Thứ Năm, ngày 28 tháng 5 năm 2015

PHẬT BÀ CƯỚI CON PHẦN I: MỘT VÀI HÌNH ẢNH

PHẬT BÀ CƯỚI CON
PHẦN I: MỘT VÀI HÌNH ẢNH
          Vừa rồi tôi được cô Vũ Thị Hòa mời dự đám cưới của chú rể là Lịch và cô dâu là Phương, đám cưới của hai Phật tử, tức con đường đạo của cô chứ không phải con đường đời. Ngày cưới vào đúng ngày Phật Đản (8-4-Ất Mùi (2015). Lịch là đứa con cưng nhất của cô, từng bỏ nhà theo cô mấy năm nay đi trên con đường tâm đức, hành đạo, giúp đỡ các thân nhân và các cơ quan tìm mộ liệt sĩ, lấy thuốc trị bệnh cứu người và làm tất cả những việc giúp cô cứu nhân độ thế. Tôi cũng được bố chú rể là ông Ba, cháu Phương là cô dâu gọi điện mời, dù cô đã bảo họ mọi chuyện để cô lo, nhưng họ tự thấy họ vẫn phải có lời mời.
          Tôi đã đi dự đám cưới tại khoảnh đất mà cô đã mua trồng vải và chè có địa thế tuyệt đẹp, lưng tựa vào núi, có dòng suối ôm trọn, ở Thôn Đồng Tâm (phường cô ở Yên Bái cũng là phường Đồng Tâm), Xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc. Một chuyến đi tuyệt vời về tình người, về đạo nghĩa, và tuyệt vời hơn cả là “được về với cô”! Mọi chuyện đã viên mãn, tôi đã lưu luyến chia tay cô trở lại với TPHCM tối qua. Có rất nhiều chuyện thú vị mà tôi sẽ kể vào số sau, số này tôi sẽ cho đăng ngay mấy tấm ảnh trước cho nó còn “nóng hổi”. Vì là ảnh tôi chụp và nhờ người ta chụp tôi vài kiểu, không phải là thợ nên không đầy đủ được.
(Nơi làm đám cưới khi còn nguyên sơ, 
từ trái sang: Anh Vịnh, anh Lãm, anh Tư, anh Nhương, anh Duật,
TS BS Thành, Đông La, chụp 8 tết)
(Chú rể, cô dâu tại nhà cô dâu khi nhà trai đến đón dâu)
Tôi cũng vinh dự được đích thân bố chú rể “năn nỉ”:
Mời anh cùng gia đình đi đón cháu”. Dưới đây là khoảnh khắc cô dâu được đón đến cổng nhà:
(Từ phải sang: cô dâu Phương, Chú rể Lịch, Đông La, cô Huyền)
          Đại tá, Nhà báo Đào Văn Sử, Trưởng ban Tổ chức đang điều hành lễ tiệc:
(Từ trái sang:  ông bà Ba (Bố mẹ đẻ của chú rể),
cô Hòa, anh Thu (mẹ cha đường đạo của chú rể, cô dâu)
(Toàn cảnh “Hội trường”)
(Từ trái sang: Anh Thu, cô Hòa, mẹ cô dâu, cô dâu, chú rể, mẹ chú rể)
          Khi nghi lễ hoàn tất, mọi người lần lượt chụp ảnh, tôi bị cô Hòa “bắt” lên chụp ảnh. Cô muốn mọi người đoàn kết qua tấm hình dưới đây:
(Từ phải sang: Đông La, cô Hòa, anh Thu, Đại tá Sử)
(“Bông hoa huệ” (hơi béo) bên Phật Bà)
          Nơi làm đám cưới, mảnh đất của cô trồng vải và chè tuyệt đẹp:
          Tôi đến dự trước một ngày, một trong những cái thú vị nhất là tôi lại được nằm võng đung đưa dưới tán vải, bồi hồi nhớ lại những ngày trong quân ngũ nằm võng ngủ dưới mái tăng trong những cánh rừng khi xưa:
Anh bạn tôi là PGS Nguyễn Hữu Sơn, Viện phó, Chủ tịch hội đồng Khoa học Viện Văn học VN, rất mừng là được tôi rủ đi theo dự đám cưới. Ngày cưới vào thứ hai cơ quan phải họp nên không dự được, nhưng cứ đi vì “chủ yếu là để được gặp cô”. Sau bữa cơm trưa no nê, ông bạn đang say sưa “kéo gỗ”:
Còn mọi người, sau tiệc cưới thừa mứa, vui vẻ tràn đầy, mọi người đi nghỉ, cô Hòa gọi tôi: “Anh Đông La ra coi này”, tôi theo cô thì thấy một khung cảnh tuyệt đẹp mà chưa đám cưới nào có được, khách khứa nghỉ ngơi nằm võng đu đưa dưới rừng vải:
 
          Thực ra, xong đám cưới những đệ tử thân thiết với cô vui hơn, vui vì việc lớn thành công mỹ mãn và đến tối mọi người quây quần bên cô nói chuyện. Cô nói tất cả mọi chuyện từ đời đến đạo, có lúc hứng chí xuất khẩu thành thơ, tự biên tự diễn, hò hát. Khi ấy cô hoàn toàn trở về là một người phàm, một “bà Hòa bán cá” đích thực, gần gũi, chan hòa, vui vẻ, giản dị. Cô vui vẻ kể chuyện đi tìm mộ, làm điệu bộ bắt chước thái độ người hiếu kỳ đến xem, đa phần từ chỗ không tin đến tin sái cổ. Cô không kiêng cữ bất cứ ngôn từ dân dã nào. Cô bảo “Như chuyện tìm mộ bố anh Trường “hói” tại nhà người ta đấy, có thằng con rể không tin. Lúc đầu nó bảo “ngoại cảm hả, toàn đồ ba xạo”. Rồi nó cứ ngông nghênh, đứng ưỡn cả buồi xuống mộ!”. Vừa nói cô vừa làm điệu bộ làm đàn bà con gái thì mắc cỡ không dám cười to, đàn ông thì mắc cỡ ít hơn nên cười to hơn, riêng tôi thì quá hiểu cô, tôi cũng không sợ cô, khoái chí cười đến chảy cả nước mắt. Cô bảo sau đó tìm được hài cốt thì anh chàng kia tin sái cổ, cứ chữa lỗi bằng cách năn nỉ biếu đoàn đi lấy mộ mấy quả mít vườn nhà anh ta. Cô kể xong, tôi bảo: “Cái câu hay nhất của cô em sẽ viết lên đấy!”. “Không được! Không được! Em chỉ nói ở đây cho vui thôi, anh không được viết lên!” “Em phải viết lên, nhà văn có tài là phải dùng được tất cả từ ngữ của con người”. Để không thất hứa nên tôi đã viết lên.
Dưới đây là một số hình ảnh rất dân dã và gần gũi của cô:
 
          
Ngược lại, nhiều lúc cô vẫn rất gần gũi, nhưng lại rất xa xăm, rất nhiều người nói với tôi họ nhìn thấy thần thái Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trong hình bóng của cô. Vì vậy từ già tới trẻ, kể cả chị em ruột của cô, đa phần đều gọi cô là “cô” và xưng “con”:
          Còn tôi thì hiểu về cô không đơn giản như thế mà tôi hiểu cô bằng tất cả sự thông minh của tôi, tri thức của tôi và tài năng của tôi.
          Còn rất nhiều chuyện hay qua câu chuyện đám cưới này, xin hẹn bạn đọc vào số sau.
          28-5-2015
          ĐÔNG LA



Thứ Bảy, ngày 23 tháng 5 năm 2015

CHẾ LAN VIÊN TRONG HỒI QUANG CỦA KÝ ỨC

          Đất miền Trung gian khó tôi luyện con người nên dễ sinh anh hùng và tài năng. Bác Hồ, Bác Giáp, Bác Duẩn, Bác Đồng đều quê miền Trung; Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử cũng quê miền Trung. Ngược lại, thật đáng tiếc, mật độ chống phá đất nước trong giới nhà văn cao nhất thì xóm nhà văn miền Trung cũng là cao nhất trong giới nhà văn. Có thể kể ra mấy gương mặt «cộm cán» như Nguyên Ngọc, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Quang Lập, Võ Thị Hảo, Phạm Xuân Nguyên, Huy Đức (San hô»), v.v... Dường như cũng do mảnh đất ấy chật hẹp nên đã làm cho những kẻ phàm phu, tục tử đầu óc nhỏ hẹp, cái nhìn thiển cận. Huy Đức đã nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu. Nữ Sử gia Josephine Stenson ở Mỹ, một đất nước cựu thù, dù rất biết “Trên thế giới người ta gọi Việt Nam là vương quốc “chuột nhắt” vì tệ trộm cắp thì không nước nào sánh bằng” nhưng vẫn tự bỏ tiền túi ra để đi từ Mỹ sang Pháp và Liên Xô cũ để tìm những di tích gốc về Hồ Chí Minh để rồi cuối cùng “Tôi xin dâng tặng những lời ca đẹp nhất về Hồ Chí Minh”; “Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân, ông càng vĩ đại hơn ở chỗ ông là một con người bình thường sống hòa lẫn vào trong cuộc sống của xã hội chứ không phải siêu phàm”. Ấy vậy mà Võ Thị Hảo từng là một “cháu ngoan Bác Hồ”, một nhà văn, lại viết láo lếu thế này: “Hồ Chí Minh được đưa lên làm thần tượng của người VN trước đây, được gọi là Bác viết hoa là vì ông đã rất giỏi tự tô vẽ, được tô vẽ, thần thánh hóa bởi bộ máy tuyên truyền và quyền lực bất chấp sự thật với nguồn kinh phí khổng lồ, nhai đi nhai lại về công lao và đạo đức của ông trong gần một thế kỷ thì mới đạt đến độ ấy”! Tôi đã gọi thị là “bất Hảo” có tầm nhìn cao xa của “bãi cứt trâu” là vì vậy.
           Độc giả thường vô đọc trang của tôi từ trang blogcanhsat4sao nên tôi đã vào trang này, rồi thấy “ta”, “địch” đủ cả nên cũng hay vào để “nắm tình hình”, vì thế tôi đã biết trang của ông Ngô Minh từ đây. Vừa rồi ngoài chuyện cho “20 nhà văn bị đuổi” là “tổn thất lớn” tôi thấy Ngô Minh cũng với tầm nhìn hạn hẹp “đặc sản Miền Trung”, với cả một sự nghiệp đồ sộ của Chế Lan Liên, đã chỉ nhặt ra mấy bài của ông để rồi cho ông là “sám hối”!
         Vì vậy hôm nay tôi xin đăng lại bài tôi viết về Chế lan Viên.
             23-5-2015
              ĐÔNG LA
CHẾ LAN VIÊN
TRONG HỒI QUANG CỦA KÝ ỨC

