Thứ Năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016

ĐÔNG LA ĐỔI MỚI VĂN CHƯƠNG, CÁI GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO?

ĐÔNG LA
ĐỔI MỚI VĂN CHƯƠNG
CÁI GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO?


Tôi đi họp Hội Nhà Văn ở HN mấy ngày,
không dửng dưng, không tha thiết. Không dửng dưng vì trách nhiệm công dân của một nhà văn, người ta mua vé máy bay, lo ăn ở cho mình bằng tiền thuế của dân (trong đó có của tôi, kể cả bây giờ tôi không sản xuất, sản phẩm của tôi vẫn đóng thuế). Không tha thiết vì tính tôi coi trọng thực chất vấn đề, nhiều việc làm ở ta còn mang nặng tính trình diễn, càng cuộc gặp to thì càng ồn ào đông đúc, gặp nhau vui là chính. Người ta cố mời ông này, ông kia phát biểu, về chuyên môn thì mời mấy ông già cho phải phép, nên có lần tôi dự một hội nghị, ông Trương Tấn Sang đang phát biểu chỉ đạo văn học nghệ thuật, tôi chuồn về đón cô Vũ Thị Hòa ở Bắc vào. Kỳ này vì trách nhiệm tôi cũng viết tham luận Tôi thích những cuộc thảo luận nhỏ thuần chuyên môn, có vài cuộc người ta trân trọng mời tôi đọc tham luận đầu tiên. Còn kỳ này tôi có được đọc không thì chưa biết vì chắc rất đông.
            Vậy tôi đăng lên cho mọi người coi chơi
            23-6-2016
            ĐÔNG LA

Hội nghị Lý luận Phê bình lần thứ IV lần này mang tên “Văn học - ba mươi năm đổi mới, hội nhâp và phát triển”.
Vậy thời gian qua các nhà văn đã đổi mới cái gì, đổi mới như thế nào và sẽ tiếp tục như thế nào?
Xã hội Việt Nam là một xã hội kém phát triển, văn chương cũng như mọi mặt còn kém là tất yếu. Cái kém của văn chương 30 năm qua, và sẽ còn tiếp diễn là chưa phản ánh được toàn diện và sâu sắc hiện thực cuộc sống. Đã có những cá nhân, những nhóm ồn ào tuyên bố và thực hiện việc đổi mới văn chương. Bên cạnh có những thành tựu nhất định thì phần nhiều lẽ ra đổi mới là khắc phục những yếu kém để tốt hơn nhưng lại có khuynh hướng “lộn ngược văn chương”. Lộn ngược tất cả các quan điểm, từ chính trị, đạo lý, luân lý cho đến thẩm mỹ.
Một số người được coi là “cấp tiến” thường có cái nhìn cực đoan và không toàn diện. Có tác giả, tác phẩm được họ đẩy lên tột cùng, có tác phẩm được ca ngợi chỉ vì cách viết mà không để ý gì đến nội dung, bất kể đúng sai, tốt xấu. Với một số người, đổi mới đồng nghĩa với việc trước ca ngợi thì nay phản kháng; trước êm đềm thì nay giật cục; trước nghiêm trang thì nay giễu cợt, khinh bạc; trước tế nhị, lịch sự thì nay nanh nọc, thô tục… Theo tôi, đổi mới như vậy mới chỉ là đổi mới cái vỏ văn chương, khi không khám phá được điều gì nghiêm túc, sâu sắc, lớn lao thì gây ấn tượng bằng những điều lập dị, ngược ngạo, sản phẩm của trí tuệ nông cạn nhưng hãnh tiến. Văn chương chân chính muôn đời vẫn luôn dựa trên bản năng thẩm mỹ mang tính người. Theo tôi, đổi mới thực chất nghĩa là phải làm cho văn chương “mạnh” hơn, biểu đạt cao hơn, sâu rộng hơn, đúng hơn và có tác động tích cực hơn đến hiện thực cuộc sống; biểu cảm sâu hơn, toàn diện hơn cuộc sống tinh thần con người.
***
Nói chung về văn chương. nước ta là một nước nông nghiệp, hầu hết các nhà văn là con em nông dân hoặc ít nhiều đều có liên hệ huyết thống với người nông dân, nên phần lớn tác phẩm văn chương thường tái hiện tâm tư tình cảm và các lĩnh vực cuộc sống, nhất là nền sản xuất, có liên quan đến người nông dân. Điều này không thể không ảnh hưởng đến quan niệm sáng tác và việc phê bình thẩm định các tác phẩm. Bởi nó tuân theo đúng nguyên lý “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội” của Triết học Mác.
Vậy sự khác nhau về bản chất giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp là gì? Lao động nông nghiệp là lao động giản đơn, dựa theo sự sinh trưởng của tự nhiên như chăn nuôi, cấy trồng; còn lao động công nghiệp là lao động phức tạp, không làm theo hình mẫu của tự nhiên mà theo hình mẫu được tạo dựng từ tư duy.
Người nông dân làm ruộng là làm đất, gieo hạt, rồi chăm bón, đợi đến mùa thu hái. Còn người công nhân làm việc trên những dây chuyền công nghệ theo quy trình sản xuất, chúng được xây dựng bằng lao động trí óc rất khó khăn và phức tạp từ những tri thức khoa học công nghệ. Sản phẩm nông nghiệp phải phụ thuộc vào thời tiết, mùa vụ. Còn sản phẩm công nghiệp là hàng loạt, liên tục, không phụ thuộc thời vụ.
Về văn xuôi, các nhà văn ở ta thường theo phương pháp hiện thực, nhưng nếu không hiểu sâu sắc hiện thực, người ta chỉ có thể phản ánh được một hiện thực giản đơn, có khi mới chỉ là cái vỏ của hiện thực chứ chưa phải là một hiện thực đúng đắn, toàn diện, sâu sắc. Hiện thực dưới con mắt người nông dân chỉ là những chuyện, những cảnh vật trực quan, nhưng với nhà khoa học thì khác, họ không chỉ nhìn như người nông dân mà còn thấy được cả những cái bên trong, những mối liên hệ và những quy luật chi phối chúng. Hiện thực mang tính khoa học trong tác phẩm là một hiện thực không phải được sao chép giản đơn từ nguyên mẫu cuộc sống, mà là một cấu trúc mới được tái tạo lại bằng lao động sáng tạo của người viết, sao cho sức biểu đạt, biểu cảm cao hơn, phản ánh cuộc sống một cách sâu sắc và toàn diện hơn.
Tính tiểu nông nhỏ lẻ, trực quan, đơn nhất khiến người ta thường thích những gì mộc mạc dễ hiểu... hơn là vẻ đẹp của những sáng tạo, sự độc đáo, những tư tưởng có tính khái quát và tầm cao triết lý, những cái không chỉ tác động trong một không gian hẹp mà liên quan đến tất cả. Một người nông dân làm một vụ mùa bội thu thì chỉ nhà người ấy hưởng. Nhưng một nhà phát minh đưa ra được một phát minh lớn thì mang lại lợi ích cho cả nhân loại.
***
Với nền phê bình, tính tiểu nông thể hiện ở chỗ các nhà phê bình thường đánh giá tác phẩm theo “gu”, mà không dựa vào một nền tảng tri thức toàn diện, nên không có cái nhìn khách quan, khoa học, không nhận ra được những giá trị đích thực. Dường như nền phê bình bị đẩy về phía hai đầu mút của sự cực đoan. Thứ nhất, có người ta cứ khư khư bám vào những quan niệm giản đơn mòn cũ, mãi đề cao những thi pháp lạc hậu; ngược lại là sự hãnh tiến, cũng có người luôn chạy theo những cái mới, cái lạ của nước ngoài, mà không hiểu rằng, nếu không có đủ tri thức và tài năng, người ta chỉ có thể trở thành người theo đuôi, làm ra được những bản sao tồi mà thôi.
***
Về thơ, do hoàn cảnh lịch sử, thơ ca nước ta đã chịu ảnh hưởng nhiều nguồn. Hàng ngàn năm, ông cha chúng ta không chỉ ảnh hưởng mà còn rập khuôn hình thức thơ Đường. Tiếp theo dưới thời Pháp thuộc, chúng ta lại chịu sự ảnh hưởng bởi thơ lãng mạn, thơ  tượng trưng Pháp, tạo ra phong trào Thơ mới. Đến giai đoạn kháng chiến, chúng ta theo trào lưu Hiện thực xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng văn học Liên xô và Trung quốc (đặc biệt là Liên xô).      
Trước thực tế như vậy, chúng ta không thể không đổi mới thơ ca. Vì sự câu nệ hình thức tất dẫn đến sự gò bó ý tưởng. Mối quan tâm của thơ lãng mạn rõ ràng chỉ mới ở một khoảng rất hẹp của tình yêu riêng tư, chưa thể hiện được toàn bộ những tình cảm, những tâm trạng, những suy tư lớn lao và phong phú của con người.
Thơ ca kháng chiến là một nền thơ đã đạt được nhiều thành tựu, có một bước tiến nhảy vọt khi không chỉ tiếp cận được hiện thực đời sống phong phú mà các nhà thơ còn là chiến sĩ, trực tiếp chiến đấu, cùng đổ mồ hôi và máu với đồng đội, với nhân dân. Từ không gian nhỏ hẹp của tâm trạng, tình cảm cá nhân chuyển sang một không gian lớn lao của tình yêu quê hương, đất nước, tình đồng chí, đồng đội. Cả nước chia ly. Sự chia ly làm cho những điều dù vụn vặt nhất, một lá thư, một tấm ảnh nơi quê nhà; phía ngược lại những kỷ vật còn lại của người lính hy sinh nơi chiến trường,..., tất cả đều trở thành thiêng liêng. Cuộc chiến quá gian khổ, quá ác liệt, nên mỗi hành động, mỗi suy nghĩ, mỗi tình cảm của người lính chốn hiểm nguy đều có thể làm rung lên được những nỗi  xúc động của mọi người. Chính cuộc kháng chiến là một cái tứ lớn đã làm “giá đỡ” cho tất cả các khoảnh khắc, những lát cắt của hiện thực trở  thành những cấu tứ độc đáo. Một chuyến xe không kính ở giữa chiến trường có thể là một tứ thơ độc đáo cho Phạm Tiến Duật, nhưng nó không có ý nghĩa gì nếu chỉ là chuyến xe chở cát xây nhà ở thời bình này.
Nếu phải chọn vài câu vừa độc đáo về ngôn ngữ đồng thời lại  nói lên được cái tinh thần của thời đại một cách sống động nhất, tôi thấy hai câu thơ của Nguyễn Đình Thi :
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
có thể là tiêu biểu cho thơ ca thời chống Pháp; và những câu của Lê Anh Xuân:       
Anh chẳng để lại gì cho riêng anh  trước lúc lên đường  
Chỉ để lại cái dáng- đứng- Việt- Nam tạc vào thế kỷ
Về sự mất mát sau chiến tranh, Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có những câu thơ rất giản dị, với những hình ảnh rất đời thường nhưng lại chất chứa sự hy sinh vĩ đại của những người phụ nữ VN nơi hậu phương thời chiến tranh:
           Một mình một mâm cơm
           Ngồi bên nào cũng lệch
          Hoặc:
Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc 
Còn tôi sau giải phóng, từ chiến trường trở về nhà gặp lại cha, mẹ. Ông bà làm cơm cúng anh trai tôi tên là Sơn đã hy sinh năm 1968. Tôi cũng đã làm mấy câu thơ. Qua hình ảnh giọt nước mắt của mẹ, tôi muốn diễn tả cả cái còn và cái mất lớn lao của dân tộc ta sau một cuộc chiến tàn khốc:
          Trước bàn thờ khói hương lãng đãng
          Mẹ đứng lặng rì rầm
          Gọi anh con về ăn cỗ
          Con bỗng giật mình thấy nhăn nheo giọt nước mắt
          Có già nửa phần buồn và non nửa phần vui
***
Nhưng thơ kháng chiến đã hoàn mỹ chưa? Trần Mạnh Hảo trong cuốn phê bình “Thơ phản thơ” viết: “Mấy chục năm vừa qua, người ta đã đồng hóa thơ với các khẩu hiệu tuyên truyền, một nền văn nghệ phục vụ chính trị”. Ý này cực đoan nhưng có phần đúng. Cuộc sống của con người được phản ánh trong thơ chỉ phong phú ở bề rộng, bề nổi; nhưng chưa khám phá trọn vẹn bề sâu. Thơ ca kháng chiến còn: Nhiều ta ít tôi; có buồn nhưng ít đau; có đau nhưng ít khổ; có ước muốn nhưng thiếu thèm khát; có thèm khát nhưng thiếu si mê; có dũng cảm nhưng thiếu sợ sệt; nói nhiều đến chiến thắng mà ít nói đến thất bại. Mỗi tâm trạng cá nhân, mỗi nỗi đau chưa được “nguyên chất” mà thường được phủ lên một một lớp hào quang của tinh thần lạc quan, nên có phần giảm đi tính chân thực. Vì dùng nhiều cách phản ánh trực quan, mô tả, kể lể dài dòng, ít tính tượng trưng, ít cài đặt những ý nghĩa tiềm ẩn, nên thơ kháng chiến ít khơi gợi, có thể khiến người đọc  thích thú chứ chưa buộc người ta phải suy tư.
Còn thơ ca giai đoạn tiếp theo thơ kháng chiến sau giải phóng? Có một cuộc hội thảo đánh giá thơ ca giai đoạn này trên báo Văn nghệ khoảng đầu những năm 1990. Trinh Đường: “Thơ...gần đây chỉ nặng về thơ tình và loại thơ vô thưởng vô phạt”;  Ngô Quân Miện: “Thơ trên báo Văn nghệ có một điều mừng là đã mở ra, xòe ra (như những cái nan quạt) một cách rất rộng”; Bằng Việt: “Trữ tình tủn mủn”; Hoàng Cát:  “Thế nào là thơ hay hình như bây giờ cũng trở nên ù xịa, lẫn lộn lung tung”; riêng Trần Mạnh Hảo có chú ý đến thi pháp, đến đổi mới thì viết: “Các nhà thơ gân cổ, xoạc cẳng thi nhau ném lên nền thơ tất cả chai lọ của lý trí, tất cả cát đá của ngôn từ. Nhưng họ chỉ đạt được những lời nói chứ không phải những câu thơ”; v.v…       Cũng trong cuộc hội thảo trên, tôi thấy nhà thơ Hữu Thỉnh lại là người đánh giá tinh nhất: “Xu hướng chung của sự chuyển mới này là đi tìm cách biểu cảm hiện đại của thơ, dồn nén thông tin, ham bày tỏ, ít so sánh trực tiếp, nhiều liên tưởng ngầm, dồn sức cho cốt trục, tăng trực giác lẫn ngẫu nhiên, câu thơ co duỗi tự do, đóng mở linh hoạt, hình ảnh táo bạo, có khi chói gắt, ít vần... tránh dềnh dàng, lao ngay đến cái ý tưởng và khỏe, ngay ở thơ các bạn gái nhiều bài cũng rất khoẻ”  (Sđd).
         
