Thứ Tư, ngày 23 tháng 7 năm 2014

Phiếu chuyển đơn tới Thanh tra Quốc phòng Bộ Quốc phòng



*Hôm qua Viện Tiềm năng lại nhờ tôi chuyển lời mời cô Hòa về Viện để gặp nhà báo của Pháp, tiếc là đêm qua cô còn ở trong rừng Nghê An tìm mộ ông nội của hai chi em facebooker
Hường Thu Nguyễn, Nguyễn Thúy Huyền . Đây là lời Huyền kể: "Đây là chiếc tẩu khi mất ong nội toi da mang theo. Truoc khi lấy mộ cô Vũ Thị Hòa đã miêu tả giống cây giềng này. Cám ơn cô. Adidaphat":
*Cô Vũ Thị Hòa vừa gởi cho tôi và nhờ đăng Phiếu chuyển đơn của Viện Kiểm sát Quân sự Quân khu 7 gởi tới Thanh tra Quốc phòng Bộ Quốc phòng. Vừa rồi cô có gởi đơn kiện Thanh tra Quốc phòng QK7 vi phạm bộ luật hình sự về giải quyết tố cáo, đồng thời cô cũng tố cáo Cục Chính trị QK7 vi phạm Bộ luật hình sự về tội vu khống cô. Như vậy đơn tố cáo của cô đã được xem xét. Nhưng cô gởi cho Cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát QK7, chắc vì ngang cấp nên họ đã chuyển đơn của cô lên cấp cao hơn để giải quyết cho đúng luật. Cô Vũ Thị Hòa xin gởi lời cảm ơn đến Viện Kiểm sát Quân sự QK7 đã nhanh chóng xem xét và thông báo cách giải quyết đúng luật đơn tố cáo của cô.

 

Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

VỀ CHỦ CHƯƠNG "1 kỳ thi quốc gia"?


Cần thay máu nền giáo dục
 
 Sáng nay vô VietnamNet lại gặp ngay hai tư duy “củ chuối” bàn về chủ trương Tổ chức một kỳ thi quốc gia ngay từ 2015 của ngành giáo dục: GS Nguyễn Minh Thuyết và TS Nguyễn Thị Phương Anh

Khi được hỏi, ông Thuyết trả lời: “Các bài thi trong kỳ thi chung sẽ không kiểm tra kiến thức, kỹ năng từng môn riêng rẽ mà là bài thi liên môn, ví dụ: bài thi các môn khoa học tự nhiên, trong đó có câu hỏi riêng về kiến thức lý, hóa, sinh và những câu hỏi tổng hợp kiến thức, kỹ năng từ cả 3 môn để đánh giá năng lực tổng hợp của thí sinh”.

Nói như vậy là nói ngược. Khi nền khoa học công nghệ càng phát triển thì càng chuyên biệt hóa. Xã hội chúng ta cũng lại đang có cái tình trạng có những tên tuổi cái gì cũng biết nhưng lại không biết gì cả. Như “Nhà sử học” Dương Trung Quốc từng nói: “theo Hiệp định Genève thì lãnh thổ nào của Việt Nam ở sau vĩ tuyến 17 thì đều thuộc quyền quản lý Việt Nam Cộng hòa”. Lẽ ra cái vai ông Quốc đang đóng thì phải giỏi cả về lịch sử lẫn chính trị, nhưng trả lời như trên thì ông ta đúng là không biết gì cả hai. Vừa sai về Hiệp định Genève vừa phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến thống nhất đất nước và cũng đuối lý khi tranh luận với TQ về chủ quyền Hoàng sa, Trường Sa. Còn ông Thuyết, nhớ lại vụ Vinashin ông từng muốn làm chuyện tầy đình, “phong tỏa” quyền lực ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng là GS ngôn ngữ ông lại không hiểu chính xác chữ “thua lỗ”, rồi cho người ta phê phán cái sai của ông là “chụp mũ đại biểu quốc hội”. Chính vậy ông đã bị “đo ván” trên nghị trường và buộc phải thừa nhận: “Thật khó có thể hỏi thêm được Thủ tướng”.

Với cái tư duy “củ chuối” như thế, hôm nay ông cho phải ra đề thi “tổng hợp” ba môn lý, hóa, sinh thì ra đề như thế nào?

Còn TS Nguyễn Thị Phương Anh trong bài “1 kỳ thi quốc gia: "Đừng bàn thêm nữa!" thì cho chỉ cần thi một kỳ thi tốt nghiệp thôi nhưng cũng lại với lý lẽ “củ chuối”. Bởi bà này cho thi như trước đây:  “mục tiêu đào tạo của các trường là khác nhau, vì vậy không thể có một kỳ thi ba chung (chung đề, chung đợt, chung điểm sàn) mà lại có thể phù hợp với tất cả các trường và các đối tượng học sinh khác nhau” mà thay vào đó: “một kỳ thi tốt nghiệp nghiêm túc không phải là không thể làm được”. Các trường khác nhau thi khối khác nhau, các trường đòi hỏi chất lượng khác nhau thì mức điểm đậu khác nhau, sao lại cho là không phù hợp bằng một kỳ tốt nghiệp chung cho tất cả. Đúng là lý sự ngược. Nhớ lại một lần bàn về đa Đảng, bà TS này viết:  “Tôi chưa có thời gian để tìm ra được một đảng của những người hoạt động trong khu vực kinh tế nước ngoài, nhưng giả dụ nếu quả thật là không có thì điều đó cũng chỉ cho thấy hiện nay người ta không có nhu cầu, chứ không có nghĩa là không được phép thành lập một đảng như vậy”. Tôi đã trả lời: “Xin nhớ “đảng” đang bàn ở đây là đảng chính trị, có quyền giành quyền lãnh đạo. Nếu một nước mà dân chủ tới mức cho người nước ngoài thành lập đảng tranh giành quyền lực với người nước mình thì đúng là một nước ngu. Như nước ta nhỏ yếu, nếu cũng cho người Trung Quốc, người Mỹ lập đảng của họ, thì với sức mạnh của họ, trong nháy mắt ta sẽ mất nước. Viết như trên, vị nữ tiến sĩ giáo dục đúng là mất dạy rồi”.

Đất nước ta cần đổi mới, cần lắm, đang đứng trước “nguy cơ tồn vong kia mà”. Nhưng toàn mưu kế “củ chuối” thì đổi đi đâu?

Còn theo ý tôi, để tránh tốn kém thì cái cần bỏ là kỳ thi tốt nghiệp phổ thông như đã có chứ không phải kỳ thi đại học. Nhưng không bỏ bẳn mà nên coi kỳ thi cuối năm cuối cấp III chính là kỳ thi tốt nghiệp, chỉ khác là dùng đề chung. Bởi bản thân chữ phổ thông mang tính đại trà, tương đối, nên trình độ phổ thông cũng không cần phải xét nét quá chặt chẽ. Chính việc vào học các trường đại học mang tính nghề nghiệp, chuyên nghiệp, yêu cầu về trình độ và thiên hướng cá nhân khác nhau, thì mới phải cần phân chia khác nhau. Vì vậy nên để cho các trường tùy mục tiêu đào tạo ra ai của mình tự tuyển sinh, còn các thí sinh thì tùy khả năng và thiên hướng của chính mình sẽ chọn trường nào. Còn nói chung về nền giáo dục VN tôi thấy là cần phải thay đổi cả nền tảng triết lý giáo dục, như một bài tôi viết là cần phải “thay máu”. Một lần đăng, có bạn đọc là sĩ quan hỏi: “không biết có thấu tai mắt của mấy vị lãnh đạo giáo dục chưa?”.  Vậy hôm nay lại đăng lại:

Là con dân nước Việt với 4000 năm văn hiến và một lịch sử oai hùng có ai không đau lòng khi đọc những dòng này: “ theo báo cáo của hai tác giả Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson thuộc ĐH Harvard với tựa đề: Giáo dục đại học - cao đẳng Việt Nam: Khủng hoảng và đối phó cho biết: Số bằng sáng chế được cấp năm 2006: Hàn Quốc: 102.633;Trung Quốc: 26.292; Singapore: 995; Thailand: 158; Malaysia:147; Philippines: 76; Việt Nam: 0”.  Và ông đại sứ Nhật Bản phát biểu tại buổi Hội thảo về “phát triển, hợp tác kinh tế Việt- Nhật về sản xuất các thiết bị phụ trợ ” ngày 03-04/4/2009 tại Hà Nội rằng:"Việt Nam các bạn mới sản xuất được thùng carton".

Trong các nguyên nhân thì nguyên nhân đầu tiên và cơ bản nhất là do nền giáo dục của chúng ta yếu kém. Sau đây là bài Cần thay máu nền giáo dục tôi viết về giáo dục đã lâu, hôm nay xin đăng lại: 

Kỳ thi tuyển sinh đại học những năm vừa qua, quá nhiều học sinh đạt điểm kém. Theo thống kê của Bộ GD-ĐT ở một kỳ thi, trong số 898.166 thí sinh thi vào 97 trường theo đề thi chung của Bộ ở 4 khối thi A, B, C, D chỉ có 161.615 em đạt điểm từ 15 trở lên (17,99%); gần 300.000 (1/3) em có điểm 3 bài thi từ 6 trở xuống; số thí sinh đạt điểm 0 cả ba môn thi có 6.233!