          Đây là bài tôi viết sau cái chết của nhà thơ lớn Chế Lan Viên 8 năm, người mà định mệnh đã ưu ái cho tôi được gần cận ông mấy năm cuối đời, chứng kiến toàn bộ “cuộc ra đi” về cõi vĩnh hằng của ông. Bài đã được in trong cuốn “Biên độ của trí tưởng tượng”. Gần đây, cập nhật những thông tin mới về ông, tôi có viết thêm ít dòng, những mong góp phần làm sáng rõ thêm chút nào đó về một tài năng và nhân cách lớn của nền văn chương hiện đại Việt Nam – Đông La.

          Vào một buổi sáng cách đây tám năm, khi đến thăm nhà thơ Chế Lan Viên, tôi thấy ông mừng như chưa bao giờ mừng như thế. Ông nói với tôi:
- Hú vía, cứ tưởng bị bệnh gì nặng lắm nào ngờ bác sĩ ở Bệnh viện Thống Nhất lại hỏi mình đã tẩy giun chưa?
Ông cười thật khoái chí. Ông mới đi khám bệnh hôm trước. Nhưng rồi cả ông, cả gia đình, và tôi cũng không ngờ rằng, đó chính là niềm vui trọn vẹn cuối cùng của ông ở cõi đời này. Bởi sau đó sẽ lại là bệnh viện, là tràn ngập thất vọng xen lẫn những hy vọng mong manh; sẽ là mổ xẻ, là di căn; rồi cuối cùng ông đã đi về “xứ không mầu”, về “Bầu trời khác cũng đầy hoa”…
Ông không bị bệnh đơn giản như thế. Sau đó vài ngày, tôi đã cầm thư tay của ông đến văn phòng Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh xin giấy giới thiệu để ông đi an dưỡng tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi có Bác sĩ Dinh, chồng nhà thơ Anh Thơ, bạn ông. Lúc tôi đi, ông còn nói với theo: “Ông nhớ nói nó ghi tôi chuyên viên 8 nhé”. Và rồi chính ở Bệnh viện Chợ Rẫy, người ta đã phát hiện ra khối u ác trong phổi ông.
Thoắt cái đã tám năm trôi qua rồi. Thân thể ông đã biến thành một bọc tro than rải xuống sông Sài Gòn và một bình tro xương đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm. Nhưng tinh thần ông, tư tưởng ông, thơ ca ông thì vẫn vẹn nguyên, vẫn sống động như thuở nào.
Như một quà tặng của số mệnh, với khoảng cách 35 năm tuổi và đỉnh cao của một tên tuổi lừng danh, tôi đâu có ngờ, sau khi đọc chùm thơ mà tôi dự thi ở cuộc thi thơ của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh năm 1986, ông đã dành cho tôi một tình cảm đặc biệt. Hôm đó, tôi đã nhờ cô Thường đưa thơ của tôi cho ông coi. Bà nói với ông:
          -Anh Hoan (tên ông) ơi, cậu này cũng có làm thơ, cậu ấy có chùm dự thi đây này, anh coi giúp xem.
          - Ông (ông thường gọi tôi vậy, còn tôi gọi ông là “chú” xưng “cháu”) cũng có làm thơ à? - Rồi sau khi đọc xong, ông reo lên - Ô, ông làm được đấy, ông sẽ được giải đấy!
          Tôi ngạc nhiên đến độ không còn biết đến vui mừng nữa vì không hiểu “được giải” nghĩa là thế nào? Sao ông lại cho giải ngay tại nhà ông? Rồi ông tiếp: “Tôi có thể cho ông giải cao nhất cũng được, nhưng ông chưa có lực khéo người ta giết ông đấy! Thôi, tôi cho ông đứng đầu giải ba!”. Ông nói xong, tôi còn ngạc nhiên hơn khi thấy ông vào trong buồng, bê ra một chồng vở khổ lớn ra khoe với tôi một cách hồn nhiên như khoe một người bạn tâm giao vậy:
- Ông biết tôi làm thơ như thế nào không? Khi nào nghĩ ra được một câu hay tôi chép vào quyển đầu này, khi nào có tứ sẽ phác thảo vào cuốn thứ hai, tôi đánh mục lục đàng hoàng để hoàn thiện dần.
Bấy giờ Vàng Anh còn nhỏ có thể không để ý đến “chuyện riêng” của tôi với cha cô; còn cô Thường có thể cô không nhớ, mà cô nhớ làm gì chuyện một người làm thơ trẻ đến gặp ông, vì người ta từng đến quá đông. Nhưng với tôi thì ngược lại, một người tập tọe làm thơ lại được chính Chế Lan Viên khen, còn cho giải nữa, thì không thể là chuyện bình thường được. Tuy nhiên, đang là cán bộ nghiên cứu của một Viện Dược, tôi cũng không đến nỗi quá phởn chí bỏ hết các thứ để lao vào thơ ca, không dễ ngây ngô bỏ mồi bắt bóng. Nhưng quả thực tôi vẫn muốn được Chế Lan Viên xác nhận lại khả năng của mình một lần nữa để tôi còn “liệu” cho tương lai của mình, nhưng tôi ngại không dám hỏi. Phải đến lần ông nói với tôi:
- Ông nên có một chỗ sinh hoạt. Để tôi bảo Nguyễn Quang Sáng ghi tên vào Hội thành phố trước đã, - ngẫm nghĩ một lát ông tiếp - Thôi, bây giờ ông lên văn phòng xin một bộ hồ sơ rồi nói với anh Chim Trắng là tôi nhờ anh ấy cùng tôi đứng tên giới thiệu ông vào Hội.
Tôi quá ngạc nhiên và quá xúc động, quả thực đời tôi chưa có một người dưng nào lại quan tâm tới mình như thế, lúc ấy tôi cảm thấy ông như cha của mình vậy và nhanh trí thừa dịp hỏi luôn:
- Thế… cháu làm thơ có được không chú?
          Ông cáu, nhưng sự phật ý này của ông đã mang lại đời tôi một trong những niềm vui lớn nhất, ông trả lời tôi hơi gắt:
- Ông tưởng tôi cho ông giải vì tình cảm riêng hở! Ông nên nhớ, trước ông đến nhà tôi đã có hàng vạn người rồi, nếu vì tình cảm mà cho giải thì bao nhiêu cho đủ?!
Từ đó, sau chính câu nói này của ông, tôi không còn băn khoăn đến điều mình có khả năng hay không nữa và xác định một thái độ nghiêm túc đối với việc viết lách, và noi gương ông, trước khi đặt bút viết, tôi phải tự trả lời được câu hỏi: “tại sao lại viết thế?”, nên đã tiếp cận sâu vào lý luận. Tôi có tham vọng muốn đến được tận cùng cái nguyên lý mà từ đó người ta đã xây nên những quan điểm về cái hay, cái đẹp, cái giá trị của tác phẩm nghệ thuật.
Tôi đã mở được cánh cửa đến với “Không gian Chế Lan Viên” là như thế. Từ đó tôi đã thành người thân của gia đình, được nghe ông nói nhiều về thơ, về những điều rất tinh tế, rất cao sâu. Ông không răn dạy mà thường chỉ bộc bạch, giãi bầy những suy tư trăn trở. Với những thành tựu đã đạt được, người khác chắc không ai đắn đo như ông: “Tôi đi giữa nét vằn và dáng ngựa/ Phối hợp hai cực hai đằng dễ đẻ ra văn”; ông cũng từng viết mà tôi chỉ nhớ ý: “Chỗ này sâu ư?/ Không phải, chỉ vì nước đục!/ Chỗ này nông ư?/ Không phải, vì nước trong nên ta nhìn thấy đáy./ Cái sâu cạn trong thơ là thế đấy!”. Ông cũng nói rất cụ thể với tôi:
- Thế nào là thơ hay? Thơ hay bắt đầu từ chữ hay, rồi đến câu hay, đoạn hay, toàn bài hay. Nhưng thế nào là hay? Cái hay là sự sáng tạo ra cái mới lạ, cái độc đáo, là ở độ khó để làm ra chúng. Nhưng tất cả những cái đó lại phải có ý nghĩa, có giá trị.
          Rồi ông đọc hai câu ca dao: “Tay trồng cây cửu lý hương/ Ba năm hai lá người thương dịt đầu”. Ông bảo phải trồng đến ba năm mới được hai lá để dành cho người thương quả là kỳ công thật, đúng là yêu nhau thật!
          Giờ ngồi nhớ lại mối quan hệ với một nhà thơ lớn mà cứ như nhớ về một giấc mơ, một câu chuyện cổ tích. Sau khi đề nghị trao giải cho tôi, giới thiệu tôi vào Hội, ông còn đến báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh gởi gắm tôi, rồi còn xin cho tôi đi làm ở một tờ báo… Quả thật, ông đã quan tâm đến tôi như sự quan tâm của một người cha.