***
 Nhiều thế hệ kế tiếp nhau sau 1975 cũng sáng tác theo thi pháp của lớp cha anh, nhưng không thể có được những trải nghiệm đắt giá, tác phẩm của họ không thể so sánh với thơ của lớp cha anh được. Có một nhóm rất nhỏ có ý thức đổi mới thơ quyết liệt, muốn làm ngược lại hoàn toàn thơ kháng chiến, thơ hiện thực, khởi thủy từ Trần Dân, Lê Đạt thuộc lớp “lão làng”, đến Hoàng Hưng, rồi đến nhóm Mở miệng trong những ngày hôm nay. Ngôn ngữ thơ có khi bị bóp vụn, chỉ là những mảnh ý nghĩ, những mảng vỡ của ngôn ngữ. Tôi tôn trọng họ có quyền có sở thích riêng. Nhưng nếu ngộ nhận, coi chỉ thơ như mình mới là sáng tạo, mới là siêu nhất, coi thường, chê bai những tác giả, tác phẩm khác mình thì tôi thấy vô lý và sẽ chống lại. Thứ nhất, nếu coi sự khó hiểu là một đặc tính cao siêu, là mục tiêu để phấn đấu thì không thể còn có loại thơ nào kín mít bằng thơ tượng trưng kín mít (Hermétique). Thứ hai, nếu coi sự tự do, sự phá vỡ mọi thuộc tính hiện thực của ngôn ngữ của thơ ca, thì cũng không có loại thơ nào phá phách bằng thơ đa đa, không có loại thơ nào kỳ dị bằng thơ siêu thực. Vì vậy, muốn làm cách mạng thơ mà chỉ đi sao chép những trường phái mốc meo thì khó được chấp nhận nên khó thành công.
Lê Đạt là một người rất nhiệt thành truyền bá tinh thần sáng tác dựa trên cơ sở khoa học, ông viết: “Nhà nghệ thuật thiếu lý tính chỉ là một nghệ sĩ thứ phẩm mắc bệnh vĩ đại cũng cần chữa trị hoặc nên đổi nghề”; “Từ khi cầm bút tôi đã quan niệm việc cách tân thơ Việt là mục đích quan trọng nhất của đời mình... Vật lý hiện đại (và thơ hiện đại) khuyến khích những giả thuyết thoạt nhìn như rồ dại nhưng có khả năng mở ra những khía cạnh kỳ bí của ngoại giới (cũng như thiết kế những tập họp chữ mới vượt qua biên giới cảm nhận sang những vùng tri nhận phức hợp và quyến rũ…); “Lý thuyết về những phô tông đã khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của những cấu trúc gián đoạn thay thế những cấu trúc liên tục tăng chế ngự khoa học cũng như thơ ca trong nhiều thế kỷ”.
Tôi đã viết: “Tính liên tục và tính gián đoạn chỉ khác nhau như một sợi dây liền và một sợi dây đứt đoạn, nên việc Lê Đạt tưởng tượng ra “nó chế ngự thơ ca trong nhiều thế kỷ” thực ra là điều không có thực.
Người ta cũng đã dựa vào tính bất định, tính phi tuyến tính của chuyển động trong Cơ học lượng tử làm cơ sở cho việc sử dụng tính phi logic của ngôn ngữ, gây ra sự khó hiểu. Lê Đạt, Trần Dần và các tín đồ sau này đã cho rằng cần phải đổi mới thơ ca bằng cách “phá vỡ “những quy luật nghiệt ngã nhiều khi bảo thủ của ngữ pháp”. Chính vì thế mới có loại thơ sai ngữ pháp ngô ngô ngọng ngọng mà với người đọc bình thường thì không tài nào hiểu nổi tại sao lại có loại “thơ” như thế. Có điều cơ học lượng tử thuộc thế giới vi mô của các hạt cơ bản, còn ngôn ngữ là một trong những sản phẩm ý thức của não người, tức thuộc về thế giới của các chất chứ không phải của các hạt. Cũng như người ta chỉ ăn chất bột, ăn thực phẩm chứ không ai có thể ăn được hạt cơ bản.
Ngữ pháp thực chất chỉ là quy tắc của ngôn ngữ. hoàn toàn không thể có chuyện diễn tả các vấn đề một cách “sai ngữ pháp” thì sẽ hay hơn. Không ai có thể đưa ra được một thí dụ về điều này. Trong tác phẩm, ngôn ngữ nhân vật có thể sai ngữ pháp, còn nhà văn viết tác phẩm mà sai ngữ pháp là do học dốt.
***
Chính vì vậy cái mới, cái giá trị của thơ hiện tại (chứ không phải hiện đại) không có chuẩn mực để đánh giá, còn rối như mớ bòng bong. Ai cũng tự tin đưa ra quan điểm của mình. Yêu thích là quyền mỗi người, nhưng người nào hiểu biết hơn sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn. Theo tôi, thơ ca là sản phẩm của con người, dù thời nào con người vẫn là con người, với tất cả những thuộc tính về thể chất và tâm trí. Nếu khoa học cũng như nghệ thuật coi sáng tạo là phá vỡ quy chuẩn, là sự lộn ngược thì không biết thế giới này sẽ đi tới đâu? Ngành lai tạo trong sinh học sẽ chỉ cho ra những quái thai. Nhưng có lẽ chúng ta nên tôn trọng quyền tự do say mê cái lập dị, cái lộn ngược, cũng như tự nhiên đã tôn trọng sở thích ăn xác thối của loài linh cẩu, kỳ đà vậy. Có điều cần phải biết nhận ra cái giới hạn mà vượt qua nó là đồi trụy, là băng hoại, kể cả phạm pháp, nếu không bị tù như chơi!
Thật e ngại khi sự quái dị của con người không chỉ dừng lại ở sự lộn ngược thẩm mỹ mà còn có cả sự lộn ngược thiện ác. Tiêu chuẩn của cái mới, cái tiến bộ không chỉ là cái nghịch thường, phản luân thường đạo lý, phản thuần phong mỹ tục, mà còn là phản kháng, kể cả phản động.
Như vụ ồn ào vừa qua, Luận văn của cô Nhã Thuyên có quan điểm sai trái tất về văn chương, chính trị và thẩm mỹ lại được hội đồng giám khảo cho điểm 10, khi bị thu hồi, cũng lại có cả một phong trào phản đối, trong đó có nhiều trí thức danh tiếng. Chuyện về một cái luận văn thạc sĩ là một việc rất nhỏ nhưng có hiện tượng cả một phong trào ủng hộ Nhã Thuyên, phản đối quyết định thu hồi luận văn, trong đó có nhiều trí thức danh tiếng, thì lại hoàn toàn không nhỏ vì phản ánh một sự thoái hóa nhân tính khi người ta ủng hộ một điều bất hảo!
***
Một nhóm nhỏ các nhà thơ tiếp cận cái mới, cái hiện tại, cái đang chuyển động. Thơ họ kế thừa được những mặt tốt của thơ giai đoạn trước, cố gắng vươn tới một tầm cao, một trật tự mới chứ không đi tới sự hỗn độn. Ngôn ngữ thơ của họ rất phong phú, đã phát huy triệt để một trong những tính chất chủ yếu của thơ ca là tư duy hình tượng, bài thơ như những cấu trúc đã mở ra những không gian nghệ thuật nhiều chiều, gợi mở nhiều vẻ đẹp, nhiều ý tưởng, nhiều ý nghĩa. Thơ ca không chỉ tạo nên sự xúc động, sự khoái cảm, sự tâm đắc mà gợi nên những suy tư, những trăn trở, ý thức trách nhiệm lớn lao đối với đồng loại. Có những bài thơ có một kết cấu triết lý,thể hiện được những điểm mấu chốt, những quy luật cơ bản, những mạch ngầm, những dòng chảy chính của tâm trạng, của sự vận động, phát triển …
Cái khó là phải thiết lập được một hình thức sao đó để thi sĩ có thể thể hiện tốt nhất cái riêng của mình, vừa đạt được sự sáng tạo lại vừa có khả năng biểu đạt có ấn tượng nhất, sâu sắc và toàn diện nhất cái thế giới sống ngổn ngang hôm nay. Từ khi loài người sáng tạo ra chữ viết, một hình thức mã hóa đầu tiên. Theo đà phát triển của cả nền văn minh, các tri thức trừu tượng hơn, các thông tin cần được dồn nén hơn; để thể hiện, lưu trữ hoặc sử dụng chúng, con người buộc phải thông qua các phương thức đều có tính mã hóa. Tương tự, nghệ thuật là một sự biểu đạt, đã biểu đạt phải thông qua ký hiệu, đã là ký hiệu phải có tính mã hóa. Vì vậy, sự mã hóa hoặc dạng này dạng kia, hoặc cấp độ này cấp độ kia, là chuyện tất yếu của sự biểu đạt nghệ thuật. Riêng với thơ ca, sự mã hóa đó chính là sự mã hóa ngôn ngữ, sự mã hóa những hình ảnh, những biểu tượng, những ẩn dụ… Diễn tả trực quan một điều gì thì chỉ nói được riêng một điều ấy, nhưng thông qua những biểu tượng, những ẩn dụ, ý nghĩa được mở ra nhiều chiều và cũng gây được ấn tượng mạnh hơn.
***
Tôi đến với văn chương đúng vào giai đoạn đổi mới ồn ào, đầu tiên bằng những bài thơ do nhà thơ Anh Thơ phát hiện và khuyến khích, chính bà đã giới thiệu tôi đến với Chế Lan Viên. Là người đang làm công việc nghiên cứu Khoa học tự nhiên, nên tôi đã cố gắng sáng tác theo khuynh hướng trên.  Chế Lan Viên quả thông minh, ông đã nhận ra ý hướng của tôi ngay từ lần đầu đọc những bài thơ đầu tiên của tôi. Ông không chỉ khen mà còn đề nghị trao giải cho tôi trong cuộc thi Thơ của HNVTPHCM năm đó, năm 1986, chưa hết ông còn tự đứng tên giới thiệu tôi vào HNVTPHCM nữa. Tôi cũng từng chơi thân với Nguyễn Quang Thiều, giờ đã làm PCT Hội Nhà Văn VN, to hơn cả CLV rồi. Hình như ông bạn có phần nào đồng cảm với thơ tôi, nói miệng thì tôi không tin lắm, cái chính là Nguyễn Quang Thiều đã chọn đăng thơ tôi không ít lần.  Tôi còn được tặng thưởng hàng năm về thơ ở TCVNQĐ mà lẽ ra nếu công bằng tôi sẽ còn được giải nữa.
Vậy mà sau 30 năm, rất ít người biết tôi làm thơ, rất nhiều người biết tôi viết phê bình, nhất là khi có internet, tôi có trang blog hơn một trăm nước có người vào đọc tôi viết rồi, nước ngoài nhiều nhất là Mỹ, rồi đến Đức. Không biết vì tâm lý con người thường chú ý sự giật gân, chuyện cãi lộn, xung khắc, hay vì tôi là Đông La la to trên diễn đàn.
Tôi làm nhiều bài có khuynh hướng suy tư về đời người, về thế sự, chuyện chở con đi học cũng thành thơ, nhưng chủ yếu viết về cái khác chứ không phải chuyện chở con đi học:
Ngày ngày cha chở các con trên những con đường SG
        như những dòng sông luôn dâng lên vô tận           
Chi chít người xe
Chi chít số phận
Tất cả bị bó chặt bởi những giới hạn
Nhưng các con có biết không?
Chúng ta đang đi trong giới hạn không phải của lề                                       đường mà giới hạn của những suy nghĩ
Chúng không thể mở ra bằng xẻng cuốc mà chỉ bằng
                                                       những con chữ.
Tôi có cái dở là viết phê bình nhưng lại ít đọc sáng tác, chỉ chú ý những tác giả, tác phẩm “có chuyện”, thế hệ trước tôi đọc và viết về Chế Lan Viên, tôi thích nhiều thơ ông, nhưng khi lớn tuổi, hiểu hơn về thế giới tâm linh, tôi hiểu hơn, thấm thía hơn mấy câu trong bài Người đi tìm hình của nước:
Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp!
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn. 
Ai cũng hiểu ý ông ca ngợi sự hy sinh vì dân vì nước lớn lao của Bác Hồ nhưng ông lại viết về sự ích kỷ, cái tôi, về lòng tham, những điều chủ yếu của Đạo Phật. Triết lý cao sâu nhất của Đạo Phật là Tính Không, cái gốc của mọi sự, mọi vật là không, các sắc đều vô thường, biến hoại, kể cả cái quý nhất là thân xác chúng ta đây. Cái tôi chỉ là giả tạm nhưng nó lại “khoái khẩu” ba món tham, sân, si là những “độc dược”, tạo nghiệp nặng, làm hại cho sự tu sửa để thần thức tiến hóa cao hơn ở kiếp sau.
Còn cùng lứa, người tôi đọc và viết nhiều nhất chính là Nguyễn Quang Thiều. Nguyễn Quang Thiều có bài “Bầy chó của tôi”, bài mà Trần Mạnh Hảo đã cho là: “nhìn con chó thật ghê tởm”, nhìn “một cách kinh hãi”. Quả thật, nếu nhìn những con chó chỉ là những con chó thì thấy việc nhà thơ tả cảnh chúng cắn xé, tranh giành nhau đúng là kinh hãi thật; và với một quan điểm thẩm mỹ cho tính thơ cao nhất chỉ là những mây trăng hoa lá, xanh xanh đỏ đỏ, thì không thể nào đồng cảm được những câu sau đây thật:
Bầy chó gầy bẩn thỉu ốm đau
Ngày lùng sục kiếm ăn
Liếm cả vào lưỡi dao sắc ngọt
Lưỡi bị cứa máu trào ra ở  đó
Con đến sau lại liếm máu bầy mình