Điều này là kết quả tất yếu của sự học tủ, học lệch, học vẹt. Đề thi ra đúng cái mình được dạy, được luyện, được “mớm” cho thì làm được, còn không thì bó tay. Nhưng tại sao lại có tình trạng học tủ, học lệch? Bởi khả năng tiếp nhận tri thức trong khoảng thời gian nhất định của con người chỉ có hạn. Với mục tiêu tốt đẹp là đào tạo con người toàn diện, nền giáo dục của ta coi trọng các môn học như nhau đối với mọi học sinh; rồi trong mỗi môn học, chúng ta cũng muốn truyền thụ thật sâu, thật rộng kiến thức cơ bản cho học sinh. Và như vậy tất dẫn đến sự quá tải, học sinh không thể gánh vác nổi cái mong muốn tốt đẹp đó nên phải tự cứu lấy mình, bằng cách tự phân ra các môn chính phụ, những vấn đề chính phụ trong mỗi môn, nhằm giành thời gian đào sâu hơn những vấn đề có thể phải đối mặt trong kỳ thi vào đại học hóc búa, phải học tủ, học lệch, phải bám vào các lớp luyện thi và trông cậy vào may rủi khi đi thi.

Một vấn đề nữa cũng tạo nên sự quá tải đó là nền giáo dục của chúng ta đã coi tất cả các môn tự nhiên cũng như xã hội quan trọng như nhau đối với mọi học sinh. Những học sinh thiên về toán lý hóa có muốn cũng không đủ thời gian đi sâu vào các môn xã hội. Tri thức thì mênh mông, khả năng tiếp thu giới hạn, vậy đòi hỏi quá cao là không thể. Có lẽ ta nên coi trọng các môn như nhau nhưng yêu cầu đối với các đối tượng học sinh khác nhau thì khác nhau. Ví dụ như môn lịch sử, nếu học sinh có mục tiêu thi vào các ngành khoa học tự nhiên thì không thể có đủ thời gian để thuộc tất cả ngày giờ các trận đánh, bao nhiêu quân địch bị chết trong mỗi trận… đi thi bị điểm thấp và ảnh hưởng đến kết quả học tập, tất sẽ chán ghét môn này. Như vậy, việc ép học môn sử không thể làm cho con cháu chúng ta thêm yêu đất nước được. Vậy yêu cầu về môn sử đối với học sinh thiên về khối A không thể giống như với học sinh có ước muốn theo học ngành này. Vậy việc chia ban học là cần thiết. Nhưng làm sao giải được bài toán về đào tạo nhân cách toàn diện. Theo tôi, chính sự quyến rũ của những bài giảng khiến cho học sinh yêu những vấn đề trong đó chứ không phải do những biện pháp cưỡng chế bằng thi cử. Không ai bắt con em chúng ta học sử Trung Quốc nhưng phim lịch sử Trung Quốc hay quá nên chúng hiểu biết lịch sử Trung Quốc hơn sử nước ta. Cần dạy cho học sinh khối A hiểu biết về lịch sử, khơi dạy tình yêu bằng cách giảng dạy những ý nghĩa sâu sắc của sự kiện, chứ không phải buộc học sinh phải thuộc những sự kiện như những nhà nghiên cứu lịch sử.

Tất cả những vấn nạn trên đã vẽ ra thực trạng nền giáo dục của chúng ta: nặng nề, cồng kềnh, tốn kém nhưng lại kém hiệu quả; chúng chỉ ra cho mọi người thấy cái nghịch lý: con cháu chúng ta mang “gen Việt” thông minh (giải quốc tế, du học sinh, con em Việt kiều học giỏi) nhưng học nhiều hơn lại tiếp thu ít hơn, khả năng vào đời kém hơn so với những nước phát triển. Đây là bài toán lớn nhất mà ngành giáo dục cần phải giải.
      Theo tôi trước hết cần phải thay đổi tư tưởng cơ bản của nền giáo dục nước ta, đó là cần phải thay đổi phương pháp truyền đạt tri thức và cách đánh giá khả năng của học sinh. Cần phải làm sao cho học sinh học để hiểu biết, thu nhận tri thức chứ không phải học để đối phó với thi cử; cần trao cho các em phương pháp tiếp cận và khám phá tri thức làm cơ sở sau này ra đời vận dụng chứ không phải học thuộc tri thức. Bởi tri thức mênh mông và sản sinh không ngừng, không ai có thể nhồi nhét hết được. Lẽ tự nhiên, nếu học thuộc người ta chỉ có thể thuộc được lượng nhỏ, còn nắm được cách khám phá, người ta sẽ hiểu biết nhiều lần hơn. Giống như trao cho các em cái cần câu, chỉ cách câu, các em sẽ bắt được nhiều cá. Song song với thay đổi cách truyền đạt cần phải thay đổi cách đánh giá. Cần phải ra đề thi sao đó để đánh giá sự hiểu biết, khả năng suy luận, phương pháp giải quyết những vấn đề chứ không phải kiểm tra trí nhớ, khả năng thuộc bài. Làm sao mỗi đề thi như một công trình nhỏ, các em hoàn toàn có thể mang tài liệu vào thực hiện công trình ấy y như sau này các em bước vào đời làm việc vậy. Tại sao người lớn chúng ta cần “phao” khi làm việc, chúng ta không cần phải bỏ sức một cách vô lý để học thuộc những điều mà chỉ cần tra tài liệu và bấm chuột máy tính là có thể biết tất cả. Có người bạn chở con đi thi, đứa con hỏi: “Ba ơi, Xuân Diệu sinh năm nào?”/ “Xuân Diệu sinh năm nào thì kệ ông ấy, con hỏi làm gì?”/ “Ba chả biết gì cả, con đi thi mà không thuộc là rớt đó”. Ngay bản thân tôi cũng từng có đứa con gái thi khối D, khi làm văn xong cháu nói: “Ba ơi con bị tủ đè rồi”/ “Nghĩa là sao?”/ “Học lệch tủ thì bị đè chớ sao, con không học bài “Sóng”/ “Con cứ đọc hiểu kỹ bài thơ rồi tự làm cũng được chớ cần gì phải thuộc”/ “Người ta có in nó ra đâu mà đọc, nhưng con cũng có nhớ và làm được, chỉ sợ không đúng đáp án thôi”. Bình thơ mà cũng có đáp án, thế đấy! Cũng may là cháu giỏi văn và thày chấm cũng đánh giá đúng phần “tự làm” của cháu. Với kiểu ra đề thi đã và đang sử dụng ở ta thường không nhắm vào sự hiểu biết bản chất tri thức mà chủ yếu nhắm vào những kỹ xảo tính toán (với các môn tự nhiên), khả năng học thuộc lòng (với các môn xã hội). Học sinh chỉ cần nhầm ngày sinh tác giả, quên tên một tác phẩm, viết không đúng chiều dài một con sông, quên ngày giờ một trận đánh, không thuộc một công thức tính toán… là không có điểm. Trong khi cái sự “thuộc” này chỉ là một phần rất nhỏ để đánh giá khả năng của một con người. Trái lại nó lại ngốn số lượng thời gian rất lớn của học trò, khiến cho con cháu chúng ta tuổi hồn nhiên mà tối ngày bù đầu với bài vở. Sự đánh giá khả năng của học sinh bằng sự thuộc bài như vậy là phi lý và phản khoa học nhất của nền giáo dục VN. Nó phi lý bởi chỉ cần tra tài liệu là biết cần gì phải thuộc; nó phản khoa học bởi để giải quyết một vấn đề có hiệu quả cần phải hiểu biết sâu sộng chứ không cần phải thuộc, mà để thuộc tất không thể có thời gian để hiểu biết sâu rộng.
     Nếu thay đổi được cách dạy và cách thi cử như trên tất cả những vấn nạn về quá tải, về luyện thi, về quay cóp… sẽ tự nhiên biến mất mà không cần một biện pháp tốn kém nào cả; ngược lại với chuyện học nhiều hiểu ít trước đây, học sinh ta sẽ học ít hiểu nhiều, chất lượng giáo dục sẽ tăng lên. Tất nhiên đây là một việc rất khó, phải biến đổi cả một hệ thống, gần như thay máu cả một nền giáo dục, nên phải có một quá trình, không thể ngày một ngày hai mà đuợc.
Đã có nhiều nhà khoa học, học giả phân tích phương pháp phi lý, phản khoa học của nền giáo dục VN.
     Đó là phương pháp giáo dục thụ động, thầy đọc trò chép, nhồi nhét, học vẹt; đó là mặt tiêu cực của tâm lý Á Đông coi thầy như cha, thầy nói trò phải nghe, thầy dậy gì trò được biết nấy, phương pháp lấy thầy làm trọng tâm … Tất cả đã tiêu diệt khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo của học sinh. Vậy điều cần thiết là phải làm ngược lại theo phương pháp giáo dục tiên tiến của những nước phát triển. Một tác giả ở Úc cho biết phương pháp của họ là lấy trò làm trọng tâm (learner based approach). Khi học, trò tự do thảo luận với sự hỗ trợ tối đa của thầy. Một du học sinh ở Anh cho biết trước khi đến Anh: “Trước một sự kiện, phản xạ tự nhiên của tôi là What, Who và cũng chỉ dừng ở đó. Nhưng với người Anh thì khác. Tiếp ngay sau What? Who? sẽ là Why? Đối với họ, câu hỏi Ai? Cái gì? rất quan trọng, nhưng câu hỏi Tại sao? còn quan trọng hơn nhiều. Câu hỏi Tại sao dẫn ta đến nguyên nhân, bài học mà nhờ đó lần sau ta sẽ thành công lớn hơn hay tránh được sai lầm đã mắc”. Một giáo viên ở Mỹ cho biết ngay từ bậc tiểu học đã chú trọng đến lối suy nghĩ phân tích (critical thinking), tạo cho các em chủ động. Khi học về số bình quân thì các em tự đi hỏi về chiều cao của bạn học; ăn những viên kẹo sô-cô-la M&M đủ mầu cũng cho các em về khái niệm xác xuất thống kê; để tìm tỷ lệ ô-xy trong không khí thì các em làm ngay thí nghiệm dùng nước, đèn cầy, lọ thủy tinh… rồi tính toán. Một tác giả khác cho biết một em gái 12 tuổi chọn thuyết trình về đề tài “Hồng quân Trung Quốc”. Em đã đến thư viện tìm đọc các sách báo và xem tất cả cuốn băng video nói về hồng quân. Sau mấy tuần lễ miệt mài như thế, em kết luận : “Sách báo, phim ảnh nói về đề tài này không thống nhất gì cả”. Em muốn gặp và phỏng vấn trực tiếp một chiến sĩ hồng quân thứ thiệt”.
      Cũng có nhiều ý kiến về sách giáo khoa, cho nội dung SGK vừa nặng lại vừa yếu, đầy tính ''hàn lâm'' nhưng ít tính ứng dụng, thực hành, không hỗ trợ tốt cho học sinh phát triển năng lực sáng tạo. Sự biên soạn sách giáo khoa vô cùng quan trọng. Một cuốn sách được soạn tốt, đọc đến đâu hiểu đến đấy thì việc học nhiều không phải là gánh nặng mà là sự thú vị. Trái lại, một cuốn sách soạn dở, người đọc không hiểu, mà khi đã không hiểu thì dù có học ít bao nhiêu cũng sẽ là quá tải. Sự khó hiểu đối với tri thức không chỉ vì nó cao sâu mà còn vì sự truyền đạt. Một vấn đề hóc búa, có khi ta không hiểu một tí gì khi đọc ở cuốn sách này nhưng lại hoàn toàn có thể hiểu khi đọc một cuốn sách khác. Vậy việc biên soạn sách giáo khoa cần phải giao cho những người có trình độ cao, có kinh nhiệm giảng dạy, có khả năng diễn đạt mạch lạc, phải hiểu được khả năng tiếp nhận của học sinh; cần chú ý sự giải thích, tránh nói tắt, làm sao học sinh khá trở lên có thể tự hiểu, người thầy chỉ cần hỗ trợ. Cũng giáo viên ở Mỹ đã nhắc ở trên cho biết: “Một cuốn sách giáo khoa ở Hoa Kỳ rất đầy đủ. Sách các môn chính của bậc trung học như Anh ngữ, toán, khoa học thực nghiệm, khoa học xã hội thường dầy trên 500 trang vì ngoài phần giảng giải kiến thức chính, còn phần bài tập, ôn luyện đều có đủ trình độ từ dễ đến khó để học sinh nào muốn học hỏi thêm có thể dùng sách nhà trường cung cấp mà không phải mua thêm sách ở ngoài”.  