          Hồi nhỏ, tôi vốn học khá những môn tự nhiên, luôn có ước mơ trở thành một nhà phát minh, nên thần tượng không phải là những nhà văn nhà thơ mà là những nhà bác học trán dồ và râu dài. Tôi không một mảy may quan tâm đến văn chương. Thế mà không hiểu sao tôi lại nhớ thơ Chế Lan Viên. Năm 1974, năm đầu vào chiến trường, một đêm dưới mái lá trung quân, tòng teng trên cánh võng, trong tiếng rì rầm của sóng sông Đồng Nai vỗ nhẹ vào bờ đá, tôi đã hứng chí đọc bài “Người đi tìm hình của nước” của ông, mà tôi được học trong sách giáo khoa, cho đồng đội nghe với một sự đắc ý về sự hiểu biết của mình.
          Nhà thơ Anh Thơ một lần đã tặng tôi một tuyển tập thơ, trong đó tôi lại rất thích những bài: Con cò; Tình ca ban mai; Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể của Chế Lan Viên. Thế là lần thứ hai, từ sự hồn nhiên, tôi đã yêu mến thơ ông. Riêng bài Con cò, khi quen ông, tôi còn dám bình trước ông nữa, không sợ gì chuyện múa rìu qua mắt thợ cả:
          - Cháu rất thích hai câu: “Con ngủ yên thì cò cũng ngủ/ Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi”. Lấy cánh cò thực đắp cho đứa bé đã là lạ rồi. Còn cánh cò ở đây lại ở tận trong lời ru cơ!
          Nghe xong, ông có vẻ xúc động, ông bảo:
          - Con Thắm đấy, con Thắm đấy!
          Với bài Con cò, ông đã thể hiện được một phần quan trọng trong đời sống tình cảm của mình. Bên cạnh những mối quan tâm lớn lao đến thi ca, đến mọi mặt cuộc sống, ông luôn có đam mê chăm sóc con cái bằng những việc li ti thường nhật. Còn hai bài: Tình ca ban mai Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể, tôi thấy là hai bài điển hình cho hai phong cách ngôn ngữ của thơ ông: ngôn ngữ có yếu tố tượng trưng và ngôn ngữ có yếu tố siêu thực.
          Lối tư duy bằng hình tượng, diễn tả ý tưởng bằng những hình ảnh tượng trưng là một thao tác được ông dùng thường xuyên. Khác với nhiều tác giả khác làm thơ tình, thơ lãng mạn, với sự giãi bầy, thổ lộ, kể lể, tán dụng… quá chi li cụ thể, gây cho người đọc thông minh một sự ngán do cái rõ ràng thừa mứa. Tình ca ban mai không thế. Chế Lan Viên đã để chừa một khoảng im lặng cho độc giả tự xúc cảm. Bài thơ đã được thiết kế một bộ khung thơ lãng mạn, các yếu tố tượng trưng được đính lên đó để thể hiện những ý tưởng, cảm xúc. Như vậy nó không lãnh đạm như tượng trưng của chủ nghĩa Tượng trưng, người đọc phải xúc cảm thông qua những ám thị trước những hình ảnh, mà tình cảm đã chan hòa ở tất cả các dòng thơ. Thế nhưng ý tứ cụ thể thế nào thì ông diễn tả theo đúng như Mallarmé, một trong những ông tổ của thơ Tượng trưng, từng nói: “Từng bước gọi ra một vật thể, và như thế phơi bầy một tình cảm”. Tất cả những sự chia ly, gặp gỡ, nỗi buồn, niềm vui… đều được ông thể hiện bằng những hình ảnh chiều đi, chim vườn, mai về, rừng non, trời trưa, nắng sáng
                             Em đi như chiều đi
                             Gọi chim vườn bay hết
                             Em về tựa mai về
                             Rừng non xanh lộc biếc…
Ta thử phân tích một câu đầu. Ở đây sự xa cách, nỗi buồn đã được thể hiện bằng hình ảnh chiều đi. Chiều đi là hoàng hôn về, rồi đêm xuống, tắt nắng, vắng lặng, rồi buồn, rồi cô đơn… Như vậy, từ hình ảnh gốc, nếu sử dụng đắc địa, phù hợp, nó sẽ có khả năng gợi mở, tạo ra một chuỗi những liên tưởng, giống như sự bắn phá của hạt nơtron sơ cấp vào một hạt nhân, sẽ tạo ra vô vàn hạt thứ cấp và các mảnh vỡ, dẫn đến hình thành một năng lượng khổng lồ. Có lẽ, sự thưởng thức, rung động trước một tác phẩm thi ca cũng từa tựa như thế.
          Về yếu tố siêu thực trong thơ Chế Lan Viên, còn rất ít sự phân tích. Việc nhận dạng tính siêu thực trong hội họa, trong văn chương cũng đã nói nhiều, nhưng còn mù mờ và mâu thuẫn nhau, kể cả những nhân vật có tiếng tăm. Người thì cho siêu thực là cao siêu, người thì cho là mờ ảo… Thực ra siêu thực là một quan niệm sáng tác, có cơ sở lý luận riêng, đã trở thành một chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật, đặc biệt là trong Hội họa và Thơ ca. Riêng Chế Lan Viên đã sớm viết về nó. Ông từng viết: “Siêu thực là gì: là romantisme jusq’au bout (lãng mạn đến tột cùng)… Người Trung Quốc gọi là kỳ, tânmới thì chưa đủ, sau tân còn phải kỳ (lạ) nữa…”. Khi bàn về cái lạ của ngôn ngữ thơ ca, ông từng trích những câu: “Mái nhà dài như một tiếng chiêng” (Trường ca Đam San); rồi “Anh về mua lụa bọc trời” (Ca dao);…
          Như vậy, tính siêu thực của ngôn ngữ thơ ca chính là tính bất thường khi thể hiện những sự vật, hiện tượng bình thường, với một sự tưởng tượng, liên tưởng cao nhất, để thấy một hiện thực khác trong tâm tưởng, nó phong phú, kỳ lạ, ấn tượng hơn với những ví von, ghán ghép đầy bất ngờ, tạo ra những chiều kích, hình dạng và những tính chất khác mà bản thân hiện thực tĩnh không có.
          Chế Lan Viên không chấp nhận và không làm thơ siêu thực thuần túy, ông không chấp nhận quan điểm thơ “đứng ngoài mọi thiên kiến thẩm mỹ hay đạo đức” của Chủ nghĩa Siêu thực; không chấp nhận thơ ca quá xa lạ với bản năng thích cái hay, cái đẹp hồn nhiên của con người. Thơ ông không có những hình ảnh siêu thực kỳ dị theo đúng tính chất ngẫu nhiên, sự gán ghép kỳ lạ của nó: “Đẹp như một cuộc gặp tình cờ của một cái máy may với một cây dù trên bàn mổ” (Lautréamont); hay như Breton mô tả hình dáng người đàn bà vừa như đồng hồ cát lại như con rái cá: “Vợ tôi… có vóc hình của đồng hồ cát… có vóc hình con rái cá trong hàm răng con hổ” (Tự do kết hợp -  Quỳnh Thư Hiên dịch). Ông chỉ chấp nhận tính kỳ lạ trong thơ mà hình như ông là người đầu tiên gọi là “yếu tố siêu thực” bởi ít nhiều nó có nét tương đồng. Ông coi nó như một chuyện tất nhiên trong sáng tạo, như một phần rượu trong một bữa cơm, là cách để “tăng năng suất ý”. Ông viết bài Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể:
                   Cái rét đầu mùa anh rét xa em
                   Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa
                   Một đắp cho em ở vùng sóng bể
                   Một đắp cho mình ở phía không em.
          Đây là bài thơ đã gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh. Chính tính bất thường của ngôn ngữ đã gây ra cái ấn tượng ấy. Chỉ một tấm chăn thôi mà đã đắp cho mình rồi còn đắp được cho người yêu tận nơi chân trời góc bể nữa. Cũng lạ như thế, hai câu trong bài Con cò mà tôi đã nói:
                   Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
                   Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
          Khi viết về Côn Sơn, ông đã thấy mùi hoa đại thơm từ tận thời của Nguyễn Trãi:
                   Côn Sơn thơm mùi hoa đại
                   Thơm từ thời Nguyễn Trãi đến thời ta

          Và khi đến với thiên nhiên, ông cũng nhận ra được một tính chất khác, một khả năng khác của nó:
                   Mỗi lần đau anh lại đến Tây Hồ
                   Chữa lành anh là bông súng tím
          Trong tập Điêu tàn mà ông viết từ thuở thiếu thời, tôi không chú ý lắm đến những đầu lâu, xương cốt, tháp Chàm lở lói… bởi chúng là những cái lạ lồ lộ, ai cũng thấy. Tôi lại chú ý đến những câu ông có cách diễn đạt lạ nhiều hơn:
                   Ta cùng nàng nhìn nhau không tiếng nói
                   Sợ lời than lay đổ cả đêm thâu
          Một động tác (lời than) lại có thể lay đổ được cả thời gian (đêm thâu). Lạ lùng biết bao nhưng cũng có lý biết bao! Khi người ta quá yêu nhau, đòi hỏi một sự hoàn thiện; khi trái tim quá nhạy cảm thì chỉ cần một dấu vết của sự không hoàn thiện thôi cũng có thể dẫn đến sự đổ vỡ, một lời than có thể làm hỏng mất cả cái đêm yêu đương huyền diệu kia. Đọc những câu thơ của ông, ta thấy được cái im lặng vô cùng của không gian, nhưng lại là cái im lặng trước một cơn bão, trước cái khoảnh khắc mà những dòng nham thạch của ngọn núi lửa đang lịm ngủ, chuẩn bị trào sôi!
Thế đó, tôi đã yêu thơ Chế Lan Viên từ khi chưa có mảy may nào bận tâm về văn chương, chưa từng biết mặt ông. Có lẽ vì người ta thường đồng cảm với những gì gần gũi với mình. Sau này làm thơ rồi khi xem kỹ thơ mình, tôi ngạc nhiên thấy mình cũng có khá nhiều câu thơ ngồ ngộ, ví dụ như: “Anh xa em gần nửa vòng trái đất/ Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa cầu”; rồi: “Con lại đến với ngôi trường sơ tán/ bốn bờ tường như bốn ụ đất lom khom/ Cô vá lại cho con cái ước mơ rách nát”… Khi cầm bút viết phê bình, tôi nhận ra những câu thơ lạ đó không phải là độc quyền của riêng ai mà chúng chính là sản phẩm của trí tưởng tượng, tức “hồn thơ” của mỗi thi sĩ. Chính trí tưởng tượng của nhà thơ đã tạo ra sự lạ hóa cách thức biểu đạt, từ đó mới tạo ra được những sắc thái biểu cảm mới, Lưu Quang Vũ tả mái tóc người yêu: “Tóc em dài như một ngày mỏi mệt”; và Phùng Khắc Bắc: “Con số 8 như vòng tròn vặn mình/ Giống như người đang quay ngoái lại”…
Từ khi được quen thân với Chế Lan Viên, tôi đọc ông kỹ hơn, những tác phẩm chính tay ông đề tặng, gia đình ông đề tặng, và tôi cũng tự đi tìm kiếm, tôi đã đồng cảm với ông rất nhiều. Tôi nhớ một lần ông nói: “Tôi muốn làm được loại thơ có thể đọc được từ trên xuống, cũng có thể đọc được từ dưới lên”. Tôi nhận thấy thơ ông gần như đã bao trùm hết cả. Từ những ngõ ngách, tầng cao, tầng thấp của cuộc sống tinh thần con người, đến những mối liên hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, giữa con người với tự nhiên. Và ông quan tâm nhiều đến sứ mệnh của thơ; ông làm nhiều thơ về thơ, muốn khám phá cái cơ sở triết lý hình thành nên thơ ca và sự tồn tại của nó theo thời gian.
Cùng là những người yêu thơ ông, nhưng người ta yêu cũng khác nhau, người thích bài này, người thích bài kia; người đánh giá giai đoạn này cao hơn giai đoạn kia… Còn tôi, giống như số đông, tôi thích tập Ánh sáng và phù sa. Có giai đoạn thơ ông nghiêng về tính chính luận, tính thời sự; giai đoạn cuối (phần di cảo) thơ ông nghiêng nhiều hơn về tính suy tư, về cái tôi. Ánh sáng và Phù sa đã hòa quyện tất cả những gì ông có. Nó có tất cả vẻ đẹp của thơ. Ông đã viết nên nó ở giai đoạn chín nhất, sung sức nhất của khả năng tư duy (khi ông 35- 40 tuổi). Ở đấy sự thông minh đã hòa tan vào tình cảm; mỗi trang thơ đều thấm đẫm cảnh sắc của thiên nhiên nguyên thủy, có hổn hển hơi thở ấm áp và nhịp đập rạo rực của cuộc sống. Ở đó có những bài thơ rất nổi tiếng, là những bài thơ tiêu biểu cho cả một giai đoạn văn chương: Người đi tìm hình của nước; Tiếng hát con tàu; Giữa tết trồng cây; Tình ca ban mai… Có những câu thơ được thuộc nằm lòng trong các thế hệ độc giả:
          Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
          Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương
          Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
          Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

                   Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
                   Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
                   Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
                   Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
                                      (Tiếng hát con tàu)
Nếu ai đã từng xa Tổ quốc, thấy mình thành dân thiểu số ở xứ người, khi cái tôi bị nhấn chìm trong sự xa lạ, sẽ rất thấm thía câu thơ của ông:
                   Tổ quốc thân yêu như quả tim thầm
                   Ở giữa lòng ta nào ta có biết
                   Trong xa cách bỗng à ơi giọng Việt
                   Ru lòng tôi qua ngàn dặm quê xuân
                                                (Ý nghĩ mùa xuân)
Còn đây là tình cảm của ông đối với Đảng - Người đã thay đổi toàn bộ cuộc đời ông; từ một chú bé chỉ thấy những điêu tàn đổ vỡ, đến mùa xuân cũng chẳng thiết: “Tôi có chờ đâu có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu/ Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau” (Xuân), lại trở thành một chiến sĩ cách mạng, đầm mình trong gian khổ, rồi làm thơ yêu đến rưng rưng từng gốc cây, ngọn cỏ:
            Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác
  Những vật vô tri cũng làm rưng rưng nước mắt            
 Đá sỏi, cây cằn sao bỗng thấy thiêng liêng
                           (Kết nạp Đảng trên quê mẹ)
Còn đây là những câu thơ tả cảnh tuyệt đẹp của ông:
Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc
Nơi bốn mùa đã hóa thành thu
          Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ
                   Những rừng rong tóc xõa lược trăng cài                                            (Cành phong lan bể)
Và đây là những câu thơ ông viết về tình yêu cuộc sống:
 Cởi giày ra cho chân anh giẫm lên cỏ xanh non
Có phải đất này từ lúc nhân dân tôi làm chủ
          Cái sống ngọt ngào trong từng ngọn cỏ
          Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn
                                                 (Tàu đến)
Quả thực, nếu ai chưa trải qua đắng cay, sẽ khó thấy hết ý nghĩa của ngọt bùi, Chế Lan Viên từng phải vượt qua những thách đố lớn của cuộc sống, những con đèo hiểm trở chắn ngang đường đời ông. Hiểu được cuộc đời lắm gian truân của ông, ta mới thấy tình yêu thơ ca của ông lớn biết bao nhiêu! Mới thấy hết cái nghị lực phi thường ở thi sĩ ấy:
Ta lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành
                                                        đai trắng
Lấn bệnh tật mà đi, máu đỏ lấn da xanh
Rồi:
Tôi nhặt từng hạt vàng sức khỏe rơi đi
Như mẹ già nhặt hạt thóc vàng đã đổ
          Nhặt từng hạt máu mặt trời vứt bỏ
          Từng giọt thi tài rơi vãi dưới chân đi
Có một phần rất quan trọng làm nên tính cách Chế Lan Viên mà hồi đó trước ông, vì ở một thế hệ khác, tôi giống như một đứa con ngoan ít khi để ý những chuyện rắc rối của bậc cha mẹ, ngay cả khi ông dặn tôi câu sau mà tôi cũng không chú ý lắm: “Đi đâu ông đừng nói thân với tôi nhá, người ta sẽ ghét ông lắm đó!”. Khi biết tôi quen Chế Lan Viên, một số người từng biết ông giai đoạn trước bảo, ngày xưa còn quyền lực ông “ác” lắm; ông có lối đối đáp truy sát không cho người đối thoại “ngóc đầu dậy” được. Như chuyện một nhà thơ từng bị ông loại thơ thế nào ấy nói: “Anh cậy có quyền dìm tôi”; Chế Lan Viên trả lời ngay: “Anh có nổi bao giờ đâu mà tôi phải dìm!”. Tôi cũng được nghe một số người kể chuyện ông Phan Quang vào Hội Nhà văn; Ban Chấp hành họp xem có nên duyệt không, đợi ý Chế Lan Viên, nhưng ông còn bận đi đái, đái xong vào ông bảo: “Thằng Thép Mới còn được ở Ban Chấp Hành xét người ta thì thằng Phan Quang làm gì không được vào Hội!”. Chuyện này cũng có trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, đoạn viết về Nguyễn Khải; theo Nguyễn Khải: “Chế Lan Viên một thời dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm… Họp Ban chấp hành ý Chế Lan Viên là quyết định… Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên… Ai cũng gọi là thằng tuốt, thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài. Riêng chuyện gọi “thằng” này thì quả thực khi có ý giới thiệu tôi vào Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, ông bảo: “Để tôi nói thằng Nguyễn Quang Sáng nó ghi tên vào Hội”, nhưng khi kể lại tôi đã sửa cho “mềm” đi. Cũng theo Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, Tô Hoài gọi Chế Lan Viên là “thằng nặc nô của Đảng”…
Tôi cho rằng những điều trên đây có thể có thật và đúng về Chế Lan Viên, ở gần ông, cũng có lần tôi chứng kiến ông cáu với người thân. Có điều, tất cả những “nết” vừa kể trên đây, tôi không cho là ghê ghớm, chúng không phải là những cái xấu, cái ác thực sự như cướp của, giết người, gian manh, đểu cáng, vu oan giá họa… mà chỉ là những cái tật thường tình của mỗi con người. Loài người từ trước tới nay có được mấy người toàn thiện, toàn mỹ? Trong một tính cách mãnh liệt của một tài năng lớn, cái “tài” thường kèm theo cái “tật”. Còn những tham vọng, những đấu đá, tranh đoạt của ông, nếu có cũng là sản phẩm tất yếu của một thời bao cấp, người ta chỉ có một con đuờng phấn đấu duy nhất là làm cán bộ, có ai nằm ngoài được cái vòng xoáy ấy đâu. Trong cuộc tranh đoạt ấy, tất có người thành công, kẻ thất bại; và người thành công sẽ hể hả, còn người thất bại sẽ cay cú. Có nhiều sự cay cú, bản chất là tầm thường, nhưng sau này lại được sơn phết một cách có chủ ý một lớp sơn sang trọng là: đấu tranh cho dân chủ và tiến bộ. Còn Chế Lan Viên, có thể nói ông thuộc phe thành công, nhưng tôi thấy với tài năng của ông, ông hoàn toàn xứng đáng có được những vị trí đã có, thậm chí còn phải cao hơn nhiều nữa, vì thực tế sau ông có những người tài còn kém ông xa, đã leo lên được những chức cao hơn ông rất nhiều!
Cuộc đời ai cũng có mặt tốt mặt xấu, Chế Lan Viên cũng vậy, nhưng những thành tựu ông đạt được trong văn chương đủ sức trùm lấp lên những điều vặt vãnh. Thật tiếc là ở ta đã xuất hiện một số cuốn hồi ký viết theo phương pháp “ngồi lê đôi mách”, mà chủ nhân của những câu chuyện chỉ dám nói nhỏ với những người “cùng giuộc”, chứ có cho “ăn kẹo” cũng không dám viết công khai. Vậy mà đã có những người mang danh nhà văn, giáo sư văn học này nọ, chỉ tách riêng những nét không hay dựng lên chân dung những nhân vật tên tuổi, trong đó có Chế Lan Viên. Việc lấy toàn những chuyện người ta tếu táo với nhau lúc trà dư tửu hậu, những lời nhận xét chê bai nhau đầy cảm tính ích kỷ, đầy thành kiến méo mó, đầy đố kỵ nhỏ nhen… thành tác phẩm để đời, thật là một hành động phi khoa học và vô văn hóa!
Còn được gần Chế Lan Viên, tôi thực sự ngạc nhiên khi nhận thấy ở ông có một tấm lòng nhân hậu đến hồn nhiên. Ông bảo vì quý Yến Lan nên ông đã đặt bút danh mình có chữ Lan. Là một nhà thơ lớn nhưng ông không khụng khiệng kiểu cách mà giản dị như những người bình thường, ông làm tất cả các việc vặt, từ đun nước tắm cho con, tưới cây, cho gà, cho lợn ăn, đào ao thả cá… Đặc biệt ông rất chung thủy, yêu thương và lo cho sự nghiệp của bạn bè, ông lo viết tựa giới thiệu thơ cho người này người nọ (hồi tôi gặp, ông viết cho Hàn Mặc Tử, Hoàng Trung Thông và Trần Nhật Thu…). Ông lo in tuyển tập cho người bạn thơ ông rất quý là Hàn Mặc Tử, chính tôi đã chở ông bằng xe đạp đến nhà thi sĩ Mộng Tuyết ở đường Nguyễn Trọng Tuyển, Tân Bình để chép tập Gái quê đưa vào tuyển tập. Hôm ấy ngồi chép, tôi rất cảm động khi nhìn Mộng Tuyết và Chế Lan Viên ngồi uống trà đàm đạo, để được vậy, tình bạn thơ của họ đã vượt qua cả một khoảng thời gian mấy chục năm và qua cả một cuộc chiến đầy máu lửa. Ông cũng là người rất trân trọng người viết trẻ, những cái mới. Hồi ấy ông quý tôi và anh Nguyễn Thái Sơn về thơ, ông quý Nhật Chiêu dịch thơ Hai-cu Nhật, quý người bạn cũ là Khổng Đức dịch Từ Tống và những người khác mà tôi không biết.
 Một điều nữa về Chế Lan Viên cũng cần phải nói đến, đó là gần đây những người chống chế độ đã nhân việc Chế Lan Viên làm mấy bài: Bánh vẽ; Trừ đi; Ai? Tôi? đã cho ông là sám hối, quay lại chống Đảng, chống Nhà nước. Thơ ca vốn đa nghĩa, nhất là thơ của một trí tuệ cỡ Chế Lan Viên, lại viết bằng ngôn ngữ tượng trưng, không nói cụ thể điều gì mà chỉ gợi. Nên việc lái ý thơ Chế Lan Viên thành chống đối không khó. Có điều, việc làm trên đã không chỉ hạ thấp nhân cách mà còn hạ thấp cả văn chương Chế Lan Viên. Bởi một thi sĩ lớn như ông nói riêng và những nhà sáng tác chân chính nói chung, người ta viết vì một sứ mệnh lớn lao mang tính nhân bản, nhân văn và vì sự tiến bộ của loài người nói chung, chứ đâu có lại biến tác phẩm của mình thành thứ công cụ xỏ xiên tầm thường! Có kẻ, ở ngay “phe ta”, còn định đôn cô con gái cưng của ông, nhà văn Vàng Anh, thành “ngọn cờ đổi mới”, chống lại chính ông nữa. Riêng tôi, đọc những bài thơ “chống đối” trên, lại thấy yêu mến ông trọn vẹn hơn, thấy ông đúng là một thi sĩ chân chính, đã không viết một chiều, không tô son trát phấn cho những sai trái, những mục ruỗng mà cuộc sống của con người, vì không phải là Thiên Đường, nên không thể không có. Ở đó vẫn còn có những lời nói chưa đi đôi với việc làm, có những tư duy mà ngôn từ chính trị đã tự phê là "duy ý chí " (Bánh vẽ) ; Ở đó vẫn còn có đây đó những người lính từng quên mình xông pha trong trận mạc trở về sau chiến tranh chưa được xã hội quan tâm đúng mức (Ai? Tôi?) ; và như một lời bộc bạch, ông đã tâm sự rằng có một thời, vì cái chung lớn lao hơn cả văn chương là sự thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến, thế hệ ông chưa thể viết được một cách trọn vẹn về cuộc sống (Trừ đi).
Nói chung về thơ Chế Lan Viên, mỗi giai đoạn ông đều có những bài đỉnh điểm. Ngoài những bài đã nhắc trong Ánh sáng và phù sa còn có Sao chiến thắng; Con cò; Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?; Ngày vĩ đại; Thần chiến thắng… và giai đoạn sau ông có Từ thế chi ca.
Nói đến cái chết của ông, trong tôi lại hiện về biết bao tình cảm. Những lời nói, những hình ảnh của ông trở thành những kỷ niệm không bao giờ quên. Ông thường bảo tôi đi dự những buổi ông nói chuyện, khi ở Trường Tổng hợp, khi ở Phát hành sách… Trong đêm thơ của ông ở nhà Văn hóa Phú Nhuận, khi Thúy Vinh ngâm xong bài Con cò, mọi người vỗ tay như sấm, ông nói nhỏ với tôi: “Thì ra mấy người nổi tiếng lại ngâm không hay bằng cô này”. Trong đám cưới Thắm, con gái ông, ông mời không nhiều, vậy mà ông cũng mời vợ chồng tôi; còn tôi thì coi như người nhà có nhiệm vụ khuân bia hơi tngoài đường vào nơi làm đám cưới ở Thư viện Thành phố Hồ Chí Minh. Một lần chở nhà thơ Anh Thơ lên thăm ông, thấy ông đang cởi trần bắt cá ở cái ao nhỏ sắp cạn trong vườn. Ông chỉ bắt được những con đã ngắc ngoải hoặc đã chết. Tôi liền xuống bắt cá cùng ông. Hai chú cháu một hồi bắt sạch cả ao cá…
Thế rồi sau cái buổi sáng ông đi an dưỡng ở Bệnh viện Chợ Rẫy đó, tôi đã đau đớn chứng kiến toàn bộ bao nỗi hy vọng thất vọng đan xen nhau, bóp nghẹt tim ông, làm âu lo và buốt đau bao trái tim những người thân yêu, những đồng nghiệp, và những độc giả. Tôi đã được chứng kiến giây phút người ta đưa ông ra khỏi phòng mổ, sau một một cuộc đại phẫu, ông nằm bất động, mặt sưng vù, nặng nhọc thở với phần phổi còn lại. Tôi cũng chứng kiến chứng di căn quái ác đã gặm mòn cơ thể, làm méo dần và cuối cùng làm mất hẳn tư duy ông. Câu cuối cùng tôi được nghe ông nói với tôi là về chuyện bắt cá: “Tôi vẫn nhớ tôi với ông cùng bắt cóc (ý ông nói bắt cá). Tôi đã làm cho ông một hũ mắm mà ông không lấy”. Khi ấy tôi đang làm chủ nhiệm đề tài chiết xuất thuốc chống ung thư, biết bệnh ông đã ở giai đoạn không thuốc nào chữa được, nhưng tôi vẫn lấy trộm một chai dịch chiết thuốc đưa cho cô Thường. Người ta còn mách cô cho ông uống phương thuốc bột than xác một loại rắn. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Lần cuối cùng tôi chở anh Hoài Anh lên thăm ông. Lúc này, từ đỉnh cao thông minh, ông đã thành người vô thức. Ông ngồi, hai tay giơ trước mặt trong tư thế đọc báo ngày xưa. Vàng Anh nhét vào tay ông tờ báo. Ông ngơ ngác đọc theo phản xạ mà không đọc gì cả. Rồi đến một chiều, đang ăn cơm, tôi chợt thấy hình ông trên màn hình ti-vi, bát cơm trên tay tôi rơi xuống, tôi nói với vợ cái tin hệ trọng: “Chú Chế Lan Viên mất rồi!”. Trong ngày liệm, tôi vội vàng đến phòng tang lễ Bệnh viện Thống Nhất để nhìn mặt ông lần cuối. Khi người ta mang thi thể ông ra khỏi ngăn lạnh, tôi thấy mặt ông quắt lại như già đi cả ngàn tuổi. Người ta đã trải cho ông một tấm nệm rất dầy, rất êm bằng trà và bông gòn trong chiếc quan tài tốt. Ông nằm trong quan tài mà như nằm trong mây ở tận chín tầng trời. Nhìn ông, tôi bỗng nhớ đến hai câu thơ của Hàn Mặc Tử mà ông đã trích dẫn, mở đầu cho bài tựa mà ông đã viết:
                   Một mai kia ở bên khe nước ngọc
                   Với sao sương anh nằm chết như trăng
          Tôi chưa được thấy những câu thơ viết về cái chết lại đẹp đẽ sang trọng như thế bao giờ!
          Lúc này tôi thấy những hạt nước đóng băng trên trán ông đã chảy ra trông như những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi của cả một đời lao lực. Để viết nên những câu thơ đẹp nhất, ông đã một đời tha hương, vượt qua nỗi buồn, qua máu lửa, qua gian khó, qua bệnh tật, qua những mối quan hệ lắm rắc rối của người đời. Tôi đã vĩnh biệt ông bằng cách lau đi trên trán ông những giọt lao lực ấy!
          Trong lễ hỏa táng, tôi đứng trước cửa lò, bên phải là Thắm đang lom khom coi và kêu lên khi thấy lò bên cạnh rừng rực lửa. Còn bên này tôi cũng thấy ngọn lửa trùm lên quan tài ông. Tôi như thấy linh hồn ông bay lên theo ngọn lửa, vĩnh biệt cái cõi thế có lắm đam mê, lắm niềm vui, nhưng cũng nhiều đau khổ và cực nhọc này!
         
Bình Thạnh, 1998
Viết thêm, 31-12-2008


Thứ Tư, ngày 20 tháng 5 năm 2015

BÀI ĐĂNG NHÂN GS NGUYỄN HUỆ CHI BỊ CẤM "XUẤT KHẨU":NGUYỄN HUỆ CHI “TÀI HOA VÀ UYÊN BÁC”?


Theo RFA (18/05/2015):
Vào lúc 12 giờ kém 15 khuya hôm qua, 18 tháng 5 năm 2015 Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã bị công an cửa khẩu sân bay Tân Sân Nhất tịch thu hộ chiếu và không cho xuất cảnh mà không cho biết lý do cụ thể ông vi phạm điều gì của pháp luật Việt Nam…
Giáo sư Huệ Chi cho biết sẽ làm mọi cách để đòi hỏi quyền công dân của ông phải được tôn trọng:
“Nhất định là tôi phải làm vì đó là quyền công dân của tôi mà, chứ tôi có mất quyền công dân đâu? Tôi là một công dân tự do trên đất nước mình và tự do trên phạm vi quốc tế. Nhất định tôi phải khiếu nại để biết được lý do vì sao lại sợ hãi một người bình thường. Tôi cũng không nói năng gì mà không cho tôi ra nước ngoài chì vì thăm gia đình con gái tôi mà lại do con gái tôi đưa đi nữa”… Giáo sự Huệ Chi là người cùng khởi xướng thành lập trang web Bauxit.vn rất nổi tiếng”.
Nguyễn Huệ Chi cũng là một nhà văn trong danh sách “bị đuổi” khỏi Hội Nhà Văn VN lần này. Cái nguyên nhân ông ta “bị đuổi” và cái việc bị cấm xuất cảnh lần này có lẽ tôi là người vạch ra đầu tiên. Tôi từng viết những tội như giết người, cướp của ai cũng biết nhưng “tội phạm tri thức” thì nhận biết không phải dễ. Bởi họ dùng cơ sở lý luận, cơ sở khoa học để chống phá nhà nước. Như ông Huệ Chi từng tuyên bố: “Học thuyết tương đối của Einstein rọi sáng cho cả một thời đại mới: thời đại “giải lý tính”” để rút ra “Ý nghĩa của cuộc đấu tranh phát huy tương đối luận”, phủ nhận thành quả cách mạng: “Chúng ta đã từng rút được không ít bài học thấm thía về sự cả tin vào ý chí của một thời vốn được mệnh danh là “thời đại cách mạng lay trời chuyển đất…khi ta mơ ước … về lý tưởng tối hậu của cuộc đấu tranh giai cấp”. Vậy muốn biết ông Huệ Chi sai phạm như thế nào thì phải hiểu cả khoa học, triết học và lịch sử.
Đúng theo triết lý “duyên khởi” của Đạo Phật, không phải tự nhiên mà tôi quan tâm đến những sai phạm của ông Chi mà khởi đầu là do ông Nguyễn Hòa biết tôi vừa biết khoa học tự nhiên vừa viết phê bình nên đã nhờ tôi “đánh” cuốn sách của cụ Cao Xuân Huy mà ông Huệ Chi là người chủ biên, xuất bản. Thú vị là có một ông tướng công an đã email cảm ơn tôi vì qua những bài như thế mà ông biết được loại tội phạm đặc biệt. Ông còn mua ba cuốn sách của tôi cho ông và hai con trai, nhờ tôi viết tặng hai con trai theo ý của ông để mong lý tưởng của các cháu kiên định hơn.
Lĩnh vực chống tội phạm thời gian qua tôi thấy chưa được “công bằng” lắm, người có chút tên, chút tuổi như Nguyên Ngọc, Huệ Chi… chẳng hạn dường như chưa được “quan tâm” đúng mức, làm cho họ ảo tưởng là càng “quậy” thì càng “vinh quang” nên họ lại càng “quậy” như ở chỗ không người vậy! Ngược lại nếu nghiêm khắc các vị sẽ “co vòi” ngay, như trường hợp Nguyễn Quang Lập vừa rồi chẳng hạn. Nên việc cấm “xuất khẩu” Huệ Chi lần này tôi thấy thật cần thiết.
Như đã trình bầy, nhân vụ 20 nhà văn “bị đuổi”, tôi sẽ đăng lại một loạt bài về họ. Lẽ ra đăng thêm vài bài về Nguyên Ngọc nhưng thấy tên Huệ Chi đang hot nên tôi cho đăng ngay vài bài về ông này.
20-5-2015
ĐÔNG LA


ĐÔNG LA
NGUYỄN HUỆ CHI “TÀI HOA VÀ UYÊN BÁC”?
Hội Nhà Văn Hà Nội đã rất sai trái khi trao giải tôn vinh một tác phẩm “đạo văn” của cả Vua (Trần Nhân Tông), “cướp chữ” của cả thầy, “đoạn thai, hoán cốt” công trình của cả trò. Đó là tác phẩm của ông Huệ Chi. Ấy vậy mà người ta còn ca ngợi Huệ Chi là“TÀI HOA VÀ UYÊN BÁC” nữa!!!
Dưới đây là bài viết của tôi để bạn đọc thấy ông Huệ Chi thực chất có “tài” gì? Bài được đăng tiếp liên tục trên báo Văn Nghệ TPHCM số 287, 16-1-2014:

Cuốn “Văn học cổ cận Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật” của Nguyễn Huệ Chi (Nhà xuất bản Giáo dục) mới được Hội Nhà Văn Hà Nội trao giải thưởng “Thành tựu”. Khi viết về nó, GS Vũ Khiêu đã ca ngợi GS Nguyễn Huệ Chi là “một nhà nghiên cứu văn học tài hoa, uyên bác” (phebinhvanhoc.com.vn, 18 - 05 – 2013). Trước đó TS Đặng Thị Hảo cũng ca ngợi hết lời GS Nguyễn Huệ Chi trong bài: “Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam” (phebinhvanhoc.com.vn, 10 - 5 - 2013). Như trước đây, ông Huệ Chi có thể yên tâm mà hưởng vinh quang, nhưng ở thời mà trình độ xã hội và tinh thần dân chủ đều đã được nâng cao hơn ngày xưa rất nhiều, thì không có ý kiến của bất kỳ ai có thể là chân lý được. Ai cũng có thể đúng, ai cũng có thể sai, dù đó là GS, Anh hùng Vũ Khiêu, người từng được ca ngợi là một “nhà văn hóa”, “một nhà triết học”. Gọi GS Vũ Khiêu là một nhà triết học tôi cũng hơi e ngại vì không biết ông đã có những phát minh tư tưởng triết học gì? Còn không, ông cũng chỉ là một học giả có nghiên cứu triết như hầu hết các “nhà triết học” của Việt Nam mà thôi. Mà việc nghiên cứu triết học của ông GS cũng cần phải xem xét thận trọng, vì ngay trong bài ca ngợi ông Huệ Chi này, những ý của GS Vũ Khiêu về triết học đã sai mất tiêu rồi!
Còn chuyện ông Nguyễn Huệ Chi có đúng là “tài hoa, uyên bác” như sự ca ngợi của GS Vũ Khiêu không ta hãy thử phân tích xem.
Trước nay, tôi đã viết khá nhiều về ông Huệ Chi, chủ yếu bàn về khoa học, triết học và chính trị xã hội, còn chuyên môn Hán Nôm của ông thì quả thật tôi chưa quan tâm. Dù vậy, tôi vẫn biết có ba người từng phê phán ông Nguyễn Huệ Chi về lĩnh vực này, đó là Nhà phê bình Nguyễn Hòa, GS Nguyễn Đình Chú và GS Mai Quốc Liên.
Gần đây, trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việ Nam, số 41, 12-10-2013, đã đăng bài của Nguyễn Hòa: “Đôi điều gởi tới GS Nguyễn Huệ Chi”. Về ý kiến cho việc phát hiện ra Trần Tung của Huệ Chi là một khám phá lớn, Nguyễn Hòa đã dẫn đầy đủ chứng cớ và có những lý lẽ xác đáng để “thách đố” Huệ Chi trả lời câu hỏi của mình: “GS Nguyễn Huệ Chi “đạo văn” hay “phóng tác” từ tác phẩm của Trần Nhân Tông nhưng lờ đi, không nói rõ nguồn gốc…?” Nguyễn Hòa đã đưa ra chứng cớ bằng hai đoạn văn, bài viết về Trần Tung của ông Huệ Chi và một đoạn trong Thượng sĩ hành trạng của Vua Trần Nhân Tông, rồi so sánh và thấy là: “tương tự”, ông Huệ Chi chỉ “thêm mắm thêm muối”. Tôi đã coi kỹ hai đoạn văn và thấy đúng như vậy. Trong Thượng sĩ hành trạng trên thientongvietnam.net, Vua Trần Nhân Tông xưng là “tôi” (theo tôi nên dịch là “ta” hoặc “trẫm” có lẽ hợp với giọng văn cổ hơn); còn bài Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý-Trần (trong cuốn được giải của ông Huệ Chi) thì ông Huệ Chi biến Vua thành nhân vật, nghĩa là ông Huệ Chi ngang nhiên thế chỗ tác giả của Vua. Một người dám thay tên Vua như vậy quả là gan cóc tía. Thảo nào đầu tháng 1 – 2012, Huệ Chi cũng cho Đảng “không là gì” khi trả lời phỏng vấn của BBC:
Đảng đối với chúng tôi không là cái gì cả… Vậy tôi không quan niệm rằng Đảng ở đây có vai trò gì hết cả. Mặc dù Đảng là quyền lực tối cao nhất…”.
Về vấn đề “diện mục Tuệ Trung”, Nguyễn Hòa viết: “Huy động rất nhiều tài liệu… để chứng minh Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Quốc Tung chứ không phải Trần Quốc Tảng, xem ra GS Nguyễn Huệ Chi… đã hì hục phá khóa một cánh cửa mà Nguyễn Lang đã mở sẵn từ 4 năm trước”. Còn bài của ông Huệ Chi viết về “truyện thơ lục bát” của chí sĩ Phan Châu Trinh in trên tạp chí Thời đại mới (11-2006) của Trần Hữu Dũng (một ông “Việt Cộng con” nay do “đột biến gen” lại theo đuôi đi chống Cộng rồi) thì Nguyễn Hòa trích trong bài viết của GS Mai Quốc Liên Vu cáo chính trị mập mờ học thuật cho Huệ Chi đã “đoạt thai, hoán cốt”, tức đã “rút ruột” luận án tiến sĩ của bà Trần Hải Yến, tức tác phẩm đó thực chất là “của em” Hải Yến chứ không phải “của thầy” Huệ Chi! Ông Huệ Chi phải thừa nhận chuyện này qua hành động gỡ bỏ bài báo mà không dám đăng lại ở đâu nữa.
Giống y như việc “thế chỗ” tác giả của Vua Trần Nhân Tông, “rút ruột” văn của “em” Hải Yến, GS Mai Quốc Liên cho biết: “Đối chiếu bản dịch thơ của ông NHC và của Trúc Thiên thì thấy: ngoài việc lấy lại vần, lấy chữ, lấy nguyên si một số câu; ông NHC “xuất nhập” một số ý, “biên tập” lại để thành bài của mình và rồi ký luôn tên mình, xóa mất tên Trúc Thiên vốn là người đầu tiên dịch bài thơ ấy”. Và tệ hơn nữa là, khi chế biến bản dịch của người thành bản dịch của mình, GS Liên cho ông Huệ Chi còn biến “lợn lành thành lợn què”:
“Hai câu cuối:
- Thấy chăng đàn én lầu Vương Tạ
Nay hết vàng son lạc vạn nhà.
(Ngữ Lục, Sđd)
- Hãy xem đàn én lầu Vương Tạ
Nay xuống làm thân với mọi nhà.
(Thơ văn Lý – Trần, Sđd, tr.250) (Huệ Chi dịch-)
Theo ý tôi, câu dịch Trúc Thiên sáng tạo hơn, hay hơn, nhất là chữ vàng son, chữ lạc thật đắt…”
Với cụ Nam Trân mà Huệ Chi là học trò ở lớp Đại học Hán học, GS Mai Quốc Liên cũng cho biết: “…bản dịch Ngục trung nhật ký của Nam Trân (1907-1967)… ông NHC đem ra “duyệt” lại bản dịch của thầy và bậc tiền bối đó… ông đã sửa chữa: 8 bài sửa 1 từ, 4 bài sửa 2 từ, 1 bài sửa 3 từ, 3 bài sửa 4 từ, 1 bài sửa 3 từ, 1 bài sửa 4 từ, 1 bài sửa 5 từ, 15 bài sửa từ 6 từ trong 3 câu trở lên. Chỉ sửa chữ, không sửa vần! Sửa có 1 chữ cũng ký tên mình vào! Thí dụ thì vô khối. Bài Dạ túc Long Tuyền, 3 câu trên gần như lấy lại nguyên văn, đến câu 4, Nam Trân dịch:
Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần
(Cách lân hân thính hiểu oanh đề: Mừng nghe chim oanh bên láng giềng báo sáng) (Nhật ký trong tù, 1960, tr.66).
Ông NHC bèn chữa lại:
Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần
rồi ký tên mình bên cạnh. Đúng là “lợn lành chữa thành lợn què”! Câu thơ dịch của Nam Trân đã là tối ưu so với câu thơ nguyên tác, xuôi thuận, đẹp về tiếng Việt. Còn oanh sớm là oanh gì? Có oanh chiều, oanh tối không? HIỂU là sáng sớm, ở đây nó là trạng ngữ của oanh, con chim oanh hót vào buổi sáng sớm, tức là nó báo sáng, chứ oanh sớm thì tiếng Việt chẳng ai nói thế, viết thế cả. Mà không chỉ có Nam Trân. Đến cụ Nguyễn Sĩ Lâm, Viện trưởng Viện Đông Y, một nhà Hán học cự phách, cẩn thận, chắc chắn, sâu rộng một tâm hồn thơ…, thầy chữ Hán chúng tôi ở lớp Hán – Nôm Sau Đại học (1972-1975) cũng bị NHC cướp chữ! Cả bài của cụ Nguyễn, 12 câu dịch, ông NHC thực ra chỉ chữa có 2 chữ: Vô ngần thành dữ dằn … nhưng ông lại ký tên mà là ký trước tên như là người dịch chính vào bài của cụ Nguyễn là cớ làm sao?
 Bài viết của Nguyễn Hòa trên Báo Văn Nghệ cũng nhắc đến việc GS Nguyễn Đình Chú cho biết sự thực là nhạc phụ của ông là cụ Nguyễn Đức Vân mới chính là có “vai trò chủ công” đối với “Thơ văn Lý – Trần” mà qua tay Huệ Chi “bạn đọc hôm nay dễ thường không biết”. Cụ thể trong Lời mở đầu sách Thơ văn Lý – Trần tập I xuất bản năm 1977, ông Huệ Chi với tư cách trưởng nhóm kiêm chủ biên đã ghi rõ từ năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện với cụ Nguyễn Ðức Vân, Ðào Phương Bình và cán bộ trong tổ đã trực tiếp tiến hành công việc: “đến năm 1965 thì việc sưu tầm cũng như phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”. Nhưng “sau ngày cụ Vân qua đời” thì “bộ sách Thơ văn Lý – Trần 3 tập lần lượt ra đời”, tên tuổi của cụ Nguyễn Đức Vân dần biến mất!
GS Nguyễn Đình Chú viết: “Trong bài viết “Nguyễn Ðức Vân: một người xứ Nghệ”, tôi cũng nói đến thái độ của hai người con trai của cụ là nhà văn Nguyễn Ðức Ðàn và nhà thơ Anh Ngọc đều có biết chuyện nhưng chỉ nhếch mép cười khẩy và nói với nhau: “Thôi, vua nước Sở mất cung, người nước Sở được””; “Còn tôi, con rể có điều kiện biết chuyện nhiều hơn thì cũng chịu im mặc dù đã bị một vài người bạn chê trách, thậm chí như là mắng rằng hèn, nhát”; “Nhưng không ngờ, tôi đã nhận được hai cú điện thoại của ông Huệ Chi và giữa hai bên đã có sự đối đáp với nhau. Và rồi tôi cũng nghĩ là mọi chuyện sẽ dừng lại ở hai cuộc điện thoại này mà thôi.
Nhưng lại không ngờ, tôi được nghe nói lại là ông Huệ Chi đã nói với một vài người rằng giữa ông và tôi đã có sự ổn thoả với nhau. Thậm chí, lại còn nói với vài người rằng: ông Chú đã xin lỗi mình (?!)”
Thế là cây muốn lặng mà gió chẳng muốn đừng, GS Nguyễn Đình Chú: “… buộc tôi phải nói thêm với ông (NHC) và cũng là với bạn đọc trong và ngoài nước. Nếu không tôi sẽ bị coi là người không biết điều, cố vơ quàng vơ xiên về cho ông bố vợ”. Trong 2 cú điện thoại mà ông “đối đáp” với ông Huệ Chi, GS Nguyễn Đình Chú cho biết có một câu mà Huệ Chi buộc phải xin lỗi ông:
Nguyễn Ðình Chú: … Tại sao năm 1977, trong “Lời nói đầu” sách Thơ văn Lý – Trần tập I, ông đã viết: Công trình “sưu tầm cũng như dịch thuật” các đồng chí Nguyễn Ðức Vân và Ðào Phương Bình trực tiếp tiến hành đến năm 1965 đã bước đầu hoàn thành, mà đến năm 2007 vừa qua khi cụ Vân đã qua đời 33 năm, trong đề cương làm sách Tuyển tập Thơ văn Lý – Trần ở Nhà xuất bản Hà Nội, ông lại viết là: “Việc sưu tầm nghiên cứu được đặt ra từ năm 1968?
Nguyễn Huệ Chi: Tôi sơ suất – xin lỗi”.
Còn chuyện thay tên, đổi chủ của ông Huệ Chi, GS Nguyễn Đình Chú cũng viết:
“… tôi và cả nhà tôi đã đến xin phôtô tất cả những gì mà cụ Vân đã dịch ở Viện để lưu niệm cho con cháu lâu dài thì tình hình là thế này. Những gì do thư viện bảo quản thì cơ bản còn đủ cả. Còn phần do Ban cổ cận của ông (NHC) bảo quản thì chỉ còn lại rất ít. Ðặc biệt, trong đó có một mẩu cụ Vân đã dịch nghĩa, dịch thơ và khảo đính mà ông đã pha chế thì chẳng ra gì, thậm chí còn là hao hụt, rồi đề thêm tên mình cùng cụ Vân”.
Cuối cùng, ông kết luận: “Như thế là tôi đã đưa đến quý vị một câu chuyện buồn mà với tôi cũng chẳng vui vì nó là chuyện nhếch nhác, lẩm cẩm giữa trần gian… Chỉ mong quý vị trong suy nghĩ vẫn giữ cho sự công bằng. Công bằng với người bị mất công bằng, nhưng cũng công bằng với cả người làm mất công bằng…”.
Như vậy, cái việc GS Vũ Khiêu bảo ông Huệ Chi là “tài hoa” xem chừng không phải mà là “tồi hoa” thì đúng hơn. Tức là khả năng làm việc tồi một cách khéo léo. Còn bà Đặng Thị Hảo viết: “ … bộ Thơ văn Lý – Trần – một công trình gắn với cả sự nghiệp sưu tầm, khảo cứu, dịch thuật cổ văn của ông, khẳng định tên tuổi Nguyễn Huệ Chi, là niềm tự hào của ngành nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật văn học cổ Việt Nam” xem ra nên viết ngược lại, là nỗi “hổ thẹn” thì đúng với thực tế hơn!
xxx
Còn cái vế “uyên bác” và “những tìm tòi có tính đột phá” mà GS Vũ Khiêu khen ông Huệ Chi? Và Đặng Thị Hảo viết: “Nguyễn Huệ Chi là một nhà khoa học vững cổ thông kim”?
Một người uyên bác phải hiểu biết rộng, cao, sâu hơn người cùng tầng lớp mình. Thực tế Huệ Chi quả có tham vọng “đột phá” vào những vấn đề mà giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và văn học cổ nói riêng không dám nghĩ đến. Đó là việc nghiên cứu, bàn luận những vấn đề mà ông ta tưởng tượng ra mối liên quan giữa tư tưởng cổ phương Đông với khoa học tự nhiên. Cụ thể như GS Vũ Khiêu viết Huệ Chi đã: “sưu tầm, tập hợp, lý giải và chú giải bộ sách quan trọng đầu tiên và duy nhất của cố GS. Cao Xuân Huy, một “người thầy, nhà tư tưởng” của anh. Đó là cuốn Tư tưởng phương Đông, gợi những điểm nhìn tham chiếu (1995)”; và như Đặng Thị Hảo viết, ông Huệ Chi đã: “viết 70 trang dẫn luận, nhằm khơi mở cho người đọc dễ dàng đến với những phát hiện, những triết thuyết cao siêu, thâm thúy, không dễ hiểu chút nào về tư tưởng triết học phương Đông của Cao Xuân Huy”.
Về vấn đề này, tôi đã đọc những bài phản bác Nguyễn Huệ Chi của GS Trần Thanh Đạm đã viết hình như trên Kiến thức ngày nay và Đỗ Kiên Cường đã viết hình như trên Văn nghệ Quân đội; còn tôi thì cũng đã viết và in trong cuốn Biên độ của trí tưởng tượng (Nxb. Văn Học). Gần đây có internet, tôi có điều kiện viết kỹ hơn trên những trang cá nhân của mình, và trong những ngày hôm nay, Báo văn nghệ TPHCM cũng mới in hai bài của tôi về vấn đề nêu trên.
Nếu GS Vũ Khiêu và bà Đặng Thị Hảo có đọc và hiểu được vấn đề trong các bài viết đó thì sẽ không ca ngợi ông Huệ Chi như thế. Vì những tư tưởng của cụ Cao Xuân Huy thực chất là phản triết học và phản khoa học vì cụ đã cho những cặp phạm trù cơ bản của Triết học Mác như Tâm-Vật; Không gian-Thời gian; Nhân-Quả là “hư cấu”; và Einstein là “Sai lầm cơ bản trong tư tưởng logic”! Vì thế việc làm của ông Huệ Chi không phải vinh danh thầy mà như bài trên Văn nghệ TPHCM số 282 (28-11-2013), tôi đã cho ông Huệ Chi là đã “vạch áo thầy cho thiên hạ xem lưng”!
Như vậy ông Huệ Chi không phải “uyên bác” như GS Vũ Khiêu viết, và cũng không “vững cổ thông kim” như Đặng Thị Hảo viết; mà tri thức của ông thực sự lõm bõm, ông ta “yếu cổ mờ kim” thì đúng hơn. Còn cái tính “đột phá” của ông thì chỉ là những ảo tưởng và tham vọng, nên sự “đột phá” đó đã biến thành chuyện húc đầu vào đá. Trong bài “Nhà Hán Nôm Huệ Chi nghiên cứu vật lý” trên Báo Văn nghệ TPHCM, số mới nhất 286, tôi đã viết về chuyện ông Huệ Chi từng đọc bài tham luận Tư duy phương Đông nhìn dưới ánh sáng học thuyết Einstein trong một cuộc “Hội thảo Khoa học” ở Trường Đại học Phan Châu Trinh (Quảng Nam). Thật ghê gớm, bởi muốn làm được vậy người ta đúng là phải “thông kim bác cổ”. Có điều khi đọc xong, tôi đã phải đặt câu hỏi là “tại sao một cuộc Hội thảo được tổ chức bởi một tạp chí của Bộ Khoa học và một trường đại học, với ban cố vấn và ban lãnh đạo là những nhà khoa học và nhà trí thức hàng đầu VN, lại cho tham luận một “công trình” phản khoa học, phản triết học, phản thực tiễn đến thế?!” Vì ông Huệ Chi hoàn toàn không hiểu khoa học tự nhiên nói chung và Thuyết Tương đối nói riêng. Cả bài tham luận của ông là một mớ những mâu thuẫn và những gán ghép khiên cưỡng, lầm lẫn.
Xin nhắc lại tí, trong cái “công trình” nghiên cứu buồn cười của ông Huệ Chi, ông ấy thấy trong xe đang chạy có một con ruồi bay thong dong, ông cho rằng tại nó nhỏ, nên thuyết Tương đối có tác động, còn ông ta to sẽ không chịu tác động, nên nếu cũng lơ lửng được, ông ta sẽ bị đẩy về sau ngay. Tôi đã bảo ông ta là không phải đâu, con ruồi bay được là do lực quán tính chứ không phải do tương đối tương điếc gì hết, mà lực quán tính tác động mọi vật như nhau, cả khi trong xe nếu có con voi lơ lửng được thì nó cũng như con ruồi, sẽ không bị đẩy về sau đâu. Quy luật vật lý nó thế chứ hoàn toàn không phải là tôi tự nghĩ ra!
***
Tôi vốn làm nghiên cứu khoa học tự nhiên tại một viện dược, được nhà thơ Anh Thơ phát hiện và giới thiệu đến Chế Lan Viên. Cảm động vì sự quý mến và quan tâm của Nhà thơ lớn Chế Lan Viên, ông đã đề nghị trao giải thơ cho tôi trong một cuộc thi của Hội Nhà Văn TPHCM 1986, rồi đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn TPHCM, tôi đã dấn thân vào con đường văn chương là vì thế chứ không vì cái gì khác. Tôi không biết GS Nguyễn Huệ Chi là ai. Một hôm tôi quá bất ngờ khi nhận được email của ông Triệu Xuân. Nội dung email chính là “thư của ông Huệ Chi” gởi nhiều người, “tung truyền đơn trên mạng”, trong đó có Triệu Xuân. Số là tôi có viết bài “Các Mác-một tình yêu bao la”, tôi muốn viết về chuyện người ta đã hiểu sai Mác là chính chứ cũng không phải ca ngợi gì. Gửi báo trong nước không được đăng, tôi mới gởi cho trang mạng talawas. Sau khi được đăng, không ngờ nhận được thư của Huệ Chi. Ông ấy cho là tôi muốn thế thân cho Mai Quốc Liên và Trần Mạnh Hảo, vì hai ông này hết thời rồi. Phải với giọng điệu như tôi thì may ra mới giúp được Đảng tiếp tục “thực hiện canh bạc bịp” với thế hệ trẻ ngày nay. Quả thực, đây đúng là một sự vu cáo, vì tôi viết độc lập, chỉ với tư cách một nhà nghiên cứu khách quan chứ không vì cái gì hết. Mà tôi cũng không là một đảng viên và cũng đã bỏ công chức từ tận năm 1994 rồi!
Thật trớ trêu, một người hưởng nhiều danh lợi của chế độ lại đi chống chế độ. Còn tôi không được gì nhưng lại đi bảo vệ như một “văn nô”. Đơn giản là vì tôi thấy, chế độ hiện thời dù còn nhiều tệ nạn, còn nhiều yếu kém, nhưng “vẫn có bia uống đều đều”, còn chế độ mà rơi vào tay những người có tâm và tài như ông Huệ Chi thì đến nước lã cũng không có mà uống. Bởi với trí tuệ của họ như đã phân tích, thì đôi cánh tư tưởng của họ chỉ là đôi cánh ruồi chứ không phải là đôi cánh vũ trụ đâu!
6-1-2014
ĐÔNG LA