Với tôi, đây là những câu thơ hay nhất, Nguyễn Quang Thiều đã biểu đạt vấn đề chính yếu, không chỉ buồn mà còn đau, còn khắc nghiệt, luôn hiện diện trong cuộc sống muôn loài, kể cả loài người chúng ta, đó là sự đấu tranh sinh tồn!
***
Bây giờ để góp vui văn nghệ, tôi kết thúc bài tham luận, bình một chút về thơ của nhà thơ, nhà phê bình khét tiếng Trần Mạnh Hảo.
Cái hay của của ngôn ngữ thơ ca chính là sản phẩm của trí tưởng tượng. Đó là việc mượn cảnh tả tình, dùng hình nói ý, nhà thơ phải có tài sử dụng những hình ảnh tương hợp để biểu cảm, biểu đạt, tức dùng từ phải “đắt”. Như nghệ thuật xiếc và các môn thể dục nghệ thuật, các động tác càng khó, càng mất thăng bằng thì càng hay, nhưng chúng chỉ thành công khi người nghệ sĩ giữ được thăng bằng, nếu không thì tiết mục sẽ bị hỏng, thậm chí diễn viên bị tai nạn.
Với Trần Mạnh Hảo, TMH cũng là người giỏi “làm xiếc ngôn ngữ”, hồi mới thập thò trước cửa làng thơ, tôi được nghe trực tiếp Chế Lan Viên khen ngôn ngữ thơ TMH giầu hình ảnh. Bây giờ trưởng thành hơn, sau mấy chục năm đọc lại thấy không còn đồng cảm được như xưa. Lâu nay thường có quan niệm không thể dùng dao mổ trâu mổ xẻ thơ ca. Nhưng theo tôi đó là sản phẩm của cái tính đại khái, cảm tính theo con mắt nhìn của người nông dân, không phải là cái nhìn của lý luận. Giờ bằng con mắt lý luận ta thử xem kỹ một đoạn trong bài “Tôi mang Hồ Gươm đi” rất nổi tiếng của TMH, nó còn được Phú Quang phổ nhạc nữa:
Gió níu hoàng hôn xuống đáy tranh
Lá rụng trời xao động cổ thành
Đổi dòng, sông gửi hồn ngưng đọng
Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh

Tôi muốn mang hồ đi trú đông
Mà không khiêng vác được sông Hồng
Mà không gói nổi heo may rét
Đành để hồ cho gió bấc trông

Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây
Mà thương ôm bóng kẻ lưu đầy
Mà lau đôi mắt tôi bằng sóng
Mà cả trời kia xuống hết cây?”
Đoạn thơ có rất nhiều hình ảnh lạ như “gió níu hoàng hôn”, “Muốn mang hồ đi trú đông”, “khiêng vác sông Hồng”, rồi “gói heo may” v.v… nghĩa là nghe rất kêu. Nhưng đi sâu phân tích cụ thể về ngôn ngữ, như cách TMH vẫn hay làm với người khác, ta sẽ thấy bài thơ hoàn toàn rỗng về ý, TMH đúng là điển hình về việc “viết sai tiếng Việt”. Như câu “Lá rụng trời xao động cổ thành”. “Lá rụng đầy trời làm xao động cổ thành” mới có nghĩa chứ còn “Lá rụng trời” là lá rụng gì? Cái khó ở chỗ này là viết cho có nghĩa thì không thành thơ mà viết thành thơ thì lại không có nghĩa. Rồi muốn “mang hồ đi trú đông” sao lại “không khiêng vác được sông Hồng”, ông Hảo muốn “mang hồ” đi cơ mà, sông Hồng thì có liên quan gì? Theo truyền thuyết, Hồ Gươm là nơi Lê Lợi sau khi dùng gươm thần đánh đuổi được giặc Minh đã “hoàn kiếm” lại cho Long Vương qua tay Thần Kim Quy, mà Long Vương ở dưới biển chứ đâu ở trên trời, như vậy, câu “Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh”, TMH đã “nói điêu”!
Thực ra TMH chủ yếu để ép vần nên đã dùng từ “sai tiếng Việt như vậy”.
TMH, ngoài “tài” “làm xiếc” ngôn ngữ, nếu theo “lý luận” về đổi mới của Nhà văn Nguyễn Minh Châu, thơ TMH cũng điển hình cho lối viết “minh họa”.
Với khổ thơ:
Mẹ ơi, bất kỳ từ điểm nào trên trái đất
Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai
Khi đất nước Việt Nam mang dáng hình tia chớp
Rạch chân trời một lối đến tương lai
Ở đây cũng có sự ép vần khiên cưỡng, để vần với “tương lai” ở câu kết thì TMH phải viết “con trai” ở câu trên, chính vậy mới làm cho khổ thơ khấp khểnh về nghĩa. Sao lại “bất kỳ từ điểm nào trên trái đất/ Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai”? Có phải TMH muốn đe dọa thế giới bằng chuyện nước ta có nhiều con trai, rồi sẽ “cung ứng” cho quân đội nhiều lính không? Rồi sao “đất nước mang dáng hình tia chớp/ Rạch chân trời một lối đến tương lai”? Nghĩa là cho nước ta là một “tia chớp” chỉ “lối đến tương lai” bằng cách “rạch chân trời” một nhát, còn tương lai cho cái gì thì TMH không nói; còn ý muốn nói tương lai đó là tương lai của nước ta thì viết như vậy nghĩa là cho nước ta là một quả bom sẽ mở được lối đến tương lai bằng cách nổ một phát!
Chính vì thế tôi mới viết: “Một đoạn ‘thơ” rất có vần nhưng ý thì lủng củng, nghĩa theo ngữ pháp thì vô nghĩa, còn tứ thì "Rạch chân trời một lối đến tương lai" đúng là một ví dụ tiêu biểu về lối “minh họa”.
Còn khổ này:
Thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
Sống thì đi mà chết thì nằm
Giọt lệ phần mình, nụ cười dành bạn
Đất nước là một cuộc hành quân
điển hình cho lối viết “minh họa”, cách viết một chiều, chỉ mô tả bề mặt hiện thực chứ không thâm nhập bề sâu, đã miêu tả chiến tranh như ngày hội, dù có hy sinh gian khổ nhưng chỉ có niềm vui mà không có đau thương, người lính Cụ Hồ như con rô bốt chỉ biết xông lên chiến đấu và chiến thắng! Riêng hai câu này:
Thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
Sống thì đi mà chết thì nằm
           thì thật thản nhiên, vô cảm, điển hình cho lối “sáng tác”, nghĩa là những người có chút năng khiếu, có thể sản xuất ra hàng loạt thơ ca bằng cách ghép vần làm ra những câu thơ chung chung, nghe kêu “beng beng”, nhưng là những câu thơ giả, không đúng với hiện thực.
***
Tóm lại, con đường đi lên của văn chương, của thơ ca, theo tôi đó là con đường: Vượt qua giới hạn của những giới hạn; hoàn thiện những điều còn chưa hoàn thiện; bỏ đi những điểm yếu của những cái cũ  để xây nên cái mới chứ không phải đập nát cái cũ; hướng tới cái mới là hướng tới cái năng động, cái phong phú, vươn tới một tầm khác, trí tuệ hơn và có học hơn, hướng đến một trật tự mới chứ không phải hướng tới sự hỗn lọan; đó là một trật tự không phải siêu hình cứng nhắc, duy lý thô sơ, mà là trật tự biện chứng, mọt trật tự chất chứa trong nó những sự vận động biến đổi. Công việc chính của sự đổi mới là sự loại bỏ những nhàm chán, những thô sơ, những phiến diện, để tăng hiệu suất những ấn tượng, để có thể chinh phục được tính thờ ơ ngày càng cao đối với thơ của con người, làm nên những giá trị cao hơn.
          22-6-2016
ĐÔNG LA

