Thứ Sáu, ngày 24 tháng 4 năm 2015

VỀ CHUYỆN “HUYNH” VÕ SƯ HUỲNH “BÊNH” “MUỘI” NGOẠI CẢM BÍCH HẰNG

ĐÔNG LA
VỀ CHUYỆN “HUYNH” VÕ SƯ HUỲNH “BÊNH” “MUỘI” 
NGOẠI CẢM BÍCH HẰNG

Muốn viết một bài về lịch sử nhân ngày 30-4 sắp tới nhưng lại bị cuốn vào vấn đề ngoại cảm vì nó lại nóng quá. Vừa rồi tôi có đăng mấy ý của bạn HUNG ANH LY phê phán bài viết của ông bạn Đỗ Kiên Cường trên báo Công an TPHCM thì hôm qua, không biết do cơ duyên nào, tôi thấy trên trang của Phan Thị Bích Hằng đăng bài của ông võ sư Lương Ngọc Huỳnh cho ông bạn của tôi là Tiến sĩ Đỗ tâm thần
Tôi chưa bao giờ trực tiếp nhận định về ý của Đỗ Kiên Cường (vì thầm hứa rồi) nhưng quan điểm chung của tôi thể hiện trong các bài viết thì các ý kiến như thế là sai. Thậm chí tôi còn khiêu khích: “Ai đã đọc những bài tôi viết về ngoại cảm với đầy đủ lý lẽ, nhân chứng, vật chứng, việc chứng đầy đủ mà còn không tin vào chuyện ngoại cảm có thật thì không phải ngu như bò mà ngu như lợn dù không biết lợn có ngu hơn bò không”. Tôi chờ đợi những bài phản biện tôi nghiêm túc, kể cả Đỗ Kiên Cường, còn bọn sâu bọ rắn rết chửi bậy thì không chấp làm gì.
Người giúp tôi có được câu “hay” như trên chính là một cô bạn cũng có liên quan đến Đỗ Kiên Cường.
Đó chính là một cô Tiến sĩ Sử học ở trường “Nhân Văn” TPHCM, từng rất “mê” (đọc) tôi, chúng tôi đã gặp nhau, rồi cô bạn của cô bạn này lại “mê” Đỗ Kiên Cường nên nhờ tôi “mai mối”, vậy là có thời chúng tôi đàn đúm với nhau. Đỗ Kiên Cường nổi danh từ chuyện tranh luận với TS toán học Nguyễn Đình Phư về chuyện nhân điện. (Phư cũng dạy ở trường Tổng hợp TPHCM, tôi biết mà không quen, nhưng hôm tôi từ Leningrat về (năm 1990) tôi lại cùng chuyến bay với Phư, cơ duyên cứ quanh quẩn thế đấy). Cường đã tặng tôi mấy cuốn sách viết về các hiện tượng dị thường, tất nhiên là có chuyện chống ngoại cảm, tôi chỉ liếc qua không chú ý vì chưa viết về ngoại cảm. Cô bạn “của tôi” lại tin Đỗ Kiên Cường “chê” ngoại cảm nên đến khi thấy tôi “khen” cô Vũ Thị Hòa thì đã hỏi tôi sao “Đông La lại sa lầy” thế? Sao lại “hiếu thắng” thế? Vì thế tôi mới cáu tiết viết ra cái câu hay ho trên.
Quay lại việc Phan Thị Bích Hằng đăng bài của ông Võ sư Huỳnh, vì Hằng nổi tiếng nên đã có mấy ngàn cái “like” và hàng trăm cái “share” rồi. Còn bình luận thì “gạch, đá” ném ông bạn tôi có thể đã xây đủ cái biệt thự!
Còn tôi thì thấy việc “huynh” Huỳnh “bênh” “muội” Bích Hằng về tình là đúng, tiếc là về lý thì theo tôi chưa được thuyết phục.
Tôi mới biết ông Võ sư Huỳnh khi xuất hiện trên tivi gần đây. Về võ công thì tôi rất khâm phục công lực của ông khi biểu diễn, không gì bằng mắt thấy, tai nghe, thực tế. Cũng như tôi rất khâm phục sư huynh ông là Nguyễn Hữu Khai từng biểu diễn đấm xuyên tường gạch và nuốt kim khâu, dùng “khí” đẩy ra ở phần bụng. Cũng lại do cơ duyên quẩn quanh, một hôm lâu lắm rồi ở nhà Nguyễn Quang Thiều, Thiều khoe ông Khai tặng cái máy tính và đưa tôi xem tập bản thảo văn vần của ông Khai. Tiếc là thơ ông Khai không hay như võ công.
Võ sư Huỳnh còn được giới thiệu là Giáo sư Viện sĩ, tôi không biết là về lĩnh vực nào, còn xét về khoa học trong bài này thì lý lẽ của ông là chưa thuyết phục.
Trong bài, Cường đã dùng cơ sở khoa học để bác bỏ linh hồn:
“Chỉ tim mới có khả năng bơm máu đi nuôi cơ thể, chỉ não mới biết cảm xúc hoặc tư duy. Chỉ cần một mạch máu nhỏ trong não trục trặc là ta có thể mất trí là vì vậy. Các đặc trưng tinh thần như cảm xúc, nhận thức hoặc tư duy (các đặc tính của linh hồn) chỉ có thể thực hiện và tồn tại trong một cấu trúc vật chất duy nhất là bộ não mà thôi. Nói cách khác, theo quan điểm khoa học, “hồn” và “xác” không thể tách rời nhau, nên không thể có vật sống không cần cơ thể mà lại có lý trí và ý chí tự do được”.
Và Cường lấy ý kiến của nhà vật lý tật nguyền lừng danh Stephen Hawking:
"Tôi quan niệm bộ não như máy tính vậy. Khi máy tính hư hỏng thì toàn bộ hoạt động của nó cũng bị mất đi. Không có linh hồn hoặc kiếp sau của một cái máy tính”. 
Võ sư Huỳnh bác bỏ:
“Thứ nhất: Cường cần hiểu rằng trên thế giới chiếm tới 95% loài người có tôn giáo các tôn giáo đều có một niềm tin về nhân quả người theo đạo thiên chúa thì tin rằng sau khi chết họ sẽ về với Chúa người đạo Phật thì họ tin về kiếp luân hồi, người theo đạo nho thờ cúng ông bà v.v... 
Tất cả những thiên tài trên thế giới, các tổng thống các nhà khoa học họ đều có đạo…
Có lẽ trên thế giới có rất ít nhà vật lý vô đạo mà điển hình là hai gương mặt một là nhà vật lý tật nguyền có lẽ ông ta vì không tin vào đấng tạo hoá nên đã bị trừng phạt! 
Còn người thứ hai là Cường một gương mặt khắc khổ trầm luân và tối óc nhìn khuôn mặt này các nhà tướng số chắc sẽ khóc vì đã vô đạo lại chẳng có thần và có hồn nên nhìn giống một khuôn mặt quỷ!”
Lý lẽ này của ông võ sư theo khoa học là không thuyết phục vì không phải cả thế giới tin có linh hồn là sẽ có linh hồn. Như cả thế giới từng tin không gian, thời gian là cố định, nhưng Einstein đã đưa ra Thuyết Tương đối hẹp cho không gian, thời gian biến đổi theo chuyển động. Nhưng Einstein đúng.
Còn chuyện tướng mạo nên nhận xét khi bàn về nhân quả của Đạo Phật thì đúng hơn, còn đang dùng khoa học tranh luận xem có linh hồn hay không thì mang tướng mạo ra làm lý lẽ thì hơi bị vênh. Vì có khi người rất xấu xí rất hiểu đạo còn cô hoa hậu phỏng vấn ông võ sư trên tivi thì không!
Còn ý chính để ông võ sư phản bác Cường là thế này:
“Tôi tạm giải thích cho TS Cường nghe như sau:
1- Linh hồn là có thật, bởi linh hồn là phần âm trong cơ thể con người, ở vũ trụ này âm dương luôn tồn tại luôn tương trợ nhau. Trong con người thì phần xác là dương, phần linh hồn là âm vậy linh hồn từ đâu mà có? 
Linh hồn là trí tuệ là thần thái của con người, cái gì ta nhìn được, sờ được ta gọi là thể xác. Cái gì ta có nó mà không thể nhìn thấy không thể sờ thấy thì đó là linh hồn”.
          Điều này không được đúng lắm về Đạo Phật. Đạo Phật cho linh hồn là thần thức, luân hồi qua các kiếp sống theo nghiệp, bất sinh, bất diệt. Kinh của cô Vũ Thị Hòa viết là chân hồn, chân ngã, tiểu linh quang. Cũng có tài liệu viết giống với cô cho tiểu linh quang được chiết ra từ Đại Linh Quang, mà Đại Linh Quang chính là Thái Cực. Có quan điểm cho Thái Cực chính là Thượng đế, một tác giả phương Tây viết “mỗi linh hồn là một tàn lửa của Thượng Đế”.
Liên tưởng sang vật lý hiện đại. Để khớp với các tính toán chính xác về sự giãn nở của vũ trụ, theo mô hình tiêu chuẩn của Vũ trụ học, cần phải có một áp suất âm mạnh, và chính năng lượng tối sẽ tạo ra cái áp suất âm đó. Cũng theo mô hình tiêu chuẩn của Vũ trụ học thì tỷ lệ tương đối của vật chất-năng lượng của vũ trụ nhìn thấy được có chứa: 26.8% vật chất tối, 63.8% năng lượng tối (tổng là 95.1%), còn vật chất thường chỉ chiếm 4.9% mà thôi.
Từ thành tựu của khoa học hiện đại này, so sánh với những hiểu biết về thế giới vô hình, tôi đã tự hỏi, phải chăng “Thái cực”, “Thượng đế” chính là “Năng lượng tối” nói trên? Chữ “tối” ở đây nghĩa là do khoa học không thấy được chứ không phải có nghĩa là đen, còn đúng như tôi giả định, Thái Cực không phải tối mà là loại ánh sáng thiêng liêng (Linh Quang). Ước gì dự đoán của tôi là đúng thì khoa học và thần học đã khớp nhau, không phải cãi nhau lăng nhăng mất thời gian nữa. Khoa học nên tìm hiểu nghiêm túc để hiểu đúng đạo giúp cho loài người đi đúng đường thôi.
Quay lại ý Võ sư Huỳnh cho phần xác là “dương”, phần hồn là “âm”. Nếu theo khoa học thì sai vì âm dương luôn phải cân bằng, như vật chất muốn tồn tại thì phải trung hòa về điện. Âm không thể tồn tại nếu thiếu dương. Vậy khi chết, xác tiêu hủy, dương không còn thì linh hồn là âm làm sao tồn tại?
Còn theo Đạo Phật, thần thức (linh hồn) tồn tại độc lập, theo Phật Bà Vũ Thị Hòa viết linh hồn là “chơn ngã”, khi tái sinh sẽ nhập vào bào thai, “giả ngả”, tạo nên một chúng sinh mới, một cái tôi giả tạm của một kiếp sống.
 Ông Võ sư cũng viết, các nhà ngoại cảm tìn được mộ:
“…nghĩa là linh hồn của họ nhẹ. Cái nhẹ ở đây là nhẹ về sóng trường sinh học được não bộ và các nơron thần kinh dẫn chuyền theo dạng thông tin qua hạch nền được phân tích như nơi tập trung của linh hồn từ đó các thông tin được cập nhật vào não bộ làm cho nhà ngoại cảm có cảm nhận được âm thanh và hình ảnh vô thực nghĩa là không giống như cái ta đang nghe và đang nhìn thấy nhưng họ cảm nhận được nó”; còn các nhà ngoại cảm không tìm được thì do “hồn xiêu phách lạc”.
Điều này theo tôi cũng không đúng.
Thực ra các nhà ngoại cảm tìm được mộ do tư chất, do phẩm hạnh tu tập kiếp trước, rồi do biến cố nào đó, v.v…, phần nào đó khả năng lục thông của họ được khai mở. Khi nào năng lực này mạnh họ tìm được mộ, khi yếu thì họ lẫn lộn, hoặc sai. Về khả năng siêu phàm này thì thực tế đã chứng minh cô Vũ Thị Hòa là mạnh nhất, cô có khả năng nhìn xuyên thời gian, không gian, thấy tất cả các thứ chứ không chỉ linh hồn. Về hiệu suất tìm mộ, Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải và rất nhiều người hiểu biết khác đã chứng kiến, đều xác định cô đúng 100%. Cô nói với tôi cô nhìn cõi âm cũng rõ như cõi dương này. Vì thế, cùng với việc viết kinh mà tôi tra kinh điển thấy “đúng phát sợ”, tôi cho rằng, cô đúng là được Phật Bà trao bóng như lần đầu phỏng vấn, cô nói Phật Bà đã hiển hiện trước cô nói: “Ta sẽ trao hình bóng của ta cho con. Hãy đi cứu nhân độ thế”!
Viết vậy tôi chỉ viết ra sự thật chứ không có ý xếp hạng cao thấp vì theo đường tu xếp hạng là vô nghĩa. Làm điều tốt mới là điều cao nhất của người hiểu đạo.
Việc “huynh” Huỳnh “bênh” “muội” Bích Hằng về tình là tốt nhưng về lý tiếc là còn sai. Dù “thằng” bạn tôi cho cả giới ngoại cảm “lừa đảo”, những người nghiên cứu là “ngụy khoa học”, những người tin như tôi là “mê tín”… thì đúng là sai quá thật!
24-4-2015
ĐÔNG LA


Thứ Hai, ngày 20 tháng 4 năm 2015

LẠI CHUYỆN “KHOA KHỌC” VỚI NGOẠI CẢM

ĐÔNG LA
LẠI CHUYỆN “KHOA KHỌC” VỚI NGOẠI CẢM

 
(Từ phải sang, Đỗ Kiên Cường (thứ 2), tôi (thứ 4), Nguyễn Quang Thiều (thứ 5), 
trong bữa tiệc chiêu đãi Thiều tại nhà tôi)
Tôi từng có 3 người bạn thân là Nguyễn Quang Thiều (Nhà thơ, Nhà văn, Phó Chủ tịch Hội Nhà Văn VN); Nguyễn Hữu Sơn (PGS, Nhà nghiên cứu Văn học, Viện phó, Chủ tịch Hội đồng KH Viện văn Học VN); Đỗ Kiên Cường (giờ đã hưu, TS Vật lý, nguyên Phân viện phó Phân viện Vật lý Y sinh học tại TPHCM thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự, BQP, từng làm phó cho ông TS Vật lý Vũ Công Lập, giờ thành nhà báo thể thao nổi tiếng).
Cái số của tôi là phải đi tranh luận đúng sai với thiên hạ, nhưng tôi đã thầm hứa là với ba thằng bạn trên thì chúng nó nói gì mặc kệ, tôi không để ý, miễn là đừng có đụng chạm đến đích danh tôi và người “của tôi”. Vì từng tay bắt mặt mừng thắm thiết rất nhiều mà chỉ vì nhận thức khác nhau đi chửi nhau thì tự thấy thật xấu hổ!
Nhưng cuộc đời cây muốn lặng mà gió chẳng muốn đừng, nhiều bạn cứ gởi thư báo, ông này, ông kia nói thế này, thế nọ. Như mới có bạn:
HUNG ANH LY 11:31 PM (9 hours ago) to me” về một trong ba người bạn trên, người vốn luôn công kích ngoại cảm. Như đã hứa, tôi biết nhưng tôi mặc kệ, chỉ khi ông bạn nói đến tôi và cô Vũ Thị Hòa “của tôi” thì tôi mới “ra tay” thôi.
Vì sự tin tưởng của bạn HUNG ANH LY nơi tôi, tôi sẽ công bố vài ý chính thư của bạn liên quan đến ngoại cảm và xin không nhắc đến tên người bạn của tôi:
Bạn Đông La,
Đọc qua  bài viết về Tâm Linh của bạn, có nhiều câu hay tôi muốn trích dẫn vào bài viết của tôi về một người công kích Phan Thị Bích Hằng trên báo Công An TP HCM. Tuy nhiên sợ phiền hà đến với bạn nên thôi. Bài tôi đã gửi cho báo Công An TP HCM:
…khi đọc bài viết: "Giải mã về huyền thoại ngoại cảm Việt Nam  Phan Thị Bích Hằng", tôi thấy vài điều sau:
1- Về chuyện Linh hồn: Để chứng minh theo quan điểm của mình là không có linh hồn, ông ta trích dẫn dịch phát ngôn của Stephen Hawking như sau:"Tôi quan niệm bộ não như máy tính vậy. Khi máy tính hư hỏng thì toàn bộ hoạt động của nó cũng bị mất đi. Không có linh hồn hoặc kiếp sau của một cái máy tính”. 
Đây là bản gốc tiếng Anh:
 " I regard the brain as a computer which will stop working when its components fail. There is no heaven or afterlife for broken down computers; that is a fairy story for people afraid of the dark." 
Trích trong bài: Stephen Hawking: 'There is no heaven; it's a fairy story' (http://www.theguardian.com/science/2011/may/15/stephen-hawking-interview-there-is-no-heaven)
Như vậy, ông ta cố ý dịch từ" heaven" thành "linh hồn" và "afterlife" là "kiếp sau" cho đúng với ý đồ "bác bỏ linh hồn và không có nhân quả luân hồi" của ông ta.
Tôi là người đọc bài của ông TS, thấy việc làm đó... không xứng là Tiến Sĩ. Ông ta coi thường BBT báo Công An TP và độc giả.
Về chuyện tìm hài cốt em gái GS Trần Phương, nguyên trước là P.TT Chính Phủ.
Ông ta viết: "… khoa học đã bác bỏ sự tồn tại của linh hồn từ năm 1828… và rất nực cười về mặt thực tiễn (nếu thế thì nên giải tán cơ quan điều tra trong ngành công an cho rồi)”.
Tôi không rõ nguyên PTT Trần Phương đề nghị như thế nào, nhưng cách viết nầy của ông ta là "miệt thị", là "phách lối" và "láo khoét". Ai là ĐẠI DIỆN cho giới KHOA HỌC toàn cầu tuyên bố "bác bỏ sự tồn tại của linh hồn từ năm 1828”. Cho tới nay, các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu về linh hồn và chưa có kết luận chính thức nào…
Về chuyện gắn kết Bích Hằng với tội phạm Thanh Thủy:
Ông ta viết: "Theo tôi, chính sự mê tín mang tính bản năng sinh học là lý do giải thích sự tin tưởng của không ít người đối với các chiêu trò nhiều  khi rất thô sơ của Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Thanh Thủy và giới ngoại cảm nước ta”.
Nguyễn Thanh Thủy đã bị bắt giam vì  lừa đảo trục lợi và đang tiếp tục điều tra đám nầy, liên quan gì tới Phan Thị Bích Hằng mà ghép vào? 
Nếu ông ta có bằng chứng Bích Hằng phạm tội như Thanh Thủy thì ông cứ công khai tố  giác, việc gì cứ lè nhè viết hết bài nầy đến bài khác nhằm triệt hạ uy tín Bích Hằng mà không có chứng cứ nào xác định Bích Hằng lừa đảo trục lợi. Điều nầy không tránh khỏi có suy luận là "Bài viết theo đơn đặt hàng!"
Còn nếu đặt vấn đề tâm linh,  người có trải nghiệm thì họ tin là quyền của họ, còn ai chưa trải nghiệm thì bác bỏ là quyền của ai đó, nhưng công kích bôi bác là hồ đồ.
LHA
-----------------------------------------------------------
PC: Tôi định trích câu này của bạn trong bài Đường đến tâm linh:"Lúc đầu tôi ngạc nhiên là không hiểu tại sao lại có những kẻ chống ngoại cảm điên cuồng đến thế, dù rất biết ngoại cảm cũng như mọi lĩnh vực trong xã hội, chắc chắn có chuyện lừa đảo. Nhưng với một lĩnh vực huyền bí, nhà nước đã tổ chức nghiên cứu, khảo nghiệm gần 20 năm, có nhiều thành quả, thì vơ đũa cả nắm, cho tất cả là lừa đảo là điều không đúng".
 để kết thúc bài viết, nhưng ngại như đã nói trên. Chào bạn
LHA
Tôi,  đông la donglasg@gmail.com8:30 AM (1 minute ago) to HUNG như sau:
Ông này từng là bạn rất thân của tôi nên tôi không có ý kiến trực tiếp. Nếu có người mê tín do ít học thì cũng có loại người mê tín khoa học. Còn với tôi thì không mê tín cái gì cả,  tôi chỉ tín mà không mê vào thực tế cuộc sống. Nếu thực tế có hiện tượng vênh với khoa học thì khoa học còn sai, cái cần xem lại là khoa học chứ không phải thực tế”.

20-4-2014

ĐÔNG LA

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 4 năm 2015

NHỚ CHIẾN HỮU

NHỚ CHIẾN HỮU

-Alô, Hùng hở, anh Lộc 74 đây!
-Tôi biết rồi. Bây giờ anh đang ở đâu?
-Mình đang ở Vũng Tầu, nhà con gái.
(Tiến, Duyệt, Nhẽ, Lộc, Hùng (Đông La))
Lộc 74 nghĩa là anh Lộc hồi ấy là y tá cùng ở tiểu đoàn 74 với tôi. Anh quê ở Huyện Cẩm Giàng, sau giải phóng về học Sư phạm toán, rồi dạy ở cấp III Cẩm Giàng. Đơn vị tôi là một trung đoàn được thành lập năm 1974 thuộc Quân khu Miền Đông (giờ là QK7) để tham gia cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975.
-Chủ nhật này mình tính đi thăm anh Bảy, Hùng rảnh ra Vũng Tầu chơi rồi cùng mình đi được không? Ông ấy bây giờ ở xã Thanh Sơn, Định Quán. Hùng có nhớ đơn vị mình có trạm quân y bên bờ sông không? Ông ấy bây giờ ở gần chỗ ấy đấy.
-Cái trận thằng Hậu chết tôi bị bệnh đi nằm ở trạm đó đó. Tôi chứng kiến thằng Hậu chết tại đó. Rồi, chiều thứ 7 tôi sẽ xuống Vũng Tầu, chơi với ông 1 đêm, sáng sau mình cùng đi Thanh Sơn thăm ông Bảy.
Ông Bảy chính là đại đội trưởng, sau ngày giải phóng tôi đi học rồi đi làm, đến nay vẫn chưa một lần gặp lại, nên được gặp lại ổng thì tốt quá!
Vợ tôi ở trên lầu xuống hỏi tôi nói chuyện với ai mà la to thế? (Đông La mà!). Nhưng bà ấy ở trên lầu nghe thấy là chuyện thường, chỉ có điều khác thường là, một lần nữa, cô Vũ Thị Hòa lại chứng tỏ khả năng thần thông của mình. Cô ở ngoài Vĩnh Phúc cũng nghe thấy câu chuyện của tôi, và hơn thế, cô còn biết những gì không hay sẽ đến với tôi, nên cô đã gọi điện thoại cảnh báo:
-Anh Đông La ơi, ngày mai, ngày mốt anh không được đi đâu xa đấy nhé!
Cô chỉ cần nói vậy là tôi hiểu nên hứa sẽ nghe lời cô. Tôi vốn hay quên thời gian, tưởng mới đầu tuần, nghĩ chuyện đi thăm ông Bảy không sao, không ngờ coi lịch thì đã là thứ 6. Vậy “mai, mốt” cô Hòa nói chính là thứ 7 và chủ nhật! Thật khiếp vía! Vậy là phải đợi dịp khác thôi!
Tôi vào chiến trường chỉ có một năm, chỉ tham gia một trận đánh ác liệt là trận ở ấp bên cầu La Ngà. Nó làm tôi không bao giờ quên được nên đã viết thành cái truyện ngắn Ân nhân đăng trên Tạp chí Văn nghệ QĐ 1999:

 Trong truyện ngắn tôi là Huy, còn anh Lộc y tá và ông Bảy đại đội trưởng thì có mặt trong đoạn trích này:
         “… Huy chỉ cảm thấy duy nhất một cảm giác y như bị nhốt bên trong một thùng phuy mà bên ngoài có người quại búa tạ vào. Rất may căn hầm anh núp dưới cây mít to, pháo đụng là nổ ngay trên cây, nên không việc gì. Đến khi một đợt pháo dài tưởng vô tận vừa ngừng, bọn anh chợt thấy đại đội trưởng Bảy lù lù ở cửa hầm quát:
          - Mang cuốc xẻng sang moi hầm thằng Nhữ ngay!
          Giời ơi! Huy nấc lên, bật dậy. Anh Lộc y tá đã có mặt. Căn hầm bị san phẳng y như người ta vừa bốc mộ lấp đất lại. Không lẽ dưới mặt đất câm lặng kia đang có ba sinh mạng, lại còn có cả thằng bạn chí thiết của mình nữa! Nhữ ơi! Chúng mày đang ra sao?!
          Mọi người khẩn trương moi hầm. Đất, cát, những cây gỗ, những tấm ván lót hầm được kéo lên. Một cái đầu, tóc đen nhẫy, nhòe nhoẹt máu trộn đất, hiện ra. Đại trưởng kêu lên:
 - Moi mũi cho nó thở!
          Mọi người nhận ra Khuê và chỉ thấy “phì” một cái rồi thôi; Khuê đã bất tỉnh, nhưng còn thoi thóp. Sau này, vốn có tính tò mò, Huy đã hỏi Khuê là thấy thế nào trong cái lúc bị chôn sống ấy? Không ngờ, câu trả lời của Khuê thật đơn giản: “Không thấy gì cả”! Thì ra, cái chết đến với người trong cuộc không kinh khủng quá như những người chứng kiến! Hai người xốc nách Khuê mang lên đặt bên cây vú sữa để anh y tá làm những việc cấp cứu. Moi được một lúc nữa thì tìm được Thái, người nhỏ bé, đã khá tuổi, hàm răng như nhuộm đen, quê Thái Bình. Anh bị một mảnh pháo nhỏ xuyên qua chỗ mang tai và đã hy sinh! Còn lại mình thằng bạn của Huy. Làm sao mày sống nổi dưới vô vàn mảnh pháo khoan như thuốn kia? Nếu không bị thương thì cũng làm sao mà thở được? Tự dưng tay chân Huy bủn rủn, luống cuống, nên anh được thay ngay. Rồi Nhữ cũng đã được tìm thấy. Một cây đà đè ngang ngực làm gẫy tay và xương sườn Nhữ; máu trào ra cả mũi và miệng; giữa trán một mảnh pháo khoan xuyên qua để lại một vết thương chỉ nhỏ như hạt đậu, nhưng nó vẫn đủ sức giết chết Nhữ ngay! Thế là hết! Một nỗi trống vắng mênh mông dâng ngập lòng Huy. Ý muốn được trả thù cũng cuồn cuộn dâng lên!” 
Hồi mới vào Nam, tôi chưa đầy 20 tuổi, hoàn toàn còn là một thằng học trò. Chỉ có một năm ở chiến trường nên tôi nhớ cũng rất ít. Nay thật thú vị nhờ có Google tôi mới định vị được nơi mình từng chiến đấu mà hồi ấy chỉ biết có rừng cây, sông suối mà thôi:
(Cầu La Ngà)
          Còn cái truyện ngắn trên tôi đã đăng vài lần, ai chưa đọc, xin đọc tại đây:
          * ÂN NHÂN (Truyện ngắn)


Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

MUÔN VẺ ĐƯỜNG TU

ĐÔNG LA
MUÔN VẺ ĐƯỜNG TU

Trong các bài giảng kinh, thuyết pháp, cô Vũ Thị Hòa thường kêu buồn, than khổ. Cô giải thích cho tôi hiểu là không phải cô buồn vì chuyện của cô mà cô buồn vì mọi người. Người tu thì nhiều nhưng ngộ để hành cho đúng thì ít. Tu là làm điều tốt ai cũng biết nhưng thế nào là tốt thì không phải ai cũng hiểu. Lập công trạng, công lao để được thưởng huân chương, thăng quan tiến chức thì dễ hiểu, nhưng những công đó có phải là công đức của đường tu không thì chưa chắc.
Nhớ lại hôm cô làm thuốc cho nhà tôi, tôi tính cảm ơn cô theo lẽ thường thì cô bảo: “Chữ nghĩa của anh vàng ngọc cũng không sánh được, nên anh mà còn nhắc đến chuyện đó là em cúp điện thoại luôn đấy”. Cái chuyện viết của tôi bảo vệ người tốt, phê phán người xấu, bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai đúng là việc tốt nhưng tôi cũng không dám nghĩ như cô nói. Nên một lần điện thoại tôi nói với cô:
-Cô Hòa ơi, em rất khâm phục những người làm từ thiện, như những người thức khuya, dậy sớm nấu cháo cho người nghèo ở bệnh viện ăn đấy; rồi những người chăm sóc người cùi hủi, lở loét, v.v… Những việc đó thì em không thể nào làm được cô ạ. Còn chuyện viết lách của em thực ra là do cái khả năng của em thôi, cứ nằm võng đung đưa, có ấm trà bên cạnh, rồi viết thì có khổ gì đâu mà lập được công đức? Em viết là do cái số của em nó thế thôi cô ạ.
-Anh nói vậy là không đúng rồi. Mỗi người có một chức phận, anh nói là số mệnh nhưng phải nói là sứ mệnh thì mới đúng. Còn chuyện làm từ thiện không phải ai cũng tốt như anh nghĩ đâu anh ĐL ơi. Anh phải vất vả làm ra một căn nhà, bán đi có tiền, rồi dùng chính tiền ấy làm từ thiện thì mới đúng là lập công đức. Còn mấy ông có quyền dùng tiền công, mấy người lập quỹ kêu gọi mọi người đóng góp để làm từ thiện, rồi từ thiện thì ít mà xà xẻo thì nhiều, sao mà có công đức được?
Nghe cô nói mà tôi giật cả mình, đúng là “thánh phán”, vì tôi vừa coi lại chuyện về Sơ Tổ Thiền Tông Trung Quốc là  Bồ-đề-đạt-ma. Thấy ý cô nói y như lời của Bồ-đề-đạt-ma vậy.
***
Bồ-đề-đạt-ma (zh. 菩提達磨, sa. Bodhidharma) là Tổ thứ 28 và cuối cùng sau Phật Thích-ca Mâu-ni của Thiền tông Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền Tông Trung Quốc. Một trong những truyền thuyết nói ông đến TQ vào triều đại nhà Lương (502-557). Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đến Trung Quốc khoảng năm 520. Ngài đã gặp Lương Vũ Đế. Ông vua này là một người sùng đạo, đã cho xây nhiều chùa chiền, bảo tháp nên đã hỏi nhà sư Ấn Độ:
-Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?
Đạt Ma đáp:
-Không có công đức.
-Tại sao không công đức?
-Bởi vì những việc vua làm là nhân "hữu lậu", chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như bóng tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.
-Vậy công đức chân thật là gì?
Sư đáp:
-Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.
Cần phải hiểu sâu xa hơn ý Sư Tổ. Việc vua xây chùa nhưng bằng tiền của do bóc lột của dân nghèo nên không phải gieo nhân lành mà là nhân "hữu lậu". Chữ lậu (Āsava) Hán tạng dịch là lậu hoặc. “Lậu” là rỉ ra nhơ bẩn, “Hoặc” là mê lẫn. Vì vậy mà không có công đức. Chỉ là cái bóng, chỉ là hình thức chứ không thực chất. Công đức thật sự của vua phải từ chính nhà vua, từ chính cái tâm trong sáng, lòng thương yêu, lo toan cho dân chúng của vua.
Đó là những lời khai thị về tính chất cơ bản của Phật Pháp nhưng Lương Vũ Đế không lĩnh hội được nên Bồ-đề-đạt-ma đã vượt sông Dương Tử đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc. (Chuyện vượt sông của ngài đã thành huyền thoại, chỉ dùng cành lau sậy mà qua được sông).
Như vậy để lập được công đức cho đường tu người ta hay nói là phải “ngộ” đạo, nói nôm na là phải hiểu biết, vì có hiểu biết mới làm đúng. Nhưng thế nào là ngộ cũng lại không dễ hiểu. Có người thuộc làu kinh sách nhưng không ngộ, ngược lại có người không thuộc gì lại ngộ. Vậy nên cô Hòa mới viết: “Đường nhân đạo trông không mà có? Pháp trí thông truyền có hoá không?” là như thế. Kinh Phật nói “Vạn pháp do tâm sinh”. Tâm trong sáng, hướng thiện chính là nền tảng cơ bản để ngộ, dù người ta có biết đến kinh sách hay không.
Để hiểu thế nào là ngộ có lẽ hay nhất nên coi những chuyện Phật Tổ và các nhà sư tiếp nối chọn người kế thừa mình mà trong kinh sách gọi là “truyền y bát”. Bới người được các ngài chọn tất phải là những người ngộ nhất.
Thật thú vị trong Ngọc sắc tâm kinh, cô Vũ Thị Hòa cũng có viết về chuyện Đức Phật Tổ chọn người kế thừa:
Ngày xưa Đức Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh thuyết pháp suốt 49 năm nhưng trong buổi pháp hồi cuối cùng tại núi Linh Thứu, ngài chẳng nói một lời nào cả. Tay ngài cầm đóa hoa đưa ngang tầm mắt nhà Phật gọi là niệm hoa thị chúng. Đệ tử trên hàng vạn người trong đó gồm cả thiên thần đều ngơ ngác không hiểu, chỉ có một phật tử ngộ được hàm ý của Đức Phật nên mỉm cười. Đức phật thấy phật tử mỉm cười ngài mới nói cùng phật tử, ngộ hữu chánh pháp nhãn tang, Niết - Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giao ngoại biệt truyền "Chánh pháp nhãn tàng". Chánh pháp là chân pháp, nhãn tàng tức là ẩn tàng ở mắt. Mắt này không phải là mắt trái cũng chẳng phải mắt phải mà chính là chỗ "O", đó là bản tính Như Lai, là tâm bồ đề của ta. Tâm này không sinh, không diệt nên gọi là thực tướng, lại vô hình vô sắc không thể thấy được nên gọi vô tướng. Vạn pháp từ đây mà ra nên vi diệu. "O" không ở nơi văn tự, chỉ có thể dùng tâm ấn tâm mà thôi. Đạo mà ta đã truyền cho các con trong lúc cầu tu, hành đạo chính là chánh pháp nhãn tàng trong thời kỳ phổ độ”.
Trên Google cũng có câu chuyện trên nhưng được viết là “Niêm hoa vi tiếu”, nghĩa là cầm hoa mỉm cười. Vậy viết như cô Hòa “Niệm hoa thị chúng” hay hơn. Niệm có nhiều nghĩa, nghĩa ở đây là việc chủ ý dùng cành hoa để khai thị Phật Pháp cho chúng sinh. Còn vị Phật tử được Phật Tổ chọn mà cô viết ở trên chính là ngài Ma-ha-ca-diếp (Tiếng Phạn Mahākāśyapa, còn gọi là Tôn giả Ca Diếp hay Đại Ca Diếp). Ngài chính là vị tổ thiền tông đầu tiên của Phật giáo. Còn Tổ Bồ Đề Đạt Ma, người đã đem thiền tông đến Trung quốc vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch chính là Tổ thứ 28 đồng thời là Tổ thứ nhất ở Trung Quốc.
***
Thiền định (kasina) là sự tịnh thức, có người viết là tỉnh thức, tôi thấy tịnh thức là đúng hơn, vì là sự khai sáng trong yên tĩnh, mà yên tĩnh chính là sự trong suốt của tâm thức. Cơ sở của thiền là vô chấp, loại bỏ tạp niệm để an tâm, để đạt được yên tĩnh, mà im lặng là một biểu hiện của yên tĩnh, nên im lặng là một loại ngôn ngữ cao thâm nhất của thiền.
Có nhiều câu chuyện thú vị nói về ngôn ngữ của sự im lặng.
Với công án thiền nổi tiếng “Thế nào là tiếng vỗ một bàn tay?” Thực tế đó là một sự vô lý. Nhưng với thiền sư đang tu tập mà còn chú ý đến sự vô lý, rồi tìm cách giải nghĩa nghĩa là còn chấp, là còn chưa hiểu sâu sắc về thiền. Vậy câu trả lời đúng nhất theo tinh thần của thiền chính là sự im lặng, chính là “tâm ấn tâm, không ở nơi văn tự” như trong câu chuyện Phật Tổ chọn người kế thừa ở trên. Còn muốn giải nghĩa thành lời theo đạo thì tiếng vỗ của một bàn tay là tiếng vỗ của không chứ không phải tiếng vỗ của sắc, âm thanh của nó là im lặng.
***
Bồ-đề-đạt-ma là đệ tử và truyền nhân của Tổ thứ 27, Bát-nhã-đa-la (sa. prajñādhāra). Sự tích truyền pháp của Bát-nhã-đa-la cho Bồ-đề-đạt-ma được truyền lại như sau:
Sư phụ hỏi: "Thứ gì vô sắc?". Bồ-đề-đạt-ma đáp: "Vô sinh vô sắc".
Chỉ vậy thôi người đệ tử đã được thầy chọn.
Nếu không hiểu Đạo Phật không thể hiểu bài thi và bài trả lời là tuyệt vời như thế nào. Bồ-đề-đạt-ma không trả lời trực tiếp câu hỏi mà muốn câu trả lời sâu sắc hơn, rộng lớn hơn, nên đã dùng Thuyết Duyên khởi để trả lời. Duyên khởiVô ngã  là hai giáo lí trụ cột của Phật giáo. Phật Tổ nói:
“Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành. Cái này diệt thì cái kia diệt”.
Đó chính là kinh Duyên khởi.
Đến lượt Tổ Bồ-đề-đạt-ma chọn người kế thừa, ngài không chọn đệ tử “chăm ngoan” mà chọn một đệ tử lắm tật, nhưng phải bằng huệ nhãn của ngài mới nhận biết được tâm ngọc của người đệ tử. Người đó chính là Thần Quang, sau được Tổ đặt tên là Huệ Khả, chính là Tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Quốc.
***
Có nhiều chuyện thú vị, được dựng thành phim ảnh. Trong phim tất có nhiều chuyện hư cấu, nhưng nếu hiểu được thiền, hiểu được đạo sẽ nhận ra được những câu đối thoại rất thú vị, thể hiện muôn hình, muôn vẻ của sự tu tập. Ta sẽ thấy trong cái đúng có cái sai, trái lại trong cái sai có cái đúng.
Thần Quang vốn là một đệ nhất công tử văn võ song toàn, con một võ quan đầu triều, được cưng chiều nên quậy phá. Một lần trên đường có dòng người theo nhau đi nghe Bồ-đề-đạt-ma thuyết pháp, Thần Quang trêu ghẹo một phụ nữ, gây sự rồi đánh chết chồng người ta. Bồ-đề-đạt-ma lần đầu gặp người đệ tử truyền nhân của mình chính vào cái lúc ấy, mới chất vấn thì được trả lời ý là, gốc của cái lỗi này chính là do cái ông Bồ-đề-đạt-ma thuyết pháp, vì ông ấy thuyết pháp người ta mới đi nghe nên mới xảy ra chuyện. Câu trả lời vô tình mà theo đúng nguyên lý Duyên khởi nên một người như Bồ-đề-đạt-ma mới chú ý và thầm nghĩ “Đúng là có lý mà cũng không có lý”. Từ đó ngài đã tìm cách thu phục chàng thanh niên làm đệ tử. Rồi do cơ duyên dẫn dắt, có một tình huống buộc phải đi tu, nhưng Thần Quang đồng ý đi tu vẫn ngang bướng ra điều điều kiện, muốn vẫn sinh hoạt như đời phàm. Mọi người ở Thiếu Lâm tự phản đối nhưng Bồ-đề-đạt-ma vẫn chấp nhận. Một lần trên một chiếc xe chạy trên đường, phía trước chở mỹ nữ, phía sau chở kinh sách, người đi đường thấy kỳ quái mới chất vấn thì Thần Quang trả lời: “Chuyện trai gái thuộc về nhân tính, bản tính con người. Còn đi tu là phải đọc kinh sách. Vậy đi tu là tu làm người tốt, mà người tốt thì phải giữ nhân tính”. Câu trả lời lại vừa có lý vừa vô lý. Sau đó tại nơi như giang sơn riêng của một quý tử, có đầy đủ rượu chè, Thần Quang đã vui vẻ cùng mỹ nữ. Bồ-đề-đạt-ma được tin đến đó tìm kiếm. Thần Quang đuổi hết mọi người ra, đón sư phụ nói: “Nơi đây không có nước chỉ có rượu, không biết sư phụ đi tu thì có dùng rượu thay nước được chăng?” Bồ-đề-đạt-ma trả lời: “Rượu làm người mê say nhưng với một thi nhân thì bảy bước thành thơ nên rượu cũng có mặt tốt. Được lấy rượu ra đây”. Sư uống xong nói: “Với người tỉnh táo thì uống rượu cũng như nước. Nhưng nấu rượu phải tốn công, tốn của, uống có ích gì, chi bằng uống luôn nước. Thần Quang, ngươi là kẻ tỉnh táo hay mê lú?” Thần Quang: “Tôi là tôi, nơi đây duy nhất một mình tôi, tỉnh hay không không quan trọng”. Sư Tổ: “Tôi là tôi, nơi đây duy nhất mình tôi, ngày Phật Tổ ra đời cũng nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” tuy khác mà giống”. Thần Quang: “Sư phụ khen hay diễu cợt con vậy?” Sư Tổ: “Thực ra Phật Tổ nói vậy không phải kiêu ngạo mà muốn nói đến cái quan trọng của tự ngã, cái tôi của mỗi người là quan trọng, muốn được tôn quý thì chính tự ngã phải tự lựa chọn cách sống để được tôn quý”. Thần Quang: “Có phải sư phụ muốn nói với con rằng một người có tri thức không nên chọn cách sống như con?” Sư Tổ: “Đúng vậy! Lựa chọn hay không lựa chọn? Chọn cách sống nào phải không chịu sự ràng buộc”. Thần Quang: “Vậy chẳng phải sư phụ nói đến tự tin sao?” Sư Tổ: “Hừm, quả nhiên là có huệ căn”. Thần Quang: “Thầy muốn con tự tin mà sống ư?” Sư Tổ: “Thần Quang đúng là thông minh đã hiểu được ý tứ. Ta đi đây!”
Một cuộc đấu lý cũng là một sự thuyết pháp thật là thú vị, đúng là cách ứng đối của bậc cao minh. Nhưng phải đến khi cha mẹ vì lỗi của mình mà chết, sự kiêu ngạo của Thần Quang mới bị đốn ngã, Thần Quang quyết đi tu. Trong giai đoạn Bồ-đề-đạt-ma 9 năm “diện bích tham thiền”, 9 năm đối diện vách đá thiền định, Thần Quang đã quỳ ngoài trời mưa tuyết cầu xin Sư Tổ truyền y bát cho mình. Tuyết vốn mầu trắng nên Bồ-đề-đạt-ma dùng hình ảnh không thể nào có đối với tuyết để nói ra ý mình:
-Chỉ khi nào tuyết có mầu hồng thì ý của con mới là điều có thể.
 Thần Quang nghĩ chỉ có máu phun ra mới nhuộm được tuyết mầu hồng, mình chỉ có chặt cánh tay mới chứng tỏ được với sư phụ thành tâm, thành ý của mình, liền cầm dao chặt phăng cánh tay của mình. Bồ-đề-đạt-ma hoảng hốt, vội băng bó, cứu chữa và còn gì mà không thuận theo lời cầu xin của Thần Quang. Ngài đã đặt pháp danh cho Thần Quang là Huệ Khả. Trước khi giao y bát, ngài còn gọi mấy đệ tử lại bảo họ trình bầy sở đắc của họ. Mấy người trước đều nói rất đúng theo kinh sách nhưng vẫn không thỏa mãn được ngài vì họ chưa nói được bản chất sâu sắc nhất của đạo thiền. Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả, Huệ Khả chỉ lễ bái rồi im lặng cung kính nhìn sư phụ. Sư bảo: "Ngươi đã hiểu thấu được phần tuỷ của ta”.
Như vậy, Huệ Khả đã dùng cách trả lời của ngài Ma-ha-ca-diếp trả lời Phật Thích Ca khi được trao y bát. Khi đã thấu hiểu thì im lặng là câu trả lời trọn vẹn nhất. Im lặng cũng chính là điều cơ bản nhất của Thiền Tông.
Bồ-đề-đạt-ma nói câu cuối với Huệ Khả: “Xưa Như Lai trao 'Chánh pháp nhãn tàng' cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà ngươi khá nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Hai trăm năm sau khi ta diệt rồi, việc truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người hiểu đạo và nói lý rất nhiều, còn người hành đạo và thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo pháp”.
Vì vậy, y bát chỉ truyền đến đời thứ 6, và người được nhận chính là Huệ Năng.
***
Chuyện Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trao truyền y bát cho Lục Tổ Huệ Năng cũng rất thú vị.
Huệ Năng sinh trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, lớn lên giúp mẹ bằng cách bán củi, chỉ nghe người ta tụng kinh mà ngộ nhập nên đã tìm Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn cầu học. Hoằng Nhẫn nhận ra ngay căn cơ nhưng bắt tiếp tục chẻ củi, giã gạo. Tới lúc Hoằng Nhẫn phải tìm người kế thừa nên bảo tất cả các học trò viết kệ lên vách tường. Chỉ có Thần Tú, một đệ tử xuất sắc nhất mới dám làm một bài, so sánh thân người tu hành như cây Bồ-đề và tâm như tấm gương, cần phải luôn lau chùi thì gương mới trong sáng. Huệ Năng đang giã gạo biết chuyện chạy ra cũng muốn viết một bài đối đáp lại bài của Thần Tú nhưng lại không biết chữ phải nhờ người viết hộ:
Bồ-đề bổn vô thụ,
minh kính diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật,
hà xứ hữu (nặc) trần ai?
Nghĩa là bản chất bồ đề vốn không phải là cây, gương vốn chẳng phải là gương, xưa nay thực ra không có vật nào cả, mà không có gì thì sao dính được bụi?
Bài kệ đã thể hiện giáo lý cốt tủy của Đạo Phật về tính không cũng như trạng thái cao nhất vô ngã của thiền định. Vì vậy Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn biết căn cơ của Huệ Năng vượt hẳn Thần Tú nên đã chọn vị chân tu tại gia, chuyên giã gạo, bổ củi là truyền nhân, trở thành Lục Tổ Huệ Năng. Từ ngài, thiền bắt đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng ngài mới thật sự là người Tổ khai sáng dòng Thiền tại đây.
17-4-2015

ĐÔNG LA

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

NGUYÊN NGỌC TRAO GIẢI PHAN CHÂU TRINH ĐỂ CHỐNG PHAN CHÂU TRINH

ĐÔNG LA
NGUYÊN NGỌC TRAO GIẢI PHAN CHÂU TRINH
ĐỂ CHỐNG PHAN CHÂU TRINH
 
 Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh là một Quỹ trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình, nguyên phó chủ tịch nước và đồng thời cũng là cháu ngoại của Phan Châu Trinh làm chủ tịch. Bên cạnh dịch thuật, Quỹ đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh được trao vào ngày 24/3 hằng năm, cũng là ngày mất của Cụ Phan Châu Trinh. Quỹ còn cho ra Dự án “Ngôi đền Tinh hoa Văn hóa Việt Nam thời hiện đại tưởng nhớ, tri ân và vinh danh các danh nhân văn hóa tiêu biểu. Tuyên ngôn sứ mệnh của Quỹ là:
Góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”.
Thư ngỏ của Chủ tịch Quỹ Nguyễn Thị Bình viết: “Quỹ hoạt động theo nguyên tắc bất vụ lợi”, “Quỹ kêu gọi sự tài trợ từ mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước”. 
Với tinh thần như trên quả là hay. Nhưng có điều tréo ngoe là một quỹ trực thuộc tổ chức có tầm quốc gia nhưng lại được thành lập theo quyết định của UBND TP Hà Nội và vừa rồi giải thưởng năm 2015 của quỹ đã gây ra những phản ứng.
Tôi nhận được thư của khối nhà báo thuộc Câu Lạc Bộ Kháng Chiến TPHCM cho rằng Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã trao giải không thỏa đáng cho Nhà Sử học Keith W.Taylor, từng là Cựu Chiến Binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam, và tôn vinh không đúng Trương Vĩnh Ký, một tay sai của Pháp, trong “Ngôi Đền Tinh hoa Văn hóa Việt Nam”!
***
K.W.Taylor, Tiến sĩ sử học, Giáo sư Đại học Cornell, trong bài “Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19” (Sách “The Birth of Vietnam”), từng viết:
Không khó để đọc cái gọi là ‘phong trào giải phóng dân tộc của Lê Lợi như là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh, với việc nhiều nhân vật Đông Kinh xem người Minh như thế lực bảo vệ chống cự sự quê kệch của các tỉnh phía nam”.
Có lẽ do là công dân một nước từng xâm lược VN nên ông GS người Mỹ này mới đồng tình cho giặc Minh xâm lược là “bảo vệ chống cự sự quê kệch của các tỉnh phía nam”, như nước Mỹ từng bảo vệ VNCH chống Cộng sản Miền Bắc xâm lược vậy. Ông “sử Mỹ” cần phải biết Nhà Minh nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, xâm lược VN, đã thực hiện chính sách xóa bỏ cả nền văn minh của nước ta, như đốt sách, phá văn bia, thiến hoạn đàn ông Việt, khiến dân ta vô cùng căm giận. Vì vậy Lê Lợi mới khởi binh, mới được dân theo về, mới có sức mạnh chính nghĩa đánh thắng được giặc Minh, giành lại đất nước. Chứ đâu phải như cái nhìn của ông “sử Mỹ” cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chỉ  là “cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh”!
Về sự thống nhất của lịch sử, của đất nước, của dân tộc Việt Nam, K.W.Taylor viết:
“Hiện nay ở Việt Nam chính phủ rất muốn nói rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử thống nhất và người Việt Nam là một cộng đồng thống nhất. Nhưng thật ra theo tôi, về quan điểm lịch sử thì điều đó không đúng”; “Cho nên tôi nghi ngờ về ý kiến phát triển lịch sử liên tục, một lịch sử thống nhất liên tục, tức là lịch sử của một nhóm lấy quyền hành chính dùng chuyện lịch sử để giảng dạy theo chính sách quốc gia của chính phủ. Lịch sử thống nhất liên tục là lịch sử không là lịch sử khoa học” (Bài: Cái nhìn mới về Việt Nam).
Lý do để ông ta cho Lịch sử thống nhất liên tục của VN không có tính khoa học là vì “Những người quyết tâm cai trị toàn bộ các dân tộc Việt… thể hiện niềm tin chính trị chứ sự thống nhất không phải là điều nghiễm nhiên”; “Nó không phải là một di sản mà đúng hơn, nó được nghĩ ra, được dạy dỗ và được học từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nó là một vấn đề truyền thụ. Một ‘lịch sử chung của người Việt’ là chuyện ý thức hệ và chính trị, không phải là học thuật”.
Ông ta hoàn toàn không hiểu Miền Nam là vùng đất hình thành khởi nguồn từ việc Nhà Nguyễn khai phá, xây dựng căn cứ địa để chống lại Nhà Trịnh. Một hài nhi được sinh ra từ cơn đau đẻ của người mẹ, còn hình hài chữ S của nước Việt chúng ta thực tế đã sinh ra từ máu của cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh đó! Cái giá phải trả quả là rất đắt,vì vậy mỗi tất đất của Tổ quốc có được như hôm nay là rất thiêng liêng! Sự thống nhất cũng là rất thiêng liêng! Vì hoàn cảnh bị xâm lược, lực ta cũng có hạn, chúng ta đã giành lại được cả một nửa đất nước nhưng vẫn còn chưa toàn vẹn lãnh thổ nơi biên cương, hải đảo. Không ai muốn điều đó. Nhưng những ngày hôm nay, có những “thằng Việt Cộng” luôn lấy điều đó ra làm cái cớ để quấy rối, chống phá đất nước. Thực chất hoàn hoàn không phải vì chúng yêu nước mà là mong “giải ngân”. Để được “duyệt”, họ cố chứng tỏ mình thành tâm chiêu hồi hồn ma chế độ VNCH; bất chấp điều tiếng là những kẻ phản bội; bất chất điều phi lý, tiếc nuối mấy hòn đảo bị mất nhưng lại chấp nhận nước ta bỉ xẻ làm hai mảng, chấp nhận Miền Nam là bàn đạp, là hàng rào cho nước lớn!
Quay lại với cái ông “sử Mỹ”, dù lịch sử hình thành nước Việt như vậy, nhưng để biện hộ cho Mỹ có mặt tại VN, ông ta cho miền Nam là một quốc gia độc lập, vì “Đông Kinh” (Miền Bắc) thuộc Đông Á còn Miền Nam thuộc Đông Nam Á:
Thật dễ dàng để cho rằng Đông Kinh có thể xem như một phần của Đông Á trong khi Nam Bộ được xem là một phần của Đông Nam Á. Nhưng điều này có ý nghĩa gì cho một ‘lịch sử chung’ của các dân tộc Việt? Và điều này có ý nghĩa gì cho Đông Á và Đông Nam Á với tư cách các phạm trù kiến thức học thuật?” (Bài Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19)
Không chỉ có vậy, ông ta còn cho nước Mỹ vì giàu mạnh nên phải có sứ mệnh sử dụng sức mạnh ấy để áp đặt ý muốn của mình lên thế giới:
“...tôi không chấp nhận nguyên lý cho rằng Hoa Kỳ không có lý do hợp pháp nào để can dự vào Việt Nam. Tôi cho rằng quyền lực toàn cầu trong tay Hoa Kỳ phải được nắm lấy như là một trách nhiệm, không phải là điều mà chúng ta cần tỏ ra hối hận” (Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào?); “Mỹ hoàn toàn có lý do để dùng sức mạnh ngăn chặn sự hủy diệt một tương lai dân chủ cho ít nhất là một số người Việt Nam”; “Thảm kịch Việt nam không phải là việc Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam mà là sự can thiệp được tiến hành một cách tệ hại và sự phản bội những người Việt (VNCH?) đã tin tưởng vào chúng ta”; “Ðể xóa đi trong tâm thức chuyện nhục nhã này, nhiều người Mỹ tìm thấy sự hài lòng khi dựa vào những mơ mộng lãng mạn của Hồ Chí Minh và những sáo ngữ lịch sử ngớ ngẩn về một dân tộc Việt Nam anh hùng đánh bại những đoàn quân xâm lược” (Bài: Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào?)
 Tuy nhiên cần khách quan, theo Nguyên Ngọc, Năm 2003 Keith W. Taylor viết một tác phẩm lịch sử mới về Việt Nam là A history of the Vietnamese (Một lịch sử của người Việt Nam). Trong cuốn sách này, ông đã dùng 30 trang để xóa hết những gì mình đã viết bằng tưởng tượng suốt 400 trang trước kia, “Đấy là một lịch sử Việt Nam với tính đa diện, đa chiều của nó Như tên sách mới, con người thật với vô số hay và dở, được và thiếu, thịnh và suy, thành công và thất bại, thường thắng lợi huy hoàng trong chiến tranh mà nhọc nhằn thất bại trong xây dựng ... Một cuốn sách như vậy không chỉ “tường thuật”, ngợi ca, mà đặt vấn đề, tất sẽ gây tranh cãi, thậm chí gay gắt. Nhưng đấy là cuốn sách của một người thật sự yêu đất nước này, muốn hiểu nó tận cùng như hiểu chính mình, để cho đất nước anh hùng mà khổ đau này sống được thật đàng hoàng trong thế giới xiết bao khó nhọc ngày nay Xin cám ơn Keith Weller Taylor, vì tình yêu chân chính và nổ lực trằn trọc của ông cho khoa học lịch sử Việt Nam, cho Việt Nam”.
         Tiếc là tôi chưa được đọc cuốn sách trên để xem nhận định con người Việt Nam “thường thắng lợi huy hoàng trong chiến tranh mà nhọc nhằn thất bại trong xây dựng” là như thế nào? Mà đến Nguyên Ngọc cũng cho là việc đặt vấn đề, tất sẽ gây tranh cãi, thậm chí gay gắt”! Nhưng chắc chắn có nhiều điều khó chấp nhận khi còn có những sự khác nhau của cách nhìn về nhân quyền, về tự do dân chủ giữa Mỹ và Việt Nam.
***
Theo Quy chế giải thưởng của Quỹ Phan Châu Trinh: “Người nhận giải phải là ứng viên được 100/100 số phiếu của toàn thể thành viên HĐKH… do nhà văn, nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyên Ngọc làm Chủ tịch”.
Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ tịch nhưng lại có ông Chu Hảo làm phó chủ tịch và ông Nguyên Ngọc là Chủ tịch Hội đồng Khoa học!
Có điều khó hiểu là Bà Nguyễn Thị Bình từng là Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, tại sao lại kết hợp với ông Chu Hảo, ông Nguyên Ngọc như vậy? Dù Chu Hảo cũng từng là thứ trưởng, Nguyên Ngọc là nhà văn nổi tiếng, nhưng hiện tại hai người này luôn ở trên tuyến đầu chống phá đất nước, chống phá thể chế này, mà đỉnh điểm là việc hai người này đã ký tên vào danh sách, gồm 72 người, đề nghị Quốc hội thay Hiến Pháp hiện thời bằng "Hiến Pháp" của họ viết, đề nghị bỏ Điều 4, hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, nghĩa là thay luôn thể chế chính trị.
Hơn nữa, tại sao một quỹ văn hóa lại chọn một người có quan điểm phản văn hóa, có bề dầy thành tích trong các vụ việc thể hiện tính phản thẩm mỹ, phản đạo lý là Nguyên Ngọc làm chủ tịch Hội đồng Khoa học để xét giải thưởng?
Nguyên Ngọc khi được giao trọng trách lãnh đạo Hội Nhà Văn từng tuyên ngôn “Cái cốt lõi của văn nghệ là tính nhân đạo”. Nhưng ông ta lại ca ngợi văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó có nhiều chi tiết, ý tứ ngược với ý trên. Từ việc cho nấu xác thai nhi cho chó ăn là “chả quan trọng gì”, chuyện bố chồng bắc ghế nhìn trộm con dâu tắm là “đàn ông chẳng có gì phải xấu hổ vì có con b.”, đến việc mô tả anh hùng dân tộc, Vua Quang Trung, như một lẻ lục lâm thảo khấu.
Về lý luận, Nguyên Ngọc dịch tác phẩm của Kundera mà triết lý sáng tác là Hiện tượng học ngược với Duy vật biện chứng. Đó là một triết thuyết đề cao nhận thức chủ quan cá nhân, mảnh đất gieo mầm Chủ nghĩa Hiện sinh từng gây ra cái lối sống bầy đàn, tự nhiên, hoang dã như thời tiền sử.
Đặc biệt về quan điểm lịch sử Nguyên Ngọc có rất nhiều sai trái.
Trước hết, qua văn chương, Nguyên Ngọc từng đấu tranh quyết liệt để cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được giải thưởng; một cuốn sách nhìn cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta bằng cái nhìn tâm thần nên đã coi niềm vui chiến thắng là nỗi buồn. Nguyên Ngọc cũng ca ngợi Dương Thu Hương, người đã kể trong ngày giải phóng ngồi trên vỉa hè Sài Gòn khóc như cha chết vì thấy phe chiến thắng là đội quân man rợ (thực tế bà này không có mặt nên đó chỉ là lời bịa đặt với tư duy của một con điếm chính trị).
Trực tiếp viết về lịch sử, trên TuanVietNam, 25/11/2013, Nguyên Ngọc viết: “Ở Pháp, một số các nhà sử học nổi tiếng đã lập ra một tổ chức gọi tắt là CVUH (Comité de vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy ban cảnh giác đối với việc đưa lịch sử ra sử dụng trong công chúng. Các nhà sử học uyên thâm ấy cảnh giác với việc chính quyền đương thời nhào nặn lịch sử để làm công cụ tuyên truyền cho những lợi ích chính trị…Tôi nghĩ một sự cảnh giác thật hiền minh như vậy cũng rất cần ở ta”.
Tôi đã viết “Việc bên ngoài người ta nhả ra chữ nào Nguyên Ngọc đớp ngay lại chứng tỏ cái dốt của ông ta”. Với các nước thực dân đế quốc đi xâm lược phi nghĩa, bọn bán nước phi nghĩa thì mới cần “nhào nặn lịch sử”. Còn với VN ta chỉ có một lịch sử oai hùng chống ngoại xâm, giành lại nền độc lập, thì cần gì phải “nhào nặn lịch sử” mà cần đến cái “cảnh giác hiền minh”?
Nguyên Ngọc còn “củ chuối” khi viết vì “hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh” người ta có những “tình cảm không bình thường”, nghĩa là ông ta cho chuyện căm thù tội ác của giặc là không bình thường! Chưa hết ông ta còn cho đừng tôn vinh các bà mẹ Việt Nam anh hùng quá vì các bà mẹ lính VNCH tử trận sẽ “tủi thân”!
Tôi đã viết:
“Viết như trên Nguyên Ngọc đã ngang nhiên phản bội những đồng chí, đồng bào của mình; lấy lòng những người từng bên kia chiến tuyến còn chưa nguôi thù hận. Nghĩa là đến tận hôm nay, Nguyên Ngọc còn chiêu hồi “Bên thua cuộc”, giống như một công dân mạng viết về Bùi Tín, Nguyên Ngọc cũng chính là “miếng giẻ chùi máu giày quân xâm lược”!
Đến đây thì chúng ta thấy, một người có quan điểm lịch sử phản động như Nguyên Ngọc thì ông ta chọn những cá nhân và tác phẩm trao giải thật khó mà đúng đắn!
***
Còn việc Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Trương Vĩnh Ký?
Tác giả Bùi Kha có bài viết rất kỹ về Trương Vĩnh Ký trên trang
giaodiemonline. Chỉ in trích vài đoạn. Bùi Kha viết:
“Sau một thời gian ngắn, trung tá hải quân Jean Bernard Jaureguiberry và 800 lính ở lại giữ thành Gia Định, còn Genouilly thì trở ra Đà Nẵng đánh phá lần thứ nhì.
Trước cảnh nước mất nhà tan, Trương Vĩnh Ký đã không tham gia phong trào đánh đuổi thực dân như bao nhiêu người khác. Trái lại ông còn viết thư cho viên trung tá thực dân nói trên, yêu cầu giúp đỡ để tiêu diệt quân dân Việt Nam mà họ Trương gọi đó là kẻ thù. Thư nói trên viết vào cuối tháng 3.1859, lúc Trương 22 tuổi, trong đó có một số đoạn như sau:
"... Nhưng tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Ki-tô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi... nỗi thống khổ mà chúng tôi hằng gánh chịu dưới bạo quyền của các quan lại triều đình gây ra... Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù [1] của chúng ta..." (Văn khố Hải quân Pháp, Paris: SUM Vincennes. TS Vũ Ngự Chiêu sưu tập)”.
“Trương Vĩnh Ký… trong thư ngày 28.4.1876, gởi cho tướng Pháp, Bossant, quyền thống đốc, để trình bày sự cầu mong thực dân Pháp chiếm và cai trị toàn xứ Bắc kỳ:
"…Và phải chăng sự khốn cùng đang bao trùm trong dân chúng, và phải chăng khắp nơi người ta đang nghe đòi hỏi những sự thay đổi và một nền cai trị hữu hiệu để duy trì trật tự, ban cho dân chúng một ngày mai”.
 “Sợ Pháp do dự không chịu chiếm, Bao-ti-xi-ta (tên thánh của Trương Vĩnh Ký) còn đem miếng mồi kinh tế béo bở của xứ Bắc Kỳ ra để khơi động lòng tham của thực dân Pháp:
"Và tất nhiên, xứ sở chẳng thiếu tài nguyên, đất đai mà tôi dám quyết rằng có thể sánh với thổ nhưỡng của nước Pháp, ít ra là đối với Algérie, chất chứa nhiều của cải đủ để làm nên tài sản cho một quốc gia. Đất này tiện lợi cho những vụ trồng trọt các mùa thay đổi khác nhau. Những cuộc thí nghiệm trồng nho và gieo lúa mì cho thấy những kỳ vọng chắc chắn. Tôi từng thấy lúa mì mọc trong đất, cây trông đẹp, bông đầy và lớn hạt. Tôi chưa nói tới ở đây những tài nguyên khoáng chất, người ta bảo là bao la, và tôi xin được phép nói rằng dân của xứ này đã chết đói trên một chiếc giường đầy vàng".
Như vậy, Quỹ Văn hóa mang tên nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh”, do cháu ngoại của cụ là Bà Nguyễn Thị Bình làm chủ tịch và ông Nguyên Ngọc làm Chủ tịch Hội đồng Khoa học, đã chọn Trương Vĩnh Ký, một tay sai của Pháp, để tôn vinh trong “Ngôi Đền Tinh hoa Văn hóa Việt Nam” chung với các nhà chí sĩ yêu nước chống Pháp, từng bị Pháp bắt là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu.
Đại tá Nguyễn Biên Cương trên trang Tôi là một người lính của mình đã viết:
Càng trong thời điểm này, ông Nguyên Ngọc lại càng nói nhiều về Phan Chu Trinh để làm hình tượng tiêu biểu cho cuộc Cách mạng của mình. Ông còn nói chuyện về Phan Chu Trinh với nhóm Reading Circles, mục đích chủ yếu để nhấn mạnh rằng đây là cơ hội để thay đổi đất nước, mà thực ra sẽ là để thay đổi chính quyền. Nhưng ông ta không hề đủ tư cách và nhân phẩm để nói về Phan Chu Trinh, truyền bá tư tưởng của cụ hay đại diện cho một quỹ văn hóa mang tên cụ. Tôi đề nghị các trí thức và bà Nguyễn Thị Bình cần xem xét lại tư cách của nhà văn Nguyên Ngọc, để ông ta không lợi dụng danh tiếng của quỹ để xây dựng bè cánh riêng cho mình nhằm lũng đoạn giới học giả Việt Nam”.
***
Nguyên Ngọc quả là một người đặc biệt, tôi đánh giá tài trí ông ta rất thấp dù vẫn còn nhiều người thần tượng ông ta, nhưng tôi phải nể cái tính chai lì, quyết tâm sai đến cùng của ông ta. Trên trang Trelang của Vũ Hoàng Sơn có đăng bài thú vị của Le Anpô, đúng là theo tinh thần “cái tổ con chuồn chuồn” về nhân vật đặc biệt này: Bác Nguyên Ngọc như tôi đã biết.
Tác giả đã lớn lên ở khu tập thể số 12 Lý Nam Đế, cùng xóm “phố nhà binh” với Nguyên Ngọc và các nhà văn quân đội khác. Le Anpô cho biết tính nết Nguyên Ngọc “rất khác người, ra đường cắm cúi đi, có ai chào mới trả lời, còn thì chẳng chào hỏi ai… Một lần cả nhà đang ăn cơm chiều, nghe tôi hỏi tại sao bác Nguyên Ngọc ít giao du với người trong khu tập thể, mẹ tôi bảo: “Úi giời, ông ấy khinh người chứ còn sao nữa. Le Anpô kể một lần bếp nhà Nguyên Ngọc bị cháy, không ai giúp, chỉ có nhà văn Nam Hà và nhà văn Chu Lai sang xách nước dập lửa. Vì “cùng ở tạp chí Văn nghệ quân đội với bác Nguyên Ngọc, không giúp là người ta cười cho, chứ chắc gì các chú ấy nhiệt tình”; “Nghe mẹ tôi nói, bố tôi bảo anh em tôi: “Khu này toàn gia đình bộ đội, anh em đồng chí sống với nhau bao nhiêu năm, phải sống thế nào mọi người mới lờ đi như thế. Sau này các con ở đây hay ở đâu cũng phải có hàng xóm láng giềng, đừng để lúc gặp khó khăn mà không ai muốn giúp”. Cuối cùng, người hàng xóm tổng kết: “Hồi bác ấy về làm ở báo Văn nghệ, nghe bác T hàng xóm bảo bố tôi: Tay ấy mà làm lãnh đạo thì khối thằng chết, đúng là nhất lé nhì lùn tam hô tứ rỗ”.
Xem chừng với Nguyên Ngọc khoa tướng số quả là chính xác thật!
11-4-2014
       ĐÔNG LA