi việc quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan Bộ ngành quản lý ...  qui định lại rõ trách nhiệm và xác định có những việc phải báo cáo lên trên để phê duyệt chứ không phải giao toàn quyền cho doanh nghiệp như hiện nay để làm sao hạn chế được việc mà nhiều đại biểu nói là doanh nghiệp được quyền to quá và tự quyết rất nhiều vấn đề và phát sinh ra tiêu cực. Thứ hai, cũng phải tăng cường công tác kiểm tra... chúng tôi nghiên cứu hiện nay cũng có nước người ta áp dụng là kiểm soát viên không phải là người của doanh nghiệp, mà kiểm soát viên là người của Nhà nước cử vào doanh nghiệp”.
Còn Bộ trưởng Vinh nói câu này thì không phải đúng mà là quá đúng, cần phải đổi mới nền kinh tế bằng “tăng năng suất, nâng cao cho được năng lực cạnh tranh”. Có điều nói thì quá dễ, ai cũng nói được, thực hiện mới khó, vì nó phụ thuộc vào trình độ của cả đất nước chúng ta. Tương lai chỉ có cách là trông chờ vào nhân tài, mà nhân tài thì phải đợi ngành giáo dục đào tạo ra, nhưng ngành giáo dục thì còn lâu mới đáp ứng được chuyện đó. Lãnh đạo một nước giỏi giang như Mỹ rất dễ, lãnh đạo một nước như VN mới khó, nói trên vai TBT Nguyễn Phú Trọng là gánh nặng đất nước là vì thế!
Vì vậy tôi cũng không ảo tưởng chuyện TBT Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử sẽ làm đất nước tiến lên vù vù. Nhưng sau một nhiệm kỳ chắc chắn ông có kinh nghiệm lãnh đạo hơn, ông biết rõ hơn việc gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả hơn. Một nhiệm kỳ với việc hệ trọng là lãnh đạo đất nước dường như là quá ngắn, vì vậy có nhiều cơ sở để tin tưởng vào sự lãnh đạo của TBT Nguyễn Phú Trọng trong nhiệm kỳ kế tiếp này.
29-1-2016
ĐÔNG LA