Thứ Tư, ngày 22 tháng 6 năm 2016

THAY LỜI TÁC GIẢ TRANG LỊCH SỬ Bài 1 SEN TRONG BÙN

THAY LỜI TÁC GIẢ
TRANG LỊCH SỬ

Bài 1
SEN TRONG BÙN

Thực tiễn của tổ quốc Việt Nam chúng ta có thể ví như bùn lầy, bùn lầy của sự lạc hậu; từ lạc hậu đã sinh ra nghèo đói, từ nghèo đói đã sinh ra nhược tiểu, từ nhược tiểu chúng ta đã trở thành nạn nhân của lòng tham, nạn nhân của sự độc ác của những nước lớn, những nước phát triển hơn đã xâm lược, đã tàn phá đất nước và giết chóc dân ta.
                Nhưng thật kỳ lạ, thiên nhiên nước ta có một loài sen lại nở hoa được từ bùn lầy tù đọng, rồi nở trong ca dao:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Rồi nở trong thơ nhạc, trở thành biểu tượng đẹp nhất, cao quý nhất, thanh khiết nhất để ví những con người đẹp nhất:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Và hôm nay, tôi thấy không gì “đắt” hơn khi dùng hoa sen để ví lịch sử Việt Nam. Trong tăm tối của dốt nát nghèo khó, trong hiểm nguy dầu sôi lửa bỏng, trong ác liệt của nhà tan, cửa nát, của đầu rơi máu chảy; những con người Việt Nam bé nhỏ, chất phác lại có ý chí làm tan chảy sắt thép của tất cả các loại vũ khí tàn bạo nhất; lại có trí thông minh chiến thắng những chiến lược, chiến thuật, những vũ khí tối tân nhất được xây dựng và chế tạo bởi những bộ óc siêu đẳng và nền khoa học công nghệ tiên tiến nhất.
Theo lẽ thường, khi học hết phổ thông, người ta phải hiểu được những nét chủ yếu về lịch sử đất nước. Nhưng lại có một thực trạng rất e ngại đó là việc có rất nhiều học sinh trong các kỳ thi đã được điểm 0 môn sử; và còn kỳ quái hơn nữa, có những kẻ thuộc tầng lớp có danh tiếng, muốn hơn người,  khác thường, họ đã lập danh thành công bằng cách nhìn lộn ngược lịch sử. Vì vậy trước tình trạng “trống không” và “lộn ngược” đó, tôi lại phải bỏ chút công sức dạy cho họ vài nét chính yếu, bài học i tờ về lịch sử của đất nước chúng ta.
Người viết nên những trang sử đầu tiên trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc thân yêu của chúng ta chính là An Dương Vương. Với thời gian trị vì từ 257 TCN đến 208 TCN (theo Đại Việt sử ký toàn thư), dân Việt ta dưới sự lãnh đạo của ngài đã tiến hành cuộc chiến 10 năm đánh thắng giặc Tần xâm lược, giết chết tướng Đồ Thư.
Tiếp theo, đất nước ta như chìm trong đêm trường của kiếp nô lệ, đến hết thời Bắc thuộc lần thứ III (207 TCN – 905), trong suốt 1112 năm, dân ta chỉ được làm chủ Tổ quốc của mình có 64 năm. Trong màn đêm ngàn trùng ấy, thật kỳ diệu, vẫn cháy bùng lên được những đốm lửa lung linh của khí phách Việt. Và kỳ lạ hơn nữa, trong mấy danh nhân được ghi vào bảng vàng chói lọi của lịch sử dân tộc lại có tên đến ba người phụ nữ.  Họ đúng là những bông sen bất tử, ngát hương, mãi mãi lan tỏa theo thời gian. Năm 40, bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị đã nổi binh đánh thành Luy Lâu đuổi Thái thú Tô Định, lên ngôi Trưng Nữ Vương. Sau hơn 200 năm, bà Triệu (Triệu Thị Trinh) cùng anh là Triệu Quốc Đạt cũng đã khởi binh chống giặc Đông Ngô, chiếm Tư Phố. Người con gái kiêu hùng ấy, khi mới 19 tuổi, đã nói câu nói như tạc vĩnh viễn vào thời gian: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”
Năm 542, Lý Bí, một giám quân ở Đức Châu (Hà Tĩnh), đã tạo thanh thế khiến cho Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương phải khiếp vía mà trốn chạy. Khi Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng đem quân sang, Lý Bí đã chủ động đón đánh tại Hợp Phố khiến quân Lương 10 phần chết đến 6, 7. Năm Giáp Tý 544, Lý Bí đã tự xưng là Nam Việt đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân.  Đó chính là vị hoàng đế đầu tiên và Thiên Đức cũng là niên hiệu đầu tiên chứng tỏ nền độc lập của nước ta.
Vận mệnh của một đất nước dường như cũng như vận mệnh một con người, cũng có lúc không may, lúc may mắn. Cuối thế kỷ 9, sau 1000 năm Bắc thuộc, nhà Đường suy yếu, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn ở  nước ta bị chính quân nhà Đường giết chết, Khúc Thừa Dụ đã thừa cơ chiếm được thành Đại La (Hà Nội), tự xưng Tiết độ sứ, mở ra thời kỳ tự chủ của dân tộc, kéo dài gần 1000 năm (905-1887).
Trong giai đoạn này nước ta thực sự là quốc gia hùng cường, từng nhiều phen đánh cho quân xâm lược thất điên bát đảo.
Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh tan quân Nam Hán, đuổi thứ sử Lý Tiến, chém chết tướng Trần Bảo; Năm 938, Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, bày trận trên sông Bạch Đằng đánh thắng quân Nam Hán, giết chết Hoằng Tháo; năm 981, Lê Hoàn đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống; 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi, dời đô ra Thăng long, lập nên một triều đại dài nhất trong lịch sử (216 năm). Năm 1075, khi biết Vua Tống dấy binh, Vua Lý Nhân Tông đã sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem hơn 100.000 quân đi đánh chặn ngay trên đất giặc; Lý Thường Kiệt đã chém chết Trương Thủ Tiết tại cửa ải Côn Lôn (Nam Ninh). Tri phủ Ung Châu là Tô Giám, khi thấy thành bị hạ, đã giết cả nhà 36 người rồi tự thiêu. 1076, nhà Tống lại dùng Quách Quỳ và Triệu Tiết đem 10 vạn quân tinh nhuệ, tiến theo hai đường thủy, bộ xâm chiếm nước ta. Lý Kế Nguyên đã chặn đánh thủy binh do Quách Quỳ chỉ huy trên sông Vân Đồn (Quảng Ninh) còn Lý Thường Kiệt đã lập phòng tuyến ở bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu). Tại đây, Lý Thường Kiệt đã làm bài thơ Nam quốc sơn hà  bất hủ, như một bản Tuyên ngôn Độc lập hùng tráng đầu tiên trong lịch sử dân tộc để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt, làm hoang mang quân giặc, đến nỗi đã không cần đánhmà thắng:
 Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Nhà Trần kế tiếp nhà Lý đã ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Năm 1259, Hốt Tất Liệt diệt được Nam Tống, lập ra nhà Nguyên, đã lần thứ 2 tiến đánh Đại Việt. Đây là lần xâm lược có quy mô lớn nhất với hơn 50 vạn quân, với thế "gọng kìm", Thoát Hoan đi từ Quảng Tây từ hướng Bắc đánh xuống, còn Toa Đô đi đường biển từ hướng Nam đánh lên. Năm 1285, Nhà Trần dùng chiến thuật "vườn không nhà trống", đợi thời cơ đã tổ chức phản công, với những chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đã giết được Toa Đô, khiến Thoát Hoan trốn chạy. Cuối năm 1287, nhà Nguyên lại xâm lược lần thứ ba. Trần Hưng Đạo bố trí lực lượng mai phục bằng cọc nhọn như Ngô Quyền ngày nào ở cửa sông Bạch Đằng, tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chạy về nước. Trần Hưng Đạo trở thành vị anh hùng dân tộc, ngày nay mọi người gọi ngài là Đức Thánh Trần. Theo The New Encyclopedia Britanica xuất bản năm 1983 có bổ sung thêm những vị tướng soái kiệt xuất thế giới trong đó có Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp. Trần Hưng Đạo được  đánh giá là : “huyền thoại của lịch sử Việt Nam, nhà chiến lược quân sự xuất sắc đã đánh thắng quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn, và là người anh hùng dân tộc trong nền văn hoá của Việt Nam ngày nay”(http://www.lichsuvn.info/forum/archive/index.php/t-1185.html). Vùng quê tôi là vùng đất phong cho con cháu của ngài, như làng Từ Ô, xã Tân Trào (Thanh Miện, Hải Dương) có nhiều hậu duệ của ngài. Còn làng Đông La (La trong thiên la địa võng, nên có thể dịch là tấm lưới giăng bắt địch hướng Đông) thờ ngài Thành Hoàng là Hoàng Trân, một vị tướng của Trần Hưng Đạo. Ngài đã xây một cái chùa (ngày nay còn lại rất nhỏ), ngọc phả ghi là rất linh, nên “Khi Lê Lợi dấy binh đánh quân Minh, xưng vương ở Lam Sơn, sai tướng Nguyễn Xí đến hành lễ cầu đảo đại vương, đều có linh ứng”. Có lẽ do nước ta “ra ngõ gặp anh hùng” nên chính sử không đủ chỗ ghi tên vị Thành Hoàng làng tôi. Vì vậy, tôi là một con dân của ngài đã một lần viết truyện ghi tên ngài, và hôm nay là lần thứ 2, tôi lại viết tên ngài trong một bài viết về lịch sử đất nước. Cầu mong ngài cho con sức mạnh để đánh thắng bọn dốt ác trên mặt trận chữ nghĩa này!
 Đến thời Lê Lợi, với Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), năm 1427, đã đập tan 10 vạn quân Minh trong trận Chi Lăng - Xương Giang, giết chết Liễu Thăng. Nguyễn Trãi đã viết bài Bình Ngô đại cáo, một áng thiên cổ hùng văn, một bản Tuyên ngôn Độc lập lần thứ hai của đất nước.
Thời Quang Trung Nguyễn Huệ, chỉ trong vòng 6 ngày, kể từ đêm 30 đến mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), đã dẫn đại quân Tây Sơn đánh tan tác 29 vạn quân Thanh, xác giặc chất đống thành Gò Đống Đa còn đến ngày nay!
 Như vậy, sau hơn 2000 chống chọi và đã chiến thắng oai hùng các thế lực xâm lược phương Bắc khổng lồ, giữ yên được bờ cõi, còn hơn 100 năm gần đây (từ 1858), đất nước bé nhỏ của chúng ta lại phải đương đầu với một thế lực khác, hùng mạnh hơn nhiều lần, không phải về quân số mà là vũ khí, sản phẩm của khoa học công nghệ và tư tưởng đế quốc thực dân; đó chính là những nước phát triển, những nước mà có thời họ coi mình là trung tâm của văn minh nhân loại, coi những nước khác như những bãi đất hoang và dân cư như bầy đàn man di mọi rợ, cần phải đến khai phá để mở mang bờ cõi. Nhiều vùng đất đã bị mất tên và được thay tên mới trên bản đồ thế giới, nhiều dân tộc bản địa trở thành dân tộc thiểu số trên chính tổ quốc của họ, bị hao hụt và dần bị đồng hóa. Chỉ có dân tộc Việt, Tổ quốc Việt, sau 1000 Bắc thuộc và 100 năm bị Đế quốc xâm chiếm, vẫn còn đó, vẫn hiên ngang tồn tại và ngày một phát triển vững mạnh, bởi chúng ta đã chiến thắng tất cả.