    Như vậy giảm tải là giảm sự nhồi nhét, học vẹt, thay đổi phương pháp đánh giá dẫn đến lối học vẹt như thế, chứ không phải là giảm gọn giáo trình. Nếu chỉ cắt gọt một cách cơ học đơn giản là đã chủ động tạo ra những lỗ hổng kiến thức, trong khi sự phát triển của tri thức là một hành trình liên tục. Tôi cũng đã viết, người ta không thể chỉ biết cái cũ mà không biết cái mới,  bởi cái cũ hôm qua là đúng thì hôm nay không còn hoàn toàn đúng nữa; nhưng người ta cũng không thể chỉ biết có cái mới, bởi để hiểu được cái mới người ta cần phải biết cái cũ. Có tác giả cũng chỉ ra sự phi lý không chỉ ở chuyện học vẹt mà còn ở sự lặp lại vô bổ. Các chương trình học cứ lặp lại hoài, như môn sử: lớp 4, lớp 5 học rồi, đến lớp 6, 7, 8, 9 lại học lại và đến lớp 10, 11, 12 học lại lần nữa, lên đại học học tiếp. Sự lặp lại vừa tốn thời gian vừa tạo nhàm chán nên không hiệu quả. Kết quả thi môn sử vào đại học thấp nhất vừa qua là dẫn chứng cụ thể nhất.
      Và cuối cùng để có trò giỏi không thể không có thầy giỏi. Theo giáo sư Hoàng Tụy cần phải đổi mới các trường sư phạm, ở các nước, chỉ giáo viên mẫu giáo, tiểu học mới cần được đào tạo kỹ về nghiệp vụ sư phạm, còn giáo viên THCS và THPT trở lên thì trước hết phải được đào tạo vững vàng về chuyên môn khoa học rồi mới bổ túc kiến thức và kỹ năng sư phạm. Ông cũng đề nghị cải cách chế độ lương cho giáo viên và có một ý kiến mang tính chiến lược: “Thú thật, tôi chưa hiểu nổi vì sao ta có thể bỏ ra 3-4 trăm triệu đô la cho SEA games để tạo một bứt phá về thể thao mà chưa bao giờ dám chi một khoản tiền ngang như thế để tạo một bứt phá về giáo dục…”./.
2006-2009

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7 năm 2014

Thằng bạn thân (Truyện ngắn)

