Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

DẠY CHO PHẠM THÀNH “BÀ ĐẦM XÒE: “CUỘC CHIẾN” GIỮA CÁI “THÂM” CỦA NGƯỜI TẦU VỚI CÁI “KHÔN” CỦA NGƯỜI VIỆT

ĐÔNG LA
Vừa rồi nhân TBT Nguyễn Phú Trọng đi thăm Trung Quốc, tôi đi “nắm tình hình” thì trong bọn “rận, bọ” có kẻ mà cộng đồng quấy rối trên mạng phong cho là “nhà văn”, là Phạm Thành, có nickname nhố nhăng là “Bà Đầm Xòe”, có viết bài Nguyễn Phú Trọng và Đảng CSVN tiếp tục thực hiện chủ trương nhập nước Việt Nam vào nước Trung Hoa giai đoạn cuối. Độc việc song song TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc, ta tiếp đón Ngoại trưởng Mỹ, Thủ tướng Nhật trong mấy ngày vừa qua, đủ  thấy lý lẽ của Phạm Thành ngu xuẩn đến mức nào, vậy mà tự khoe từng học “trường Tuyên giáo” mới ghê chứ! Lẽ ra gần tết rồi nên bàn về văn hóa, văn chương nghệ thuật, về tâm linh, tôi cũng đang nghiên cứu viết một bài khá thú vị, nói rõ hơn về nét tương đồng giữa Đạo Phật và Khoa học, thấy bài của Phạm Thành láo quá, không thể “cầm lòng” được. Đối thoại với loại không có óc người như Phạm Thành chỉ mất công nên tôi đăng lại bài “CUỘC CHIẾN” GIỮA CÁI “THÂM” CỦA NGƯỜI TẦU VỚI CÁI “KHÔN” CỦA NGƯỜI VIỆT mà khi đăng lên có lúc “cả thế giới” vào đọc dạy cho thằng ngu này một ít!
20-1-2017
ĐÔNG LA

ĐÔNG LA
“CUỘC CHIẾN” GIỮA CÁI “THÂM” CỦA NGƯỜI TẦU
VỚI CÁI “KHÔN” CỦA NGƯỜI VIỆT

Có lúc "cả thế giới" vô đọc bài này: 

Với dân thường VN, dường như tận sâu trong máu, có gen dị ứng với người Tầu. Phải chăng vì cái ách đô hộ 1000 năm trong quá khứ? Nhưng Pháp cũng đô hộ ta 100 năm, 1945 lại để mất VN vào tay Nhật dẫn đến nạn đói dân ta chết đến 2 triệu người; rồi Mỹ từ ngày đầu can thiệp cũng tới 30 năm, đã đổ quân bắn giết và dội bom đạn xuống đầu dân VN, đỉnh cao là mang B52 “trải thảm” bom xuống ngay trung tâm Thủ đô Hà Nội. Nhưng hôm nay xem chương trình ca nhạc, từ những cháu bé đến sao siếc gần như ngày nào cũng có bài hát tiếng Anh vang lên trên VTV. Dân Việt Nam đúng là không thù dai, nhưng vẫn luôn dị ứng với người Tầu, có lẽ vì họ “thâm”.
          Một lần xem quảng cáo chảo không dính thấy tốt quá, tôi alô mua, khi nhân viên mang hàng đến, biết là của Tầu, tôi thôi ngay, tốt đến mấy cũng không mua. Nghĩa là tôi cũng như nhiều dân VN có máu ghét Tầu. Nhưng hôm nay dù tôi không đảng viên vẫn viết bài nhiệt liệt chúc mừng “đ/c Tập Cận Bình” vừa thăm hữu nghị VN thành công rực rỡ. Cần phải phân biệt, khác với tình cảm bình thường, tình cảm này của tôi là tình cảm chính trị tư tưởng, tình cảm ngoại giao, nó phù hợp với thế và lực của VN, và như vậy sẽ có lợi cho VN. Một người hiểu biết cần phải như thế, còn nếu là nhân sĩ trí thức chân chính nữa thì càng phải như thế.
***
Việc Trung Quốc lấn chiếm biển đảo của ta rõ ràng là không tốt. Nhưng cũng phải xem lại lịch sử, nước ta năm 1887, vua thì bị bắt đi đầy, tên nước đã bị xóa, tức đã mất hoàn toàn vào tay Pháp, thành bộ phận của Liên bang Đông Dương. Trung Quốc là một trong hai nước chủ yếu giúp ta kháng chiến giành lại nền độc lập, dù họ có “cấu véo” một tí, nhưng so với việc giành lại chủ quyền đất nước, thì rõ ràng ta vẫn “lời” hơn rất nhiều.
Không ai muốn một tấc đất mà hàng ngàn năm Tổ Tiên ông cha ta đã đổ máu gìn giữ được, nhưng sức ta có hạn, không phải mọi thứ đều như ý, như Nhà Nguyễn hoàn toàn không muốn mất nước vào tay Pháp. Năm 1956 khi Pháp rút khỏi Việt Nam, trong bối cảnh ta chưa đủ khả năng để quản lý các vùng biển đảo, Trung Quốc đã chiếm cụm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc đã đánh chiếm nốt toàn bộ cụm đảo phía Tây của Hoàng Sa. Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng với lực lượng hải quân nhỏ bé, chúng ta chỉ cai quản được ở một số đảo. Không chỉ Trung Quốc, năm 1971, Philippines đã lấn chiếm 5 đảo phía Đông Trường Sa, đến 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía Bắc. Với Malaysia, cho đến năm 1979, họ đã chiếm 7 đảo phía Nam Trường Sa. Đặc biệt năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, Trung Quốc đã đánh chiếm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa. Như vậy hậu quả của các cuộc xung khắc thật tai hại, nhất là với nước lớn sát vách như TQ, họ dễ dàng xâm lấn đất của ta, rồi dù có bình thường hóa trở lại, đòi những gì ta đã mất là rất khó, nhất là vùng hải đảo xa xôi, họ hoàn toàn có thể bịa ra căn cứ