Nhà Nguyễn (1802 - 1945), triều đại phong kiến sau cùng ở nước ta đã có công rất lớn trong việc mở mang bờ cõi về phương Nam trù phú. Nhưng cũng chính Nguyễn Ánh, người lập ra triều Nguyễn, lại tạo duyên cớ cho Pháp xâm chiếm nước ta khi ký Hiệp ước Versailles. Năm 1858, Đô đốc Charles Rigault de Genouilly đã đánh chiếm Đà Nẵng. 28 tháng 11 năm 1861, Thủy sư đô đốc Bonard hạ lệnh xâm chiếm Côn Đảo. Trung uý Hải quân Pháp Lèspes sau khi đánh chiếm được Côn Đảo đã ra "Tuyên cáo chủ quyền": “Tuân hành lệnh của Thống Đốc, tôi tuyên bố chiếm hữu quần đảo Côn Lôn, nhân danh vua Napoleon đệ Tam, hoàng đế toàn nước Pháp”. Việc khai hóa đầu tiên của người Pháp đối với người Việt là ngày 1 tháng 2 năm 1862, Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo, trở thành chốn địa ngục trần gian giam giữ những người Việt bị thất bại trong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp mong giành lại nền độc lập. Một loạt lãnh tụ nghĩa quân đã anh dũng hy sinh như Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Đạt, Nguyễn Trung Trực, v.v… Đến ngày 20 - 11 - 1873, quân Pháp bắt đầu tấn công thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương đã chỉ huy tướng sĩ phòng thủ, thế giặc mạnh, thành thất thủ, ông bị thương nặng rồi bị bắt,đã nhịn ăn mà chết. Sau 9 năm, 25 - 4 – 1882, Hoàng Diệu tiếp bước Nguyễn Tri Phương chỉ huy tướng sĩ phòng thủ Thành Hà Nội, thế giặc mạnh, thành cũng lại bị thất thủ, ông đã anh dũng tuẫn tiết trước Võ Miếu!
Khi phong trào Cần Vương (1885) bị thất bại, Vua Hàm Nghi bị bắt, rồi bị đày sang Algérie, Liên bang Đông Dương được thành lập ( 17 - 10 - 1887),  thì một lần nữa dân ta lại mất nước.
***
Và rồi chính Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc, từ tuổi đôi mươi với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước, rồi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3-2-1930). Trải qua một hành trình dài vô cùng gian khổ, để được dân tin theo, biết bao máu của các chiến sĩ cộng sản đã đổ. Chỉ riêng những vị lãnh tụ cao nhất đã có liên tiếp tới 4 tổng bí thư  chết dưới tay quân Pháp: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ. Để rồi từ đó mới có được Cách mạng Tháng 8 thành công, và 2- 9 - 45, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh một nước VN mới.
Chính với vị thế mới đó, chỉ trong 30 năm (1945-1975), một chớp mắt của lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, dân ta đã đánh thắng đến 4 cuộc xâm lược, trở thành biểu tượng anh hùng của ý chí bất khuất và trí thông minh tuyệt vời trong công cuộc chống ngoại xâm giành lại nền Độc Lập.
Có những chiến thắng chấn động địa cầu không chỉ làm thế giới ngạc nhiên mà đến tận những ngày hôm nay, khi có điều kiện hiểu biết hơn, chính chúng ta lại càng ngạc nhiên hơn. Như có một phép mầu, một đội quân lúc đầu chỉ có 34 người với vài khẩu súng kip, nhưng sau 10 năm đã đánh thắng được Đế quốc Pháp được Mỹ hỗ trợ mạnh về quân sự tại Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống Chỉ huy trưởng Tướng Đờ Cát và 11.721 quân lính (Theo Chiến dịch Điện Biên Phủ – Wikipedia) Theo Tướng Trần Độ, Tướng Đờ Cát khi bị bắt đã phải thú nhận rằng: "Tôi cũng thấy làm vinh dự được làm tù binh của một quân đội như quân đội Việt Nam". Tháng 3/1993, khi sang thăm Việt nam, Tổng thống Pháp Francois Mitterrand lên thăm Điện Biên Phủ, đã xin phép được xây dựng một đài tưởng niệm những binh lính Pháp tử trận. Ông M.Claode Vignes (khách du lịch Pháp) nói: “Chỉ cần nhìn đài tưởng niệm binh sỹ pháp ở Điện Biên Phủ thì đủ thấy sự khoan dung to lớn của nhân dân Việt Nam”. Tướng Bi-gia, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp, là trung tá sĩ quan dù ở Điện Biên Phủ, đã viết trong cuốn “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi”: “Ngày 28-6-1994: tôi đã trở lại Điện Biên Phủ, … Tôi đã đến đài kỷ niệm… Những quân nhân Pháp ở Điện Biên Phủ trở về Pháp mà không có được một ai đón chào, còn ở trên mảnh đất Việt Nam này lại có một đài kỷ niệm tưởng nhớ họ”.
Trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ có lẽ đỉnh cao của sự đối đầu Việt -  Mỹ chính là trận Điện Biên Phủ trên không mà phía Mỹ gọi là Chiến dịch Linebacker II (từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972). Các cuộc tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội,Hải Phòng, Thái Nguyên và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong toàn bộ lịch sử các cuộc chiến tranh! Vừa rồi, trong những ngày kỷ niệm sau 40 năm chiến thắng, lần đầu tiên những bí mật quân sự được công bố trên truyền hình, khiến cho tất cả người VN có lương tri ai cũng đều phải dâng lên niềm xúc động và tự hào, chúng ta đã thắng Mỹ không chỉ bằng ý chí, bằng máu mà còn bằng cả trí thông minh tuyệt vời nữa. Những khái niệm lạ lùng lần đầu ta được nghe như “trinh sát nhiễu”, “vạch nhiễu”, “phương pháp bắn 3 điểm”, “ bắn đón nửa góc”, v.v… Một tờ báo Mỹ đã gọi đó là cuộc "Chiến tranh điện tử” mà phần thắng đã thuộc về VN. Trung tướng Phan Thu, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên chỉ huy Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu, kể lại: “Trong suốt thời gian hoạt động trinh sát, chúng tôi không thu được nhiễu 3cm của địch. Như vậy, B-52 chưa gây nhiễu dải sóng 3cm đối với các loại radar phòng không". Một công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: ghép phần tử mục tiêu của radar K8-60 làm việc ở dải sóng 3cm với đài điều khiển SAM-2. Đại tá Nguyễn Ngọc Lạc, hồi đó là Thượng úy Kỹ sư của Cục Quân khí, một chứng nhân, từng trực tiếp sửa chữa và đề xuất thử nghiệm và cho kết quả ra-đa K-860 với băng sóng 3cm đã xác định mục tiêu tốt, góp phần quan trọng trong việc bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.
Điều kỳ diệu thứ 2 là việc bộ đội phòng không của ta đã hóa giải được tên lửa “không đối đất” Shrike của Mỹ. Tên lửa này có thể tìm và “bắt” được mục tiêu theo sóng ra-đa, chuyên dùng để phá hủy các hệ thống phòng không đối phương. Tại Trung Đông, hàng chục hệ thống tên lửa phòng không của Khối Ả Rập từng bị loại tên lửa này phá hủy. Bộ đội ta đã vô hiệu hóa bằng cách phát sóng tức thì, tắt máy đột ngột và quay ngay đài ăng-ten đi hướng khác, tên lửa Shrike đã “bị điều khiển” chệch khỏi mục tiêu!
Cuối cùng để giành chiến thắng không thể không nhắc đến chiến công của các cán bộ tình báo quân sự đã phải ngày đêm theo dõi mọi động thái của địch. Đại tá Trần Văn Tụng, từng thuộc Trung đoàn Trinh sát Kỹ thuật, Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng kể lại, vào những năm 60, ông là 1 trong 10 sinh viên của trường ngoại giao được tuyển vào Cục 2. Ông cho biết lúc đầu chúng ta chưa biết cách làm thế nào để có tin cụ thể. Sau những mày mò, phán đoán từ các thông tin trinh sát có được, đơn vị của ông dần dần đã hình thành được nhiều bộ giải mã tin, từ đó dự đoán chính xác thời gian, địa điểm, số lượng máy bay Mỹ sẽ tham chiến. Chính vì thế, chiều 18-12-1972, Đại tá Phan Mạc Lâm, người được mệnh danh là đã “lập hồ sơ B-52”, khi Tướng Phùng Thế Tài hỏi:
- Này cậu, B-52 đến đâu rồi?
Ông mới có thể khẳng định:
- Giữa đường rồi, thưa Thủ trưởng - có cả hướng Gu-am và Thái Lan.
Như vậy chúng ta hoàn toàn sẵn sàng chủ động đón đánh địch, đã sơ tán hàng chục vạn dân tới nơi an toàn trước trận đánh. Và chỉ có như thế chúng ta mới làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không”, giành thắng lợi hoàn toàn.
Với tinh thần của Bác: “…chúng tôi phải được yên ổn. Chúng tôi không muốn trở thành người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mỹ cút đi! Gút-bai!” Và theo lời dậy của Người: “Chúng ta căm thù Đế quốc Mỹ xâm lược nhưng không được căm thù nhân dân Mỹ”, sau ngày toàn thắng, chúng ta lại có được một thành tựu ngoại giao quan trọng, mở ra một thời kỳ mới dựng xây đất nước, nước ta trở thành như một câu thơ của tôi trong bài TỔ QUỐC-NỬA BÀN CHÂN DÍNH BÙN VÀ MÁU:
Một đất nước đến kẻ thù cũng đem lòng yêu mến
Ngày 15 tháng 7 năm 1995, TT Clinton tuyên bố thiết lập bang giao đầy đủ với Việt Nam. Năm 2000, ông cùng với vợ con thăm Việt Nam. Trong bài Binh-thuong-hoa-quan-he-Viet-My, ông nói: “Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ là thời khắc tuyệt vời trong nhiệm kỳ của tôi”; “Việt Nam là đất nước có vị trí đặc biệt trong trái tim tôi”. 
Ngày 6-12-2006, ông đã nói với Chủ tịch Nguyễn Minh Triết: “Sáu mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Roosevelt đã muốn hai nước Việt - Mỹ thật sự là bạn. Quá trình này đã có những bước gập ghềnh. Tuy nhiên, tôi vô cùng hạnh phúc chứng kiến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước mà đáng lẽ phải có từ cách đây 60 năm”.
 TT Bush, trong diễn văn tại nhà thờ Greater Exodus Baptist ở Philadelphia (23/06/04), từ bạn “friend” đã được ông nhắc lại nhiều lần khi nói về quan hệ với Việt Nam. Sau chuyến thăm Việt Nam một cách chính thức trong "giai điệu dịu dàng" của người tiền nhiệm Bill Clinton, đã tạo nền tảng để ông Bush có những quyết sách mạnh mẽ hơn trong quan hệ giữa hai nước, ông đã nói về VN: "You’ve got a friend in America". (Trong bài Khi tổng thống Mỹ tuyên bố: Việt Nam là bạn). Năm 2006, ông và phu nhân đã sang thăm chính thức VN và dự Hội nghị APEC lần 14. Trong buổi tiếp của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, ông đã cảm ơn về sự đón tiếp trọng thị và nói: “Tôi đã đọc rất nhiều tài liệu về VN và cảm nhận được sự phát triển của VN giống như một con hổ trẻ. Tôi sẽ cố gắng hết sức mình để củng cố mối quan hệ giữa hai nước”.  Sáng 19/11, ông cùng phu nhân tới cầu nguyện tại nhà thờ Cửa Bắc, HN.

Về phía VNCH, Tướng Nguyễn Cao Kỳ có thể là một người lính quả cảm nhất, sẵn sàng chiến đấu tới cùng, chính vậy ta càng quý ông hơn khi ông đã vượt qua mặc cảm của một kẻ bại trận, trốn chạy, đã thừa nhận sự thật lịch sử, trở thành một biểu tượng của sự hòa giải. Trong Nguyễn Cao Kỳ – Wikipedia, tại khách sạn Sheraton TP Hồ Chí Minh, 15/1/2004, ông nói: "…sau 30 năm khi đất nước đã thống nhất và đây là lúc cần sự tập hợp của tất cả người VN trong cũng như ngoài nước để phục hưng đất nước, để VN trở thành một con rồng châu Á”; ông cũng từng nói: " Những sự mất mát và đau khổ trong cuộc chiến cũng như sau cuộc chiến thì chồng chất nhiều lắm, nhưng cứ quay lại dĩ vãng và uất hận thì chỉ là chuyện của cá nhân mỗi người”. Một người khác, GS Vật lý Trần Chung Ngọc, một bạn đồng khóa tại trường sĩ quan với Tướng Nguyễn Cao Kỳ, trong bài NGÀY 30/4/1975, ông viết: “Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam”.
***
Sự thật Lịch sử là vậy, không chỉ người dân VN mà được cả loài người có lương tri tiến bộ trên toàn thế giới công nhận. Vậy mà thật kỳ quái lại có những người thuộc tầng lớp từ “nhân sĩ trí thức”, nhà văn, nhà báo, đến dân thường vì những nguyên cớ, những tham vọng và ảo tưởng khác nhau, nhân danh đấu tranh vì dân chủ tiến bộ chống lại Nhà nước Việt Nam, họ tìm mọi cớ, bu vào mọi chuyện, kể cả việc cố tình không chỉ xóa trắng mà còn lộn ngược lịch sử, một hành động phản đạo lý, phản nhân văn và mất nhân tính. Những muốn lịch sử nước ta bước lại những bước đi ngập bùn lầy và máu.
Cuốn sách này ra đời nhằm chỉ mặt gọi tên một số nhân vật “cộm cán” trong những người đó. Chỉ mong góp một phần nhỏ bé tâm trí trên mặt trận không tiếng súng, chống lại luận điệu xuyên tạc, giữ bình yên cuộc sống nhân dân.
TP Hồ Chí Minh
20-6-2016

ĐÔNG LA

Thứ Ba, ngày 21 tháng 6 năm 2016

NHÀ VĂN ĐÔNG LA THÔNG BÁO

NHÀ VĂN ĐÔNG LA
THÔNG BÁO

Từ vài ngàn trang viết trên blog 4 năm qua tôi đã cắt gọt, lắp ghép, như chưng cất, tinh chế, thành một cuốn sách có tư tưởng, chủ đề, nội dung xuyên suốt. Nội dung chính đúng như các bạn “cờ đỏ” đã tặng cái danh hiệu “chiến sĩ trên mặt trận chống xuyên tạc’ cho tôi. Vũ khí chính trên mặt trận không tiếng súng này là sự thật lịch sử VN, một lịch sử anh hùng đươc cả nhân loại có lương tri và tiến bộ trên thế giới công nhận. Bên cạnh đó những lý lẽ của tôi thường dựa trên cơ sở tri thức đúng đắn về khoa học, triết học, văn học và luật pháp.
          Bản thảo đã xong còn bao giờ in thì chưa biết, giống như dự tính làm một cuốn sách về cô Vũ Thị Hòa, hỏi giấy phép, nhà xuất bản biết chuyện VTV nói về cô, rồi báo đài ở Vinh Phúc vừa qua lại tiếp tục, họ ngại cấp giấy phép làm tôi cụt hứng luôn.
          Còn cuốn mới này bàn chuyện chính trị, toàn những chuyện “hót” in ấn sẽ dễ hơn.
          Chưa biết bao giờ in những bạn đọc tiết kiệm tiền dần đi để ủng hộ nhà văn Đông La nhé. Trước tôi viết chơi thôi nay viết thật vì trước kia có xưởng sản xuất, nay thì dẹp mất tiêu rồi.
          Xin cám ơn trước các bạn!
         Tôi lại tự thiết kế cái bìa này. Nền bìa sách tôi lấy “vật liệu” từ bìa cuốn Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước VN mới)


21-6-2016
ĐÔNG LA



Thứ Ba, ngày 14 tháng 6 năm 2016

LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU (Về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức)

ĐÔNG LA
LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU
(Về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức)

Trong bài trước tôi có viết câu: “Vẫn là theo cái ý đồ bệnh hoạn nhằm lộn ngược lịch sử, cùng một giọng với bọn Chu Hảo, Huy Đức San hô, Nguyễn Duy, đã viết và được nhắc tới trong vụ bênh ông Bob này”.
Vậy hôm nay tôi đăng lại bài “Lịch sử nhìn qua lỗ đồng xu” viết về thằng San hô Huy Đức để mọi người chưa biết Huy Đức là ai, viết cái gì thì biết và tại sao tôi viết như trên. Bài “Lịch sử nhìn qua lỗ đồng xu” chính là bài mà độc giả vào đọc dông nhất trong suốt 4 năm tôi lập cái blog này, tới nay đã gần 20.000 lượt.
Còn sao tên nó dài thế vì nó tên là San, bị hô nên trên mạng gọi là San hô, Huy Đức là bút danh, Osin là nickname chủ trang blog.
14-6-2016
ĐÔNG LA

Trong bài ben-thang-cuoc-vi-sao-toi-viet?, Huy Đức viết:
“Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ”; “Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh, nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách”; “Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc”.
Những sự thật quan trọng liên quan đến vận mệnh của đất nước ai cũng muốn biết, có điều những chuyện con con liên quan đến chính bản thân ta đây còn bị xiên xẹo tùm lum thì những sự thật lớn lao đâu dễ biết được.
Theo triết học, có cái tận mắt ta nhìn thấy cứ tưởng là sự thật nhưng lại không phải, bởi nó là hiện tượng chứ không phải bản chất. Như than chì và kim cương, người không biết cứ tưởng là hai chất khác nhau, nhưng thực chất chúng lại cùng là các bon. Có những chuyện người thật việc thật vẫn không phải là sự thật bởi chúng chỉ là những mẩu của sự thật mà thôi. Trong khi đó với tôi, sự thật cũng vẫn chưa phải là lịch sử, không phải cái sự thật nào cũng là lịch sử, bởi với mênh mông sự thật trong đời sống thì lịch sử nào chứa cho đủ?
Vậy lịch sử là gì?
Có lẽ chỉ sự thật nào có thể trở thành văn hóa, những sự thật chủ chốt, bao quát, có thể nói lên được bản chất của vấn đề, giúp cho hậu thế những bài học bổ ích thì sẽ thành lịch sử. Tất nhiên không chỉ có những bài học về sự thành công mà có cả những bài học về sự thất bại. Vì vậy những từ “minh triết”, “hiền minh” là đúng nhất dùng để chỉ những phẩm chất cần phải có của một nhà viết sử. Người ta cần phải thấu suốt hết mọi lẽ, với tấm lòng thiện đức, thì mới có thể viết được sử.
Còn Huy Đức cũng có tham vọng viết sử thì có cái gì?
Đó là một chú bé sau giải phóng bị lóa mắt bởi: “Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe … Những chiếc máy Akai, radio cassettes”. Từ đó thấy: “Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi”.
Tôi khi ấy gần như thuộc lớp bộ đội sau cùng, cũng kịp trực tiếp tham gia chiến dịch HCM. Từ rừng về tôi cũng thấy Sài Gòn to đẹp, nhưng có lẽ tôi là số rất ít bộ đội không đi lùng mua khung xe đạp, búp bê, radio cassettes, mà cái mong ước lớn nhất của tôi lúc ấy là được về thăm nhà và được vào đại học, chỉ thế thôi!
 Huy Đức, đến tận 1983 mới “có một năm huấn luyện ở Sài Gòn… Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh””, để rồi với cách nhìn ấy đã có ý đồ viết nên cuốn sách: “Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc”.
Đó thực sự là cách nghĩ từ một cái nhìn thiển cận. Và với cách nhìn ấy, cái nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu như thế thì sẽ viết được cái gì?
Trước khi phân tích cụ thể, ta thử xem qua dư luận về cuốn sách của Huy Đức.
Thật kỳ lạ cả phía “ta” lẫn “địch” đều có người chê Huy Đức dữ dội thì có nhóm nhỏ “xuất thân việt cộng” nhưng đang làm thuê cho những ông chủ thuộc “thế giới tự do” thì rất ca ngợi cách nhìn lộn ngược của Huy Đức.
Trong bài ĐỌC “BÊN THẮNG CUỘC” CỦA HUY ĐỨC  Posted on 10.12.2012 by nguyentrongtao , ông GS TRẦN HỮU DŨNG, con Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nguyên là bác sĩ riêng của Bác Tôn, một người đang dạy học bên Mỹ, viết:
“Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là quyển sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975 mà tôi được biết… Cuốn sách đầy ắp những thông tin mà tôi chưa từng đọc được trong bất cứ sách báo nào đã xuất bản. Huy Đức là một trong số rất ít (có thể đếm trên ngón một bàn tay!) ký giả Việt Nam hiện nay có khả năng nghiệp vụ cao, dày dặn kinh nghiệm, và nhất là có biệt tài tạo sự tin cẩn ở những người được phỏng vấn về những sự kiện vô cùng “nhạy cảm”, thậm chí “thâm cung bí sử”…  “Bên Thắng Cuộc” lột trần nhiều “huyền thoại” về một số lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Trần Hữu Dũng cũng viết: “Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ… chỉ có thể dùng hai chữ “tuẫn tiết” chứ không thể có từ nào hay hơn”.
Việc Trần Hữu Dũng khen Huy Đức dùng chữ “tuẫn tiết” để ca ngợi dũng khí của mấy người tự sát, vậy phải chăng đó cũng là cách gián tiếp chê gần một triệu người lính chế độ cũ khác không tự sát là hèn nhát? Còn tôi thấy mấy vị tự sát chẳng cần phải uổng mạng như thế nếu các vị biết Nixon đã thể hiện quyết tâm của Mỹ dứt khoát bỏ rơi VNCH khi quát lên với Kissinger rằng (theo baomoi.com): “Tôi không biết liệu lời đe dọa đó có đủ không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ việc chết tiệt gì - hay cắt đầu hắn ta, nếu cần thiết” (I don't know whether that threat goes far enough or not but I'd do any damn thing that is -- or cut off his head if necessary) khi nói về việc TT Thiệu không muốn ký vào Hiệp định Paris. Đó cũng chính là cái lý do khiến tướng Nguyễn Cao Kỳ từng thốt lên: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”; rồi: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”. Vậy thì các vị đã tuẫn tiết thì tuẫn tiết vì cái gì? Vì cái gì Huy Đức đã tôn vinh họ? Và vì cái gì Trần Hữu Dũng ca ngợi Huy Đức?
Nguyễn Giang, hiện là Trưởng Ban Việt Ngữ BBC, tra trên mạng thấy: “Name: Nguyen Giang. Born 1972 in Son La, Vietnam. High school and first year of law studies in Hanoi”, nghĩa là cũng là “con Việt cộng” ở Sơn La. Trên bbcvietnamese.com, trong bài Về cuốn 'Bên Thắng Cuộc', Nguyễn Giang viết:
“Các đoạn có giá trị nhất, nhiều tư liệu mới nhất và tổng hợp được cách nhìn của các bên nhất phải kể đến giai đoạn lực lượng cộng sản Nam và Bắc tiến vào Sài Gòn, và thời kỳ quân quản rồi thống nhất hai miền.
… ngòi bút Huy Đức tỏa sáng trong giọng văn âm thầm, cố gắng giữ vẻ bình thản nhưng bên trong sôi sục, thậm chí có chỗ nghẹn đi vì các biến cố đau đớn cho hàng triệu người mà anh chứng kiện cận cảnh, nhất là ở trong tâm thức một người đi bộ đội về và từ Bắc vào sống trong Nam…
Các vụ ‘thâm cung bí sử’ trong chính trường Việt Nam, nhất là giới tướng lĩnh như cái chết của các tướng Nguyễn Chí Thanh thời chiến tranh, rồi những chuyện đột tử của các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện sau này cùng một âm mưu bao vây, hạ thấp tướng Võ Nguyên Giáp được mô tả thật sinh động”.
Trong bài CÓ PHẢI MÁC LẠI LÀM KHỔ DÂN VĂN GIANG?  phản bác TS Phạm Ngọc Cương ở Canađa, tôi đã viết: “Từ cái nhìn phi lịch sử, từ chỗ chê bai cuộc sống ở trong nước, ông Cương ca ngợi Canada, nơi ông là một kẻ tha phương cầu thực. Mọi chuyện ông nói đều đúng cả, nhưng đó chỉ là tư duy “phản xạ có điều kiện” của Pavlov, chứ không phải là cái nhìn biện chứng của một tư duy triết học”, thì có lẽ ông Giang, ông Dũng cũng giống như ông Cương thôi, cũng được những “điều kiện” ở Anh, ở Mỹ  đã tạo ra những “phản xạ” trong nhận thức, nên các ông đã ca ngợi Huy Đức viết ngược như thế. 
Ngẫm lại cái số phận thật tai quái, tôi đây mà cũng lại có lần “hân hạnh” được dùng tiệc cùng với “ông Trưởng ban” Giang nói trên và cả “nhà cách mạng Lê Công Định” nữa tại quán Nga trên đường Tôn Đức Thắng, Q I, TPHCM!
Ngược lại cái tư duy “phản xạ có điều kiện” nói trên, trên haingoaiphiemdam, một chứng nhân được Huy Đức cho vào “trang sử” của mình là Lê Quang Liễn, một Thiếu Tá Quân lực VNCH, đã phản đối Huy Đức:
“Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật, vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân, phe nhóm”.
MX Phạm Văn Tiền ĐĐ F Khóa 20 Đà Lạt:
“Kính thưa quý diễn đàn.
Gần đây dư luận xôn xao về một quyển sách của tác giả Huy Đức, người từ chế độ cộng sản viết về tài liệu lịch sử của cuộc chiến vừa qua. Qua quyển sách có tên là " Bên thắng cuộc", nhìn toàn diện tác giả dường như muốn diễn đạt và dẫn chứng những điều thật sự xảy ra sau cuộc chiến, nhưng sự thật đó lại là những điều không thật… Những dẫn chứng bịa đặt mặc dầu với những tên khác nhau, nhưng tác giả Huy Đức phải hoàn toàn chịu trách nhiệm những điều không có thật trong quyển sách của mình. Qua quyển sách "Bên thắng cuộc" của tác giả Huy Đức là những viên thuốc đắng có bọc đường”.
Ở đoạn này Huy Đức rất giống Bùi Tín. Bùi Tín từng "chiêu hồi", cố công "lập công chuộc tội" nhưng vẫn bị chửi rủa lăng nhục, thậm chí có người còn tố cáo Bùi Tín giết người!
Về phía “ta”, trong bài  Cóp nhặt ý kiến bình về “Bên thắng cuộc” Posted by butluan on Tháng Mười Hai 21, 2012 . Về chuyện Huy Đức “tố cáo” nhà nước đầy đọa binh lính chế độ cũ sau giải phóng, bạn Pham Truong Son – truongsonnd2007@yahoo.com.vn viết:
“Các ông sang bờ bên kia đại dương đã gần 40 năm, mà vẫn còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn, cá nhân ngày đêm kêu gào chống phá, lật đổ. Huống chi chiến tranh vừa kết thúc, quản lý rồi mà có khi các ông vẫn còn làm loạn ấy chứ, để các ông tự do thì không biết thế nào!”
Bạn Hoàng Việt Vũ:
“… Trại cải tạo là chuyện mà Nhà nước cần phải làm. Chủ yếu là để đảm bảo an ninh trật tự trong nước, tránh việc chống phá của các thành phần thuộc chế độ cũ trong hoàn cảnh khi mà nhà nước còn quá nhiều khó khăn, nếu phải chống cả thù trong lẫn giặt ngoài thì thành quả cách mạng sẽ đều bị sụp đổ.
Mặt khác, nếu so sánh giữa trại cải tạo của chế độ và những nhà tù chế độ cũ như nhà tù Côn Đảo, nhà tù Phú Quốc, công việc cuốc đất hằng ngày, tăng gia sản xuất, học tập chính trị có thấm gì so với những kìm kẹp, nhận nước, đóng đinh, cưa chân mà chế độ cũ đã gây ra đối với những người cách mạng.
Hãy nhìn xem, những người mà cha mẹ họ ra khỏi tù với hàng trăm vết thương, ra tù với đôi chân bị cưa 7 lần, những người thân tìm thấy xác của con cháu mình trên đầu vẫn còn hàng chục cây đinh dài cả chục cm. Họ mới là người có quyền căm thù, có quyền lên tiếng, nhưng họ vẫn im lặng và đặt lại quá khứ sang một bên, họ không quên đâu, họ vẫn nhớ, nhưng đối với họ tương lai thì quan trọng hơn nhiều cái quá khứ đau đớn ấy”.
Bạn Trần Hạ Long:
“Tôi định không viết nhưng thấy nhiều người than thở thở than theo ông Huy Đức quá nên cầm lòng không được
Này các bác, tôi là dân Bắc Kì đây, gia đình tôi có cả người từng làm làm ở hành chánh quốc gia đấy và từng làm dân biểu nữa, cũng đi học nhưng ở lại không vượt biên, cũng chả sao cả… Tôi kể các bác nghe nhá:
…Ông họ tôi là thiên chúa giáo dân, ông tôi chiến đấu chống Pháp tại hà nam, ông tôi là công dân nước Việt chống xâm lược nhưng chưa hề xâm lược nước Pháp nhưng nước Pháp vĩ đại mang ông tôi ra phơi nắng trong khi ông tôi bị thương nặng vì can tội ” làm Việt Minh” và ông tôi chết trong đau đớn, nhưng còn hơn một số kẻ cúc cung vì nước Pháp thà làm trâu ngựa hơn làm người tự do…
…Thả tù binh xuống biển, bẻ răng đập hàm… không thủ đoạn đê hèn nào không làm… Nhưng các bác lờ tịt đi… muốn chối tội à. Tôi biết còn nhiều bác từng nhuốm máu nay tỏ ra cao đạo phê phán cộng sản, nhiều bác lính kiểng tỏ ra anh hùng.
Xin các bác nghĩ lại cho một ít”.
Còn với tôi, bộ sách của Huy Đức rất dày, riêng cuốn I đã hơn 800 trang, nên bài này tôi chỉ muốn chỉ cho Huy Đức biết thực chất cái “nền văn minh” của Miền Nam trước giải phóng là như thế nào thôi.
Như trong bài về  HUỲNH NGỌC TUẤN, HUỲNH THỤC VY tôi đã viết:
“Về sự tươi đẹp của chế độ VNCH, Huỳnh Ngọc Tuấn cũng như không ít người từng ca ngợi và hay mang ra so sánh với Bắc Việt nghèo khổ, có điều họ không hiểu rằng, đó chỉ là “lợi nhuận” của việc chống cộng mà cư dân ở những vùng đô thị miền Nam được hưởng từ việc đánh đổi bằng máu của dân Bắc bởi “chiến tranh phá hoại” và máu của dân cư vùng nông thôn. Theo "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald, Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139, khi viết về Diệm, tác giả cũng viết: “Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thành phố ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương. (For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West)”.
"Toàn bộ tiền viện trợ và tiền giúp đỡ của quốc tế cho Việt Nam đánh Mỹ đều tập trung về một đầu mối là B29... Từ 1965 đến 1975, B29 đã tiếp nhận Sáu trăm bảy mươi tám triệu bảy trăm ngàn đô la Mỹ (số tròn) (678.700.000 USD), trong đó hơn sáu trăm hai sáu triệu đô la là tiền viện trợ đặc biệt, hơn hai mươi bốn triệu đô la là tiền của các tổ chức và nhân dân quốc tế ủng hộ, gần 21 triệu đô la là tiền lãi kinh doanh chuyển đổi và gửi ngoại tệ ở nước ngoài, gần bảy triệu rưỡi đô la là lãi từ tiền dự trữ của chiến trường sau giải phóng...".
Tài liệu của CIA giải mật của Hoa Kỳ thì đưa ra những con số ước tính qua 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; quy đổi thành tiền là hơn 7 tỉ rúp (tương đương 7 tỉ USD, trong đó hơn một nửa là viện trợ quân sự).
 Còn Viện trợ quân sự Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa:
“Theo nguồn do Việt Nam thống kê thì tổng viện trợ cho VNCH từ 1954 đến 1975 là trên 26 tỷ USD. Theo nguồn của Hoa Kỳ thì tổng viện trợ Quân sự cho VNCH từ 1955 đến 1975 là 16,762 tỉ USD. Lưu ý số vũ khí và viện trợ trên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chiến phí của Mỹ ở Việt Nam. Nó chưa bao gồm số vũ khí và chiến phí do quân đội Mỹ trực tiếp sử dụng trong giai đoạn tham chiến trực tiếp 1964-1973, mà theo thống kê là trên 141 tỷ USD chi phí trực tiếp, tương đương 686 tỷ USD theo thời giá 2008. Mặt khác, nhà kinh tế Steven ước tính tổng chi tiêu cuối cùng của Mỹ cho cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ lên tới 925 tỷ USD; gấp 3,8 lần chi phí của Mỹ trong thế chiến thứ nhất và chỉ đứng sau chi phí của Mỹ cho thế chiến thứ hai”.
Như vậy tổng chi phí của Mỹ cho chiến tranh VN gấp hơn 130 lần mà phía VNDCCH đã nhận được viện trợ. Vì thế cái “nền văn minh” mà Huy Đức thấy qua “Mấy chiếc xe đạp bóng lộn”; “cặp nhẫn vàng chóe”; “Những chiếc máy Akai, radio cassettes”; rồi: “rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc” v.v… đều có nguồn gốc từ “925 tỷ USD” mà Mỹ đã chi cho cuộc chiến ở VN, kèm theo 58000 nhân mạng nữa, để rồi mất trắng trở về.
“Tiến sỉ Nguyễn Tiến Hưng đưa ra một vài thí dụ và dẫn chứng của sự kiện lịch sử tiêu biểu nhưng vô cùng đau đớn cho chánh quyến VNCH khi lệ thuộc Mỹ. Về kinh tế nội việc xin Mỹ viện trợ gạo là cả một vấn đế phức tạp, phiền toái mà trăm dâu đổ đầu tằm VNCH phải chịu. Cứ mỗi năm vào 16-5 mùa giáp hạt, thì kho gạo VN hết, từ tổng thống đến chánh phủ phải chạy đôn chạy đáo để cầu viện. Câu viện phải qua 6 bước. Xin Hành Pháp cấp, Quốc Hội chuẩn chi, giải quyết vận chuyễn,. Vận chuyễn theo luật viện trợ Mỹ phải đấu thầu chuyên chở. Ông Chủ tịch Ủy Ban chuẫn chì có công ty hàng hải “ bồ bịch” muốn công ty của mình được thầu. Làm không khéo, đổ bể các nhà thấu khác la lên thì VNCH mang tiếng xấu, mà không làm cho công ty bồ bịch của Ông thì chuẩn chi khó khăn hay bị cắt giảm. Chở gạo từ Louisiana lên San Fran, từ San Fran về VN. Nghiệp đoàn công nhân bốc dở biết Quân Đội ở Miển Trung đang cần gạo, họ hay đình công để làm tiền. Chánh quyền VNCH không thể trả tiền vòi vĩnh mà cũng không thể ngăn cản quyền đình công của nghiệp đoàn, trong khi Quân Đoàn I xếp hàng xe chờ gạo, lính gần hết quân lương. Chánh quyền phải nhờ các thương gia gạo dàn xếp. Đó là chưa nói gạo viện trợ về bán rẻ thiệt hại cho nông dân VN”.
Chính Nguyễn Văn Thiệu còn có những câu nói để đời rất hồn nhiên thừa nhận việc mình làm một ông Tổng thống “bù nhìn” như sau:
- Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng;
- Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!
Không chỉ lệ thuộc về kinh tế mà về chính trị chế độ của Nguyễn Văn Thiệu cũng hoàn toàn bị lệ thuộc. Khi Mỹ nhận ra sai lầm trong cuộc chiến ở VN, như việc “cắt lỗ” trong đầu cơ chứng khoán, chính phủ Mỹ đã “vắt chanh bỏ vỏ” Nguyễn Văn Thiệu không thương tiếc. Trong Nguyễn Văn Thiệu – Wikipedia tiếng Việt:
“trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: "Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước".
Trong bức thư đề ngày 6/10/1972, Nixon còn ngầm đe dọa: "Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968...".
Henry Kissinger về sau trong hồi ký của mình đã cho rằng: “Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu "tàn bạo", "xấc láo", "ích kỷ, độc ác" với những "thủ đoạn gần như điên cuồng" khi làm việc với người Mỹ”; Kissinger cũng tiết lộ rằng, khi nói về việc Nguyễn Văn Thiệu ngăn cản Mỹ ký hiệp định Paris, Tổng thống Nixon đã giận dữ thốt lên: "Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận. Ông hãy tin lời tôi."
Một “nền văn minh” luôn tùy thuộc vào chế độ chính trị và tiềm lực kinh tế. Vì những lẽ trên đây mà người ta đã cho cuộc sống ở Sài Gòn trước 75 chỉ là “phồn vinh giả tạo”. Mà nền kinh tế ấy cũng lại: “ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường”.
Đó là những thông tin chỉ bấm một phát là ra trên Google, vậy mà Huy Đức  đến tận bây giờ còn mù quáng thì thử hỏi còn tham vọng viết lách cái gì?
Còn cuộc sống ở ngoài bắc trước 1975,  Huy Đức cần phải hiểu nếu không có chiến tranh, nếu miền Bắc không phải “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tất cả vì Miền nam ruột thịt” thì chắc chắn mức sống 2 miền Nam, Bắc không quá chênh lệch như thế!
Cũng liên quan đến Kissinger, cũng về sự lệ thuộc nước ngoài, Lê Mai trong bài  Ba bảo bối của Lê Đức Thọ viết về Lê Đức Thọ, một nhân vật mà Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho "Ông ý là nhà ngoại giao khổng lồ”; nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá là một “phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví như một tướng quân tài ba thao lược” (VietNam.net); còn Huy Đức trong cuốn sách của mình đã cố công bôi đen hình ảnh của ông bằng những tư liệu không chính thống; nhưng thực tế, với Nguyễn Văn Thiệu, ta càng thấy nhục cho người Việt mình trước người Mỹ bao nhiêu thì với Lê Đức Thọ, ta lại càng tự hào bấy nhiêu. Lê Mai đã viết:
“Kissinger viết: “Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán màu xám hoặc ma-rông. Đôi mắt to và sáng, ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi mười sáu tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp. Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần. Ông hoàn toàn biết ông muốn gì và phục vụ lý tưởng của ông một cách tận tụy và khéo léo”.
Kissinger dường như tin rằng chìa khóa để giải quyết vấn đề VN là ở Mátxcơva và Bắc Kinh.
- Ngài cố vấn qua Bắc Kinh, Mátxcơva, chắc đã được các bạn của ngài thông báo về ý kiến của chúng tôi trong đợt đàm phán này - Kissinger khiêu khích.
- Bạn chúng tôi ủng hộ chúng tôi, nhưng không làm thay chúng tôi. Mấy năm qua các ông cứ chạy vay chỗ này chỗ kia, chỉ làm phức tạp thêm vấn đề. Trong một ván cờ, quyết định thắng thua phải là người trong cuộc, không có cách nào khác. Chúng tôi độc lập giải quyết vấn đề của chúng tôi - Lê Đức Thọ trả lời.
Khi Kissinger thông báo, Sài Gòn sẽ không ký, Lê Đức Thọ nói với Kissinger: “Năm năm nay không bao giờ ông để tôi tin ông lấy một lời. Ông hứa danh dự rồi chính ông lại dí ngay lời hứa đó xuống chân ông. Ông lật lọng hết mức”.
Kissinger bực lên và đáp: “Ông nói là lời của tôi vô giá trị, thế thì ngồi đây đàm phán làm gì. Tôi phải tính đến chuyện lần sau để người khác đàm phán với ông, tôi với ông không đàm phán với nhau nữa”.
Kể cũng lạ, đi đàm phán với đối phương là giáo sư Đại học Harvard lừng danh mà Lê Đức Thọ nhiều khi ứng xử như với cán bộ của mình, nghĩa là tiếng oang oang, chỉ mặt lên tay, thậm chí còn nói thẳng ra rằng Kissinger là kẻ nói láo!
Một hôm, trước bữa nghỉ ăn trưa, Kissinger nói với Lê Đức Thọ:
- Hiện giờ ông cố vấn đàm phán với tôi thì ông nói như mắng tôi; sau này kết thúc đàm phán, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình rồi, thì ông mắng ai?”.
Tóm lại, Bên Thắng cuộc là cuốn sách được Huy Đức viết rất kỳ công, chi li, nhưng những cái bình thường thì đều đã được đăng tải trên sách báo chính thống, còn những cái khác thường thì cũng đã đăng tải trên mạng. Riêng tôi thì còn biết hơn nhiều lần kể cả số lượng cũng như độ ‘ghê gớm” của những tư liệu, quan trọng là phải biết có cần viết ra hay không mà thôi. Chỉ có điều đặc biệt là Đức khoe do công việc nên đã được gặp và phỏng vấn nhiều nhà lãnh đạo và những cán bộ cao cấp, đảm bảo tính chính xác của thông tin, bởi đều là những chuyện người thật việc thật. Nhưng như tôi đã viết, dù đúng là chuyện người thật việc thật, nhưng nếu chỉ là cái nhìn chủ quan, phiến diện, cục bộ thì chỉ là những mẩu sự thật chứ chưa phải là sự thật. Mà Lịch sử lại cần phải được viết bởi sự minh triết để có thể bao quát thấu suốt, viết ra được bản chất sâu xa nhất của các sự kiện, để đời sau rút ra được những bài học bổ ích. Trong khi đó Bên thắng cuộc lại chỉ xoáy vào cái xấu, cái yếu kém, lại được nhìn nhận bằng một cái tâm tối trí thấp, nên cái mà Huy Đức viết ra không phải là lịch sử với ý nghĩa cao quý nhất của nó mà chỉ là những ghi chép sai lạc. Theo tôi, đây là cuốn sách rất nguy hiểm bởi cái vẻ khách quan, và thái độ điềm tĩnh khi liệt kê chi li các vụ việc; người có thành kiến, người ít hiểu biết và nhất là lớp trẻ rất dễ bị dẫn dắt để tin đó là sự thật!
Với những Chỉ thị về việc “Nói và viết những vấn đề liên quan đến lịch sử và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”, chắc chắn Huy Đức đã vi phạm. Phải chăng Huy Đức không sợ vì đã noi theo Herostratos (‘Ηρόστρατος), một thanh niên thời cổ đại, hy vọng sẽ trở nên nổi tiếng đã phóng hỏa đốt Đền thờ thần Artemis? Chắc không phải vậy, mà Huy Đức chỉ noi theo một số người ở chính nước ta đã nổi danh bằng cách nói ngược. Điển hình như bà Dương Thu Hương mà Huy Đức đã coi như thần tượng từng nói là đã khóc như cha chết trong ngày giải phóng vì thấy đội quân chiến thắng của mình là đội quân man rợ. Có điều bà này cũng xạo, cũng là kẻ như các cụ nói là lá mặt lá trái, cơ hội, vì thực tế, ngày mới giải phóng bà ta không "khóc" mà đã viết truyện “Loài hoa biến sắc” cho “nền văn minh” của SG, cái  “nền văn minh” đã làm lóa mắt Đức đó, chỉ là “Một lớp giấy trên chiếc rọ làm hình nhân bị xé rách. Một lớp váng dầu ngũ sắc bị khuấy tan trên mặt nước tù” mà thôi! 
Cuốn Bên thắng cuộc còn rất nhiều vấn đề, nếu còn hứng viết, tôi sẽ viết tiếp.
TPHCM
24-12-2012
ĐÔNG LA