Thằng bạn thân

Trong truyện trước tôi có kể về thằng bạn thân học cấp III tên là Hưng, từng làm chủ tịch huyện Thanh Miện 2 nhiệm kỳ, nhiệm kỳ hai dở dang vì bị một thằng cũng học cùng lớp “chơi” cho mất chức. Với tôi, thái độ đối với một người nào đó không phụ thuộc vào quyền cao chức trọng hoặc danh tiếng mà phụ thuộc vào chính sự hiểu biết của tôi về người đó. Như đa số dân ta giờ nghe đến cái danh “GS Ngô Bảo Châu” được giải “fiu” thì đều phải thán phục, nhưng tôi có lẽ là người chê Châu nhiều nhất nước VN này. Ví dụ như: “Khi ví Hà Vũ như Kinh Kha  thì với tôi, Châu cũng ngô nghê như thằng trẻ con”; “Trần Mạnh Hảo dốt ngang với GS toán Ngô Bảo Châu về Đạo Phật… Châu không hiểu tí ti gì Đạo Phật và không có tí ti gì Phật tính… về chốn nguồn cội rưng rưng xúc động, lẽ ra Châu phải thông cảm, xót xa cho những cuộc đời bụi bặm, lam lũ thì lại chấp vào “ánh mắt thù địch” và khinh bạc cuộc sống của họ. Tất nhiên cuộc sống của người cầm đồ của một đất nước còn nhiều yếu kém không thể rực rỡ như một vị GS làm thuê cho Pháp, Mỹ được!” Trần Bình Minh đang cho lăng xê chương trình “Giai điệu tự hào” không biết sẽ nghĩ gì về Châu khi biết Châu viết thế này: “...dân tộc Đức là một dân tộc đã trưởng thành… tài sản tâm hồn là ký ức cả vinh quang và nhục nhã… Tại sao không lờ những gì nhục nhã, chỉ lưu lại lại những gì vinh quang, ngọt ngào? Người Đức có lẽ hiểu rất rõ rằng thức ăn cho tâm hồn con người chính là sự thật. Những dân tộc quen nấu sự dối trá cho mình ăn, sẽ dần dần quen với sự bạc nhược, sự đớn hèn của chính mình. Thế nhưng người ta vẫn thích nấu sự dối trá cho mình ăn. Vì sự thật nhiều khi không có lợi, hoặc là cứng quá, không tốt cho lợi”. Chơi chữ chữ “lợi” cũng hóm đấy nhưng tôi đã hỏi Châu là: “Dân tộc nào quen “nấu sự dối trá cho mình ăn”? Nếu không ám chỉ dân tộc Việt thì dẫn ra làm gì?” Chính vì suy nghĩ thế, Châu từng ủng hộ cô sinh Phương Uyên rải truyền đơn và âm mưu đặt bom tượng Bác ngày nào và ủng hộ cô Nhã Thuyên ca ngợi thứ thơ mất dậy, lật đổ gần đây. Trong buổi dự Hội nghị Phê bình lý luận VHNT Trung ương cuối năm qua, tôi nói với anh Vũ Quần Phương: “Anh bảo thằng Văn nhà anh làm toán thôi nhé!”. Vũ Quần Phương: “Anh bảo rồi”.
Ngược lại việc coi GS Châu lừng danh không ra gì tôi lại ca ngợi cô Vũ Thị Hòa, một người phụ nữ mò cua bắt ốc, gần như mới chỉ biết đọc, biết viết, là “nữ thánh”, bởi cô có những khả năng mà đến Einstein sống dậy, “có cho ăn kẹo” cũng không làm được. Tất nhiên với con mắt vô minh phàm trần thì không thể nhận ra được cô là ai mà phải nhìn bằng huệ nhãn. Cũng như tôi rất nể thằng Hưng bạn tôi, một thằng mà cuộc đời không có một sợi may mắn nào, đang học bố bị “kẹp xe” chết bỏ học, động viên đi học tiếp lại đi bộ đội, phục viên về làm anh nông dân chính hiệu. Vậy mà nó tự phấn đấu thành chủ tịch huyện được dân quý, dân yêu. Nhưng thật tiếc, nó vẫn không thể vượt qua được cái tham, cái xấu của người đời, đã bị một thằng bạn “chơi” cho mất chức. Tôi bảo nó: “Mày cứ coi thường chữ nghĩa của tao, tao từng cứu được nhiều người rồi đấy, sao không cho tao biết”; “Cũng định báo cho mày thật, nhưng lại thôi”.
Còn sau đây là mẩu chuyện tôi viết về những kỷ niệm với chính thằng Hưng “chủ tịch huyện” đó. Vì có thêm thắt chút ít phải đổi tên nó đi. Tôi đã in trong cuốn “Những dấu vết không phai”.
 Cuốn sách nhỏ từng được xếp hạng bestseller, làm tôi được mời lên truyền hình cùng Nguyễn Nhật Ánh. Một cô bé trong buổi hội thảo ở thư viện ngoài HN bảo “Tại sao người ta lại có thể viết ra những câu chuyện hay như thế?”; và ngay cả ông nhà văn to Nguyễn Khải cũng bảo: “Tính đọc để đi ngủ mà đọc đi rồi lại phải đọc lại”:
Những năm học cấp III, khi những thằng bạn thân hồi cấp II rớt hết, tôi chỉ có duy nhất một thằng bạn thân. Nó tên là Hân, hơn tôi một tuổi, cao to hơn, là một thằng rất dễ mến và hay giúp đỡ mọi người. Người nó săn chắc như một khúc tre đực. Nó vừa thông minh vừa khịu khó, nên học giỏi tất cả các môn. Chúng tôi học cùng lớp, nhưng thân nhau thì phải tính từ ngày hôm ấy.
Chiều ấy, lớp tôi tan học rất muộn. Trời đã sậm màu. Mưa xuân lay phay đính triệu triệu hạt kim cương lên tán những cây phi lao, xà cừ trên con đường ngoài cổng trường. Trường chúng tôi ở thị trấn cách làng tôi 8 km. Tôi đi học bằng chiếc xe “trâu” của cha tôi. Xe cao quá, ngồi trên yên thì đạp không tới peđan, nên tôi phải buộc một miếng bao tải lên khung xe để ngồi đạp. Trông buồn cười lắm, lũ bạn chê cười luôn, nhưng tôi biết làm sao được ! Con đường đá, mà nhiều chỗ máy cầy xích làm bật lên lổng chổng, lại xâm xấp nước, trơn tuồn tuột. Vì tay lái chưa được vững nên tôi đã bị ngã, văng xuống mặt đường nhớp nháp. Lũ bạn thấy vậy reo hò ầm ĩ:
- A! Thằng Huy “vồ ếch”! Chúng bay ơi, thằng Huy “vồ ếch”.
Tôi đang nhăn mặt đau điếng, bỗng có một bàn tay rắn chắc kéo tôi đứng dậy. Tôi nhận ra được thằng Hân, lớp trưởng. Nó nói:
- Thôi, mày đi xe tao, để tao đi xe mày cho.
Tôi biết ơn nó vô cùng, nhưng không nói ra lời. Xe của nó là chiếc xe thiếu nhi Đông Đức, rất phù hợp với chiều cao của tôi. Hồi học cấp II, nó vừa học giỏi, vừa ngoan nhất trường, nên đã được trường thưởng cho chiếc xe ấy.
Từ đó, chúng tôi thân nhau. Cả hai đứa cùng học giỏi, lại có cùng những sở thích, nên tình bạn chúng tôi như một mầm cây khỏe mạnh trồng trên một mảnh đất phì nhiêu, mầu mỡ. Ngày ngày đi học tôi ra cổng làng ngồi đợi, khi nó đến, chúng tôi lại đổi xe cho nhau. Cuộc sống tưởng cứ mãi êm đềm trôi như thế. Nào ngờ, một câu chuyện tày trời đã bất thần giáng xuống đầu thằng bạn của tôi.
Buổi học hôm ấy, thằng Hân không đi học, mà cũng không viết giấy xin nghỉ. Nó là lớp trưởng, hơn nữa lại là một thằng luôn chấp hành kỷ luật, nên chuyện này đã làm mọi người rất ngạc nhiên. Tôi nghĩ, chắc nó bị bệnh đột ngột, hoặc gặp chuyện rắc rối gì đó, chứ không bao giờ bình thường mà nó lại nghỉ như vậy. Đám thằng Thọ, thằng Phúc thì nói: “Hôm nay thằng Hân mới lột mặt nạ. Thế mà thầy chủ nhiệm cứ “ca” nó hết lời. Chúng tôi vốn không ưa những thằng này. Thằng Thọ là con ông chủ tịch huyện, rất lười học, oắt con mà đã diện ra phết: nay quần này, mai áo nọ miệng lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc là Điện Biên bao bạc. Hội chúng nó rất ghét hội chúng tôi.
Buổi tan trường hôm ấy, thầy chủ nhiệm lớp nói với tôi:
- Huy về, đến nhà Hân xem tình hình ra sao, mai báo cho thầy biết nhé!


Tôi vâng lời thầy, rồi dắt xe ra về. Đến đầu làng, tôi không rẽ về nhà, mà lại quyết định đến nhà Hân ngay. Làng nó gần làng tôi, nhưng tiện là cùng ở trên một trục đường. Từ ngày hai đứa thân nhau, tôi đã quá quen thuộc với cái làng ấy. Đầu làng có một cây đa rất lớn, buông râu rễ lòng thòng xuống mặt cái giếng làng trong vắt, có phủ những đám bèo ong. Từ cây đa đến nhà nó được nối bằng con đường lát gạch nghiêng, không biết có từ đời nào mà vẫn còn đỏ tươi, chân người, chân trâu đi đã mài bóng mặt gạch. Đến nhà nó, tôi vô cùng sửng sốt khi thấy tụ tập rất đông người, và có rền rĩ những tiếng khóc. Trời đã nhá nhem tối. Sân nhà nó đã được dựng lên một chiếc rạp, sáng trưng ánh đèn măng-sông. Tôi bước vào nhà thì vô cùng bàng hoàng khi thấy ở giữa nhà có kê một chiếc quan tài sơn đỏ. Trên đó, có đặt ảnh bố nó, và chiếc khay để bình hương, cốc nước, và bát cơm cúng… Tôi không tin ở mắt mình nữa. Bố nó mới hơn bốn mươi tuổi, sao đang khỏe mạnh tự dưng lại chết?! Tôi lọt thỏm giữa đám đông bi thương ồn ào, và mãi mới gặp được thằng bạn mình. Nó không khóc, đôi má bầu bĩnh của tuổi mười bảy không thể hốc hác được, nhưng tôi thấy đôi mắt nó trũng xuống, quầng thâm. Thấy tôi, nó chỉ nó có một câu:
- Bố tao bị kẹp xe !
Tôi rất muốn biết ngay sự việc cụ thể ra sao, nhưng hỏi chuyện lúc đó thật không tế nhị một chút nào nên đành im lặng. Mấy hôm sau đó, tôi mới được biết: bố nó đi Hải Dương, một chiếc xe chở nứa chạy trước, đột nhiên để rơi xuống một cây ngáng đường đã làm ông vấp ngã, rồi phía sau, một chiếc Ifa do một tay lái say rượu, đã chồm lên !...
Sau đó thằng Hân làm đơn xin nghỉ học. Nó là con cả, sau nó còn những 5 đứa em nữa, nên mẹ nó không thể một mình làm đủ công điểm nuôi anh em chúng nó được. Cả lớp chúng tôi sửng sốt, riêng tôi thì tiếc ngơ ngẩn. Tôi cảm thấy mình vừa để mất một cái gì đó rất gần gũi, rất thiêng liêng. Thầy chủ nhiệm đã đến tận nhà Hân vận động. Nhưng quả thực, hoàn cảnh nhà nó quá éo le, nên nó không thể tiếp tục đi học được. Cuối cùng, thầy đã tìm được một giải pháp thích hợp: thầy đã đề nghị nhà trường cấp học bổng cho Hân, đồng thời làm đơn xin địa phương trợ cấp cho nhà Hân, để một học sinh có nhiều triển vọng, được tiếp tục đi học. Mọi việc đã đạt được kết quả như ý. Hân lại tiếp tục đến lớp. Năm ấy nó đã tỏ ra đặc biệt xuất sắc. Trong kỳ thi học sinh giỏi toán và văn toàn tỉnh, nó đã đoạt được cả hai giải: giải nhất toán, và giải nhì văn. Nó đã không phụ công lao của thầy cô, bạn bè, và dân làng.
Nhưng đường học tập của thằng bạn tôi quả là khấp khểnh. Vào đầu năm lớp mười, trong một đợt khám nghĩa vụ quân sự, nó lại trúng tuyển vào bộ đội đặc công. Nó khỏe nhất lớp thì ai cũng biết, nhưng việc nó trúng tuyển bộ đội đặc công vẫn làm cho bọn con trai chúng tôi ngạc nhiên và thán phục. Một lần nữa, thầy chủ nhiệm lại lên huyện đội đề nghị hoãn nghĩa vụ quân sự cho Hân. Huyện đội cũng đã chấp nhận. Nhưng lần này thì nó cứ khăng khăng giữ ý định của mình. Tôi cũng đồng ý với nó, vì trúng tuyển vào đặc công có phải là chuyện thường đâu! Cứ xem mấy ông đặc công nện mấy thằng ma cà bông thì thật sướng mắt. Thế rồi, nó lên đường, và được chuyển đến Hà Tây tập luyện. Ở đó, nó viết thư về cho tôi. Nó kể những buổi mặc áo trấn thủ, mang rơm rạ ra trải ở đồi cỏ để tập võ thuật, những đêm cởi trần, bôi đen người, tập rà mìn, cắt rào, chui vào căn cứ của địch, và cả những lần quại nhau với những thằng “tóc dài, quần loe” trêu gái nữa… Đọc thư nó mà tôi thấy máu trong người cứ sôi lên. Tôi nhìn không chán các bức ảnh, và thèm khát cái vẻ cương nghị, dạn dầy của nó trong bộ quân phục. Nhưng tôi biết làm thế nào được khi mình chưa đầy mười bảy tuổi và mới nặng có ba tám ký rưỡi.
Sau mười tám tháng tập luyện, nó được vào chiến trường, rồi từ đó, chúng tôi đã bặt tin nhau.
Sau này, tôi cũng đã vào chiến trường, đã đi học đại học, và đã đi làm, trong tôi vẫn còn nguyên vẹn những kỷ niệm sâu đậm về thằng bạn ấy, thế nhưng tôi vẫn không biết nó đã ra sao. Đi hỏi thăm thì thú thực, tôi lại ngại. Tôi đã xây dựng gia đình và trở thành người Sài Gòn. Mãi đến kỳ ra Hà Nội vừa rồi…
Tôi đã được bạn bè là giáo viên của một trường đại học mời dự một buổi trình bầy một đề tài thú vị có liên quan đến công việc nghiên cứu của tôi ở Viện Dược: “Chiết xuất diosgenin từ cây mía dò”. Tất nhiên mới ở cấp độ định tính, tìm hiểu lý thuyết. Diosgenin là một chất thiên nhiên có bộ khung steroid đã được dùng làm nguyên liệu để bán tổng hợp các hooc-môn và thuốc chống viêm họ steroid. Đến giờ giải lao, tôi đã tìm gặp người trình bầy, không ngờ anh ta lại ôm chầm lấy mình:
- Có phải Huy không! Có phải mày không, Huy?!
- Ớ, Ớ…
Tôi kêu lên ngạc nhiên, và lục lọi nhanh trong ký ức những guơng mặt, những vóc dáng. Tôi thấy đúng là thằng Hân, nhưng sao nó lại bé tẹo như thế! Tôi kêu lên:
- Hân! Có phải Hân không ?!
Đúng là nó, và thế là chúng tôi cứ ôm riết lấy nhau, mặc cho mọi người xung quanh rất đỗi ngạc nhiên. Sau hơn chục năm sau giải phóng đầy khó khăn, ai cũng lo mưu sinh, nên nay mới gặp lại thằng bạn. Xưa nó lực lưỡng, to gấp rưỡi tôi, không ngờ nay lại thấp hơn tôi đến nửa cái đầu. Chúng tôi tay bắt mặt mừng, hỏi nhau không biết bao nhiêu là chuyện.
Chiều ấy, chúng tôi đã rủ nhau ra hồ Gươm để trò chuyện. Tôi được biết Hân đã bị thương ở mạng sườn, hiện đang là chủ tịch xã ở quê, một xã đứng đầu huyện về nhiều mặt. Tuy đã về với cày cuốc, nhưng niềm say mê khoa học vẫn không tắt trong trái tim Hân, Hân đã xin học hệ không chính quy và say mê nghiên cứu, tìm hiểu, nhất là lĩnh vực cây con làm thuốc, những mong áp dụng được ở quê. Bởi vậy mới có ngày hôm nay. Chúng tôi mê mải nói với nhau bao nhiêu là chuyện, lục bới từng kỷ niệm… quên hết mọi thứ xung quanh. Bỗng chúng tôi chợt nghe thấy tiếng chuông đồng hồ trên nhà bưu điện vang lên. Tôi dõi nhìn một cách vô định vào mặt hồ xanh ngắt, có bóng mây trắng lững thững trôi. Thời gian cứ bình thản qua đi và đặt ra cho mỗi con người bao thử thách. Tôi nắm lấy bàn tay sần sùi, chai sạn của Hân và thấy xúc động. Trước đây, tôi đã luôn khâm phục Hân về sức khỏe, về lực học, thì giờ đây, khi tôi đã cao to hơn, đã có trình độ cao hơn, trong lòng tôi vẫn còn nguyên vẹn niềm cảm phục trước cái nghị lực sắt đá của người bạn, mà cuộc đời có quá nhiều trắc trở này.
 1995

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2014

TÌM QUÊ

Tìm quê

-Alô, chào anh Đông La! Em đây!
-Biết rồi!
Cái bà “em” này hình như hơn tuổi tôi, nhưng đàn bà thích trẻ thì tôi cũng chiều họ. Trông bà “em” ôm ốm mà gần đây tôi mới biết cũng là thượng tá công an, còn chồnng là đại tá bác sĩ.
-Anh ơi gần đây cô có điện thoại cho anh không?
-Gần đây thì có nhưng mấy ngày hôm nay thì không.
Tôi định nói, chỉ gặp chuyện buồn, chuyện nguy hiểm thì cô mới gọi cho tôi thôi còn hình như nhà cô đang có chuyện vui, chuyện “tơ hồng”, nên cô không gọi, tôi đang “bực cả mình đây”, nhưng lại thôi. Tôi tiếp:
-Từ ngày cô đi họp, được mời lên bàn đầu. Giờ cô oai lắm rồi! Không cần tôi nữa đâu!
            -Ông cụ nhà em bệnh nặng, em muốn hỏi cô xem thế nào. Còn cô được như vậy thì cũng mừng cho cô.
Chồng là đại tá bác sĩ mà vẫn muốn hỏi cô chuyện bố bệnh như thế đấy! Còn những bài viết của tôi quả thật không chỉ thấu tới triều đình mà còn thấu đến tận cả thiên đình rồi. Vừa rồi anh Đông ở Biên Hòa sau khi đọc bài tôi viết về vụ quy tập HCLS ở Cần Lê đã gọi cho tôi rồi chuyển máy cho bác Hồ Thanh Điền, cựu Bí thư Đảng ủy Công an Đồng Nai, bác khen hết lời, bảo tôi viết với lý lẽ như vậy thì rõ ràng quá không còn gì phải nói nữa.
(Cô Hòa, bác Điền, tôi và anh Đông)
            Bây giờ ai có lương tri tất sẽ phải hiểu sự thật và khả năng của cô Hòa. Bọn rắn độc như Thu Uyên có muốn hại cô cũng khó, bọn chuột chù (Chu Mộng Long), Huân “chó điên”, Củ Hành thối có láo lếu nữa cũng vô nghĩa. Có lẽ sứ mệnh mà Trời Phật giao cho tôi bảo vệ “nữ thánh” đã hoàn thành.
Chỉ tiếc là hiền tài là nguyên khí của quốc gia, cô Vũ Thị Hòa còn hơn thế, vì cô có khả năng của thần thánh, trường hợp của cô là độc nhất vô nhị nên quốc gia chúng ta còn chưa biết cách đối xử với cô!
Thực ra tôi hoàn toàn toàn không muốn sa lầy vào những chuyện pháp luật và những chuyện mắng mỏ ai mà tôi thích viết về văn chương, khoa học và triết học hơn. Nhưng buồn là cuộc đời lại không bằng phẳng.
Hôm nay tôi lại quay lại chuyện văn chương của mình, muốn kể câu chuyện về gốc tích quê tôi, cái vùng quê hẻo lánh thế vậy mà thuở xưa tổ tiên, cụ kỵ cũng từng theo Trần Hưng Đạo đánh Tầu. Chiến thắng trở về thì sinh cơ lập nghiệp tại đó.
Cái vùng quê mà trong một truyện ngắn tôi đã viết: “Tôi sinh tại một vùng quê, cũng gần Hà Nội thôi, nhưng cứ thấy xa thăm thẳm. Bởi muốn về quê, phải đi qua những con đường huyện, đường thôn chi chít những ổ gà, ổ trâu mà xe chạy trên đó không khác gì chạy dưới ruộng. Quê tôi cũng có mấy ông làm to. Nghe nói tỉnh đã định sửa đường mấy lần để các cụ về thăm quê cho đàng hoàng nhưng cứ chuẩn bị khởi công thì các cụ lại chết!” Đấy là chuyện ngày xưa, nay thì đã có đường nhựa rồi. Còn ý “mấy ông to” tôi viết vì cái Huyện Thanh Miện quê tôi đúng là có mấy ông làm to thật, như ông Phạm Thế Duyệt ở xã Ngô Quyền ngay cạnh làng tôi, xa hơn chút là cụ Nguyễn Lương Bằng ở xã Thanh Tùng. Còn “mấy ông bé hơn chút” thì tôi không để ý. Vì thiên hướng của tôi thích có tài hơn là thích làm to. Khi viết về cô Vũ Thị Hòa tôi mới biết ông Vũ Văn Hiền, Trần Bình Minh thì ra cũng ở Thanh Miện cả. Còn thời buổi thông tin hôm nay, ông Vũ Đức Đam mới lên Phó Thủ tướng quê Thanh Miện thì không muốn biết cũng phải biết. Ông Đam ở xã Ngũ Hùng mà hồi học cấp III Thanh Miện có thằng Lục đang làm ở tỉnh ủy Hải Dương học cùng lớp tôi. Lớp tôi còn có thằng Hưng bạn thân nhất của tôi từng làm chủ tịch huyện 2 khóa, nhưng khóa sau dở dang vì bị một thằng cũng cùng lớp “chơi” cho mất chức! Có chuyện lạ là cái xứ xở “u tì quốc” hẻo lánh ấy không ngờ nay cũng có khu du lịch là Đảo Cò. Nơi đó ngày xưa là một hồ sen mênh mông, giữa hồ có dải đất mà gia đình cô bạn gái thân nhất cũng cùng lớp cấp III của tôi tên là Ê sống trên đó. Nay trở lại, hồ chỉ mênh mông nước, không còn một bông sen nào, hỏi nhà người xưa thì "đã bị giải tỏa”; và cái khác nhất chính là có tràn ngập cò trắng và đủ các loại chim chóc. Tôi đã một lần viết: “Phải tại cả trái đất này đang biến động, chỉ còn quê tôi là đất lành nên chim chóc đã về đậu kín hay không?”
 Cái bài tôi đăng hôm nay là một mẩu trong tập truyện ngắn đã in của tôi. Trong đó tôi có giới thiệu Bản Ngọc phả viết về cụ Thành Hoàng làng tôi. Có điều theo bản Ngọc phả này thì cụ cai quản cả xứ Thanh Miện từ đời Nhà Trần, cụ là một tướng của Trần Hưng Đạo. Còn phía Từ Ô gần quê tôi là đất thuộc con cháu của chính Trần Hưng Đạo. Bản Ngọc phả này tôi đã nhờ nhà thơ, nhà phê bình Hoài Anh rất giỏi về chữ nghĩa xưa dịch, một ông anh rất thân thiết với tôi nay đã mất. Anh là người mà trong giới văn chương gọi là "bách khoa toàn thư", cũng là chắt chít nhà Trần nên từng hỏi tôi "Ông ở Thanh Miện thì có biết Từ Ô không?". Không biết các vùng khác ở huyện tôi có Ngọc Phả thì sẽ thế nào?
Không ngờ lịch sử của một làng quê nhỏ bé cũng mang vóc dáng lịch sử của đất nước, trong đó cũng có chuyện chống cái thằng "Tầu"!

Mỗi lần về thăm quê, tôi lại có cảm giác như phải đi tìm quê trên quê hương của mình. Đó là quê xưa. Ngày ấy, quê hương như một khoảng râm mát yên lành. Mỗi người đi xa trở về ai cũng muốn ngợp vào đó để mà quên đi những chặng đường đời đầy nắng lửa. Quê hương như thơ mộng hơn, thần tiên hơn. Mỗi ngõ nhỏ, mỗi lùm cây, mỗi bờ chuôm, bờ ao… đều có những sự tích, đều có phủ một lớp sương khói vô hình linh thiêng. Đi đêm trẻ con rất sợ ma…
Bây giờ không thế nữa. Quê tôi như đã thị trấn hoá. Các nhà mái ngói, mái bằng đã thay thế những ngôi nhà lợp rạ ngày xưa. Đó là một điều tốt. Có một ai lại không muốn quê mình phát triển? Nhưng có điều, đã có một vẻ trần trụi, xô bồ thay thế cho những gì tươi mát, yên bình ngày xưa. Người ta đã vặt trụi thiên nhiên như vặt trụi đi những kỷ niệm. Nó như là một kết quả của sự cằn cỗi hoá tâm hồn con người. Chỉ còn lại những tham vọng, những ganh đua. Hình như trẻ con bây giờ không còn chơi những trò chơi hồn nhiên thuở nào. Những cây đa um tùm râu rễ như những cây cảnh khổng lồ, tuyệt đẹp không còn; những ao hồ ngát hương sen từng tắm mát tuổi thơ bao thế hệ cũng không còn; lúc nào lòng cũng cạn trơ để người ta lấy đất đóng gạch. Cái sân kho rất rộng thì thành sân phơi gạch lổng chổng, nơi ngày xưa, khi ông trăng tròn xoe đậu trên đầu rặng tre đầu làng, chúng tôi hồi hộp đợi những quả chuối, những múi bưởi của Tết Trung thu. Ngay ngôi chùa làng linh thiêng cũng như co rúm lại. Bởi cả cái khuôn viên mênh mông đã được chia cho dân làng làm nhà. Nơi từng có giếng nước, cây si mà người ta bảo có tổ một con rắn trắng, mào đỏ, dài đến hàng chục mét…
Ngôi chùa vẫn còn đó, sạm mốc, già nua, lặng lẽ trong lãng quên.

***
Còn trẻ, ngườ ta ít nghĩ đến quá khứ. Nhưng càng lớn người ta sẽ càng nghĩ nhiều hơn, nhất là khi những giá trị vật chất không còn làm điên đầu người ta. Người ta nghĩ đến cha ông, đến tổ tiên, và xa hơn, nghĩ đến lịch sử. Đến với lịch sử, ta như được sống một cuộc sống mấy ngàn năm.
Tôi nhớ thấp thoáng, hồi nhỏ ông tôi và mấy ông già thường nói chuyện về một bản ngọc phả gì đó. Còn là trẻ con nên tôi chẳng thấy có gì quý giá. Nhưng khi lớn khôn, tôi rất tiếc. Bởi trong ngọc phả đó đã cất giữ những bí mật của thời gian, một thời gian đã hàng ngàn năm trôi qua nơi quê hương tôi. Mãi vừa rồi, không ngờ một ông già ở làng đã đưa cho tôi bản ngọc phả ấy. Tôi mừng như gặp lại một vật báu. Bản ngọc phả được viết bằng chữ nho trên giấy dó đà úa vàng và sờn mòn theo thời gian. Đó là bản gốc hay bản sao? Nếu là bản sao thì ai sao, sao từ bao giờ? Chắc không ai rõ. Nhưng có lẽ, những điều ghi chép trong đó có thể là sự thât. Bởi nó không phải được các cụ ở làng tự viết ra. Mà nó được môt học giả cách đây hơn 500 năm (đời Hồng Đức, nhà Lê sơ) viết về một khoảnh khắc khác cách đây gần 800 năm (đầu nhà Trần). Nếu đúng vậy, có ai ngờ rằng mảnh đất con con, heo hút này cũng là một chúng nhân; lịch sử oai hùng của một dân tộc cũng đã để lại những dấu vết nơi đây.

***
Bản ngọc phả ấy viết rằng:
“Triều Trần, thời vua Thái Tôn đang lúc thịnh trị, ở động Sài Sơn (Núi Thầy) huyện An Sơn, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây có một nhà họ Hoàng tên Mi, lấy người cùng động là Đỗ Thị làm vợ, duyên cầm sắt không hẹn mà gặp. Trải nhiều đời, lấy nghề thuốc làm điều thiện nhỏ, một mảy may điều ác cũng không làm. Đến vợ chồng Hoàng công, một chút hại người cũng không nghĩ đến, một mảy lợi riêng cũng không để lòng. Địa phương đều ca ngợi là người tốt. Nhưng vợ chồng ông tuổi đã cao mà vẫn chưa có con trai, con gái. Hai người rất buồn. Một hôm, vào ngày húy nhật Tiên Tổ, vợ chồng nhìn nhau mà than rằng: “Tội bất hiếu có ba, không con là lớn nhất, một mai biết cậy ai giỗ chạp Tổ Tiên, trông nom phần mộ?! Chi bằng tán tài làm phúc, cầu có con nối dõi mới thỏa lòng, trời hẳn phù hộ cho”. Nghĩ vậy làm liền, phàm các đền thần, chùa Phật, đều đến quyên cúng, lập đàn cầu đảo thiên địa, chư Phật chứng minh. Ngày thì hương hoa dâng hiến, đêm thì tụng niệm chân kinh, tin rằng người làm điều thiện trời ắt đền đáp. Một ngày khí  trời mát mẻ, vợ chồng ông nằm ở phòng chính, chập chờn thiếp ngủ, ông bỗng mộng thấy một tòa điện vũ nguy nga, trưng bày la liệt những vàng bạc, châu báu, ngọc quý, kỳ trân dị bảo, không thể có ở thế gian. Ông liền lấy trộm một vật kỳ trân giấu trong tay áo, chưa kịp trở ra, thì thấy một quan nhân áo xanh, mũ đỏ nói: “Đây là chốn thâm nghiêm, bảo vật ở Quỳnh cung trên đời, đều có hai viên thư hùng, nay đem viên hùng cho ngươi để làm gia bảo. Ngày sau ắt sinh quý tử”; lại còn đưa tặng một bài thơ. Ông bèn hành lễ, nhận bài thơ, rồi mở ra xem thì thấy có bốn câu:
Kỳ trân bảo vật hứa hoàng gia
Sinh nhất nam hề đích thị kha
Tích thiện chi gia thiên tứ phúc
Ức niên vĩnh viễn đối sơn hà
Ông ghi nhớ chuyện trong mộng. Sau đó thấy ứng nghiệm, Đỗ Thị có mang. Đến ngày 15 tháng 8 năm Kỷ Dậu, giờ Tý, sinh một con trai diện mạo khôi ngô, trắng trẻo, tay dài quá gối, sức vượt hơn người. Được cha mẹ trân quý, nên đặt  là Trân. Ngày tháng thoi đưa, năm ông Trân 11 tuổi thì cha mẹ đều mất. Năm 17 tuổi ông theo học Dương Đường tiên sinh ở thành Thăng Long. Ông vốn thông minh, học được vài năm thì văn chương thấu triệt, võ bị tinh thông; hiểu rộng xưa nay, biết trùm trời đất; phàm kinh sách Nho Phật, không gì là không am tường, địa lý thiên văn đều nắm vững, hành động thì theo lễ, ăn nói thì chọn lời, phóng khoáng có chí lớn hơn người… được thầy hết sức khen ngợi.
Lúc đó Thái Tông hạ chiếu truyền cho các quận huyện đều cử người hiếu liêm, hiền lương phương chính, văn võ kiêm toàn, học vấn sâu rộng, cho lên kinh thành ứng tuyển. Ông Trân nghe được bỗng động chí tang bồng hồ thỉ, liền lên kinh thành ứng thí. Khi bệ kiến đế đình, Thái Tông thấy ông tướng mạo đường đường, uy phong lẫm liệt, văn võ song toàn, thông minh xuất chúng, mới phán rằng: “Trời sinh người hiền phò tá triều đình mà sao ta được khanh quá muộn. Hiện nay quốc gia mới sơ khai, lòng người chưa quy phục, ở một dải Thanh Miện Hải Dương có bọn đạo tặc họp đông, nhân dân nhiều bề khổ cực. Trẫm muốn khanh đến trị nhậm Thanh Miện vài năm, phủ dụ dân tình theo về thánh hóa. Khi đạo tặc dẹp yên sẽ triệu khanh trở về phong cho tước trọng”. Ông phụng mệnh bái tạ vua, đến trị nhậm Thanh Miện. Một hôm ông đi qua địa đầu xã Đông La, thấy địa thế quanh co, rồng bao hổ bọc, các ngôi sao đều chầu về, quang cảnh mới mẻ, đẹp đẽ khác thường, bèn truyền cho binh sĩ và nhân dân thiết lập một cung trong làng, làm chỗ dưỡng nhàn ngày nghỉ. Ông an ủy dân tình, thi nhân bổ đức, trong ba năm mà đạo tặc dẹp yên. Ông cứ mười ngày một lần đi khắp huyện, khuyên dạy việc nông tang và hưng lợi trừ hại, lại có thể lấy nhân nghĩa mà cố kết nhân tâm, lấy hòa nhượng mà hun đúc thành mỹ tục, khiến phong khí xấu vùng Thanh Miện xứ Đông thay đổi hết. Vua nghe tin hạ chiếu thư ban thưởng, triệu về phong làm Xã tắc lệnh chủ chưởng binh nông các sự. Lúc ấy nhà Trần sùng đạo Phật. Ông Trân coi công danh như ngoại vật, không thiết gì danh lợi, hành lễ bái tạ trở về cung Đông La ở. Nhớ cha mẹ, thờ kính thánh thần, ông cho xây chùa Đông La. Một hôm, vào năm Ất Dậu (1285), khi vua Trần Nhân Tông tức vị, ông bỗng nhìn thấy một đám mây đen từ phương Bắc xâm nhập mặt trời, chốc lát trời đất tối tăm, mưa gió, sấm chớp mịt mù, giây lát tự dưng biến mất, trời đất lại phong quang như cũ. Ông biết quốc gia có đại biến, vội chỉnh đốn hành trang chuẩn bị về triều bái mạng. Bỗng sứ thần tới triệu, nói rằng quân Nguyên do hoàng tử Thoát Hoan, các tướng Toa Đô, Ô Mã Nhi, Nguyễn Bá Linh dẫn 50 vạn tinh binh đến xâm lượt, uy thanh chấn động, vua kíp triệu các tướng lĩnh, mưu sĩ hồi trào. Ông phụng mệnh về trào bái tạ vua, rồi cùng các tướng lĩnh, mưu sĩ theo Hưng Đạo Vương đến Vạn Kiếp chống giặc. Với kế vườn không nhà trống, triều đình rút khỏi Thăng Long, đợi thời cơ tiêu diệt giặc, vượt qua bao hiểm nguy, chỉ khoảng 6 tháng. Với những trận quyết định ở Tây Kết chém Toa Đô, cửa Hàm Tử, bến Chương Dương…, quân ta đại thắng. Trấn Nam Vương Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chạy về nước. Khi gia phong tướng sĩ, ông Trân cũng được vua phong làm xã lệnh đại vương, ban cho tiết việt, chung hưởng thái bình. Ông bèn rước sắc trở về cung Đông La, giết trâu mổ bò ăn mừng, khao thưởng nhân dân sĩ tốt.
Tháng 11 Năm Đinh Hợi (1287), Hốt Tất Liệt lại xua hơn 90 vạn quân báo thù. Đại quân lại do Thoát Hoan với hai cánh do Hữu Thừa Trình Bằng Phi và Tham Chính Bột La Hợp Đáp Nhi cùng cánh thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy. Trần Hưng Đạo lại bỏ Vạn Kiếp, cho triều đình rời khỏi Thăng Long, lại chờ thời cơ, đánh phá thuyền lương, rồi đại phá quân Nguyên tại sông Bạch Đằng, bắt sống Ô Mã Nhi. Thiên hạ lại thái bình. Lần này ông Trân cũng có công hiến kế, vì thái tử Nguyên thích ca công người Việt, ông Trân liền bàn mưu rồi trở về Đông La, chọn con trai đẹp, có sức khỏe, dũng cảm địch nổi trăm người. Trong một trận, ông cho họ mặc yếm, đội khăn con gái, giả làm mỹ nữ ca múa, vào trong doanh trại quân Nguyên ca hát. Tướng Nguyên say mê xem ngắm. Quân ta ngoài đánh vào, trong đánh ra thắng to. Ông được Vua viết thủ thư cho được hưởng các khoản sưu dịch của xã Đông La, để làm hương hỏa thờ cúng ông sau này.
Lúc ông hơn 90 tuổi, ông cùng một số người làng Đông La chu du bốn biển, trải khắp núi sông, tản bộ nước non, thăm thú mọi chốn. Một hôm, đến núi Yên Tử, nơi vua Nhân Tông xuất giá đi tu, bỗng thấy mưa gió nghịt trời, ông ở trong đó bàng hoàng tự nhiên mà hóa (ngày 25 tháng chạp). Nhân dân liền làm biểu dâng vua. Vua sai sứ thần đến làm lễ tế, lập miếu ở chỗ hành cung cũ, viết thần hiệu để thờ phụng, lưu truyền hương lửa vạn đại vô cùng.
Khi Lê Lợi dấy binh đánh quân Minh, xưng vương ở Lam Sơn, sai tướng Nguyễn Xí đến hành lễ cầu đảo đại vương, đều có linh ứng. Khi Thái Tổ lên ngôi liền phong tặng mỹ tự Khoát đạt Hồ quốc an dân thượng đẳng phúc thần, sai quân về tế, cho trùng tu miếu điện ở Đông La, để thờ phụng, lưu truyền muôn đời, cùng trời đất trường tồn.
Một đạo sắc phong làm Đương cảnh thành hoàng Xã lệnh Khoát đạt hộ quốc an dân đại vương, cho phép xã Đông La thờ phụng.
Bắt tường khai giờ sinh, giờ hóa và tên húy của ông Trân và cha mẹ, cấm không cho dân phạm húy, cấm mặc quần áo màu đỏ.
Ngày sinh thần, 15 tháng tám, dùng cỗ lợn tế, sau đó có ca hát.
Ngày mồng 1 tháng giêng, phong sắc khai xuân, tổ chức lễ khánh hạ, dùng cỗ bàn, ca hát, hành lễ đến ngày rằm thì dừng.
Ngày thần hóa 25 tháng chạp, dùng cỗ bàn tế.

Ngày lành tháng 11 năm Hồng Đức thứ nhất, hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày lành tháng ba năm Vĩnh Hựu thứ 12, quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền phụng sao”.
***
Tôi mang bản Ngọc phả nhờ ông anh bạn vong niên mà trong giới văn chương coi là “Bách khoa toàn thư” dịch. Xong, tôi mang đến khoe ông anh cùng làng ở trường Tổng hợp. Tôi nói:
- Em đã tra mấy cuốn sách viết về đời nhà Trần sao không thấy mặt mũi ông Trân quê mình đâu cả?
- Chắc tại chức vị và công ông nhỏ nên không được nhắc đến.
- Ông cũng thuộc diện Vua biết mặt Chúa biết tên chứ bộ. Liệu có ai bịa ra chuyện này không?
- Không đâu. Bản viết này đã được truyền lại từ lâu. Nó đâu có giá trị vật chất, các cụ giữ lại chỉ vì lòng thành kính. Chẳng ai lại đi lưu giữ, đi thành kính đối với một điều bịa đặt. Hơn nữa còn có ghi rõ tên tuổi người soạn, người sao, mà cũng khớp với những di tích còn lại. Mỗi một cuộc chiến tranh đã có biết bao anh hùng vô danh. Cũng như mấy ông liệt sĩ ở quê mình, nếu người làng, người xã mà không biết thì bên ngoài ai người ta biết đến?
***
Mai tôi lại về Sài Gòn. Mẹ tôi làm cơm, bà mổ gà rang (nấu) với chuối xanh. Ở quê tôi, chuối xanh thường được dùng nhiều để nấu các món ăn: Chuối xanh nấu ếch, chuối xanh nấu ốc, chuối xanh “rang” cổ cánh gà… Có một tính khoa học trong chuyện nấu nướng này. Nhựa chuối có chất chát là tanin có khả năng làm keo tụ những protid tanh của thực phẩm. Các món ăn quê tôi thường có cái này đi với cái kia. Ví như cà pháo mắm tôm; thịt gà lá chanh; cá rô nấu canh rau ngót; làm chả cá chuối (cá lóc) phải có rau mần tưới hoặc thì là; chả rươi có vỏ quít; chả rắn phải bọc với lá bưởi rang trên chảo gang; nem gói bằng lá ổi; dồi lợn có rau xương sông và rau ngổ (rau ôm); rồi canh cải nấu cua, canh bầu nấu hến thì vua cũng dùng… Quê tôi nghèo, nhà tôi cũng nghèo, nhưng có những món ăn của tuổi thơ mà có đi tới cùng trời cuối đất người ta cũng không thể quên.
Chuẩn bị ăn cơm thì tôi lại được mời đi ăn cỗ. Một anh chàng được chia đất sân chùa, mới xây nhà xong làm cỗ ăn mừng. Ông này từng học dốt có tiếng, da đen như trâu, được cái bắt cá giỏi. Nhưng chỉ bắt cá giỏi thì không thể xây được nhà, nên đã ra Quảng Ninh tham gia vào hội đào trộm than, và thế là có tiền, có nhiều tiền. “Phen này ông xây nhà hai tầng cho thiên hạ biết mặt” – anh ta từng nói thế.
Anh ta mời tôi:
- Mời bác ra nhà em dùng bữa cơm dưa muối. Mấy khi bác về quê, với lại có mặt bác cũng là vinh dự cho nhà em.
Tuy nhún nhường như vậy, nhưng trên gương mặt anh chàng vẫn ngời lên niềm tự đắc. Tôi nhận lời chủ yếu vì tò mò. Đúng là nhà hai tầng thật, nhưng nhôm nhoam, quê kệch. Căn nhà sát bên ngôi chùa cổ, cao gấp rưỡi, ngông nghênh.
Tôi bỗng thấy buồn. Có những giá trị mà thời gian, chiến tranh, thiên tai không thể tàn phá nổi. Nhưng sự thờ ơ và sự lãng quên của chính con người thì có thể.

Viết tại TPHCM
1995

Thứ Tư, ngày 16 tháng 7 năm 2014

TIN BUỒN CHO “ĐỊCH” TIN MỪNG CHO “TA”



TIN BUỒN CHO “ĐỊCH” 
TIN MỪNG CHO “TA”
Tổ Tiên ta từ 257 TCN đến 208 TCN (theo Đại Việt sử ký toàn thư) đã tiến hành cuộc chiến 10 năm đánh thắng giặc Tần xâm lược, giết chết tướng Đồ Thư. Năm 40, bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị đã đánh thành Luy Lâu đuổi Thái thú Tô Định, lên ngôi Trưng Nữ Vương. Năm 542, Lý Bí, đuổi Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương chạy trốn. Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh tan quân Nam Hán, đuổi thứ sử Lý Tiến, chém chết tướng Trần Bảo; Năm 938, Ngô Quyền, bày trận trên sông Bạch Đằng đánh thắng quân Nam Hán, giết chết Hoằng Tháo; năm 981, Lê Hoàn đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống; Năm 1075, khi biết Vua Tống dấy binh, Vua Lý Nhân Tông đã sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem hơn 100.000 quân đi đánh chặn ngay trên đất giặc; Lý Thường Kiệt đã chém chết Trương Thủ Tiết tại cửa ải Côn Lôn (Nam Ninh). Tri phủ Ung Châu là Tô Giám, khi thấy thành bị hạ, đã giết cả nhà 36 người rồi tự thiêu. Nhà Trần tiếp nhà Lý đã ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Năm 1259, Hốt Tất Liệt diệt được Nam Tống, lập ra nhà Nguyên. Năm 1285, Nhà Trần với những chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đã giết được Toa Đô, khiến Thoát Hoan trốn chạy. Cuối năm 1287, nhà Nguyên lại xâm lược lần thứ ba. Trần Hưng Đạo mai phục bằng cọc nhọn như Ngô Quyền ngày nào ở cửa sông Bạch Đằng, tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi, Thoát Hoan trốn chạy. Đến thời Lê Lợi, năm 1427, đã đập tan 10 vạn quân Minh trong trận Chi Lăng - Xương Giang, giết chết Liễu Thăng. Thời Quang Trung Nguyễn Huệ, chỉ trong vòng 6 ngày, mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), đã dẫn đại quân Tây Sơn ra đánh tan tác 29 vạn quân Thanh, xác giặc chất đống thành Gò Đống Đa còn đến ngày nay!

Thời hiện đại, cha anh chúng ta lại tiếp tục “đánh thắng” những ý đồ của “ông anh” Trung Cộng tại Hiệp định Genèvè 1954; khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; khi giải phóng giúp Cămpuchia thoát khỏi nạn diệt chủng; khi đánh thắng chiến tranh Biên giới 1979, v.v… Và Hôm nay ta lại thắng ở Biển Đông khi cái giàn khoan như một cái gai nhọn nhổ khỏi mắt biển của chúng ta. Nhưng chiến thắng hôm nay thú vị ở chỗ chúng ta dùng sức mạnh mềm của lý lẽ, của cách ứng xử, giữ được mối quan hệ bình thường với ông anh nhưng đã công khai phản bác, tỏ thái độ dứt khoát với “ông anh”, làm “ông anh” tức mà “đếch” làm gì được. Thú vị nữa là ta đã tận dụng được sức mạnh của dư luận quốc tế. Ai có lòng yêu nước và lương tâm tất phải vui mừng. Chỉ buồn cho những kẻ đang kiếm lợi danh bằng nghề quấy rối, những anh hùng yêu nước bằng máu người khác hết phét lác, những kẻ ác mong dân tộc này lại đổ máu…

Nhưng hãy cảnh giác, không được ngủ quên trên chiến thắng!
· 
Thứ tư, 16/7/2014 | 07:24 GMT+7

Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 khỏi vùng biển Việt Nam

7h sáng 16/7, giàn khoan Hải Dương 981 đã di chuyển khỏi vị trí cũ khoảng 37 hải lý, tiến về phía đảo Hải Nam, Trung Quốc. Các lực lượng Trung Quốc cũng đang rút khỏi vùng biển Việt Nam.

  • Trung Quốc rút tàu cá khỏi khu vực giàn khoan Hải Dương 981

Trao đổi với VnExpress sáng 16/7, Tư lệnh Cảnh sát biển, Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm cho biết, giàn khoan Hải Dương 981 hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã di chuyển được khoảng 37 hải lý về hướng đảo Hải Nam. Hiện, giàn khoan vẫn tiếp tục di chuyển với vận tốc trên 4 hải lý mỗi giờ. 

"Để đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến được đảo Hải Nam, Trung Quốc cũng phải mất khoảng 2 ngày di chuyển", tướng Đạm cho hay.

Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 khỏi vùng biển Việt Nam
Giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển của Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Đông.

Cuối ngày hôm qua, sau 75 ngày hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc tuyên bố rút giàn khoan Hải Dương 981 ở khu vực biển gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Quan sát trên thực địa vào cuối ngày 15/7, lực lượng Cảnh sát biển phát hiện giàn khoan này di chuyển được khoảng 8 hải lý.

Theo ghi nhận của lực lượng kiểm ngư, giàn khoan Hải Dương có dấu hiệu dịch chuyển lúc 21h hôm 15/7 và có chung nhận định sẽ di chuyển về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc). Cùng với giàn khoan, mọi lực lượng hộ tống cũng được rút khỏi vùng biển Việt Nam.

"Cơn bão Thần Sấm đang di chuyển vào biển Đông có thể là một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981", Tư lệnh Cảnh sát biển nhận định.

Sau khi Trung Quốc rút giàn khoan trái phép, lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đang tiếp tục theo dõi mọi hoạt động của họ. Hôm qua, Trung Quốc đã rút toàn bộ tàu cá khỏi khu vực giàn khoan, thì sáng nay, cùng với giàn khoan, mọi lực lượng hộ tống cũng được rút đi.

"Lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam vẫn sẽ theo dõi hoạt động của giàn khoan, bảo vệ vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế của Tổ Quốc. Đồng thời lên kế hoạch tránh bão", Tướng Đạm cho hay.

Việc Trung Quốc điều giàn khoan 981 ra Biển Đông xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và gây trở ngại cho tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp. Ảnh: China News

Hãng tin Xinhua cho biết giàn khoan Hải Dương 981 ngừng hoạt động sau khi khoan hai giếng và phát hiện dấu hiệu có dầu khí. Nó sẽ được di chuyển về địa điểm của dự án mang tên Hainan Lingshui. Hiện chưa rõ vị trí của dự án tiếp theo mà Hải Dương 981 sẽ định vị. Lingshui là một vùng nằm ở phía nam đảo Hải Nam.

Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc không nói rõ trữ lượng ước tính, chỉ cho biết sẽ "đánh gía các số liệu đã thu được và sẽ quyết định các bước đi tiếp theo".

Hoàng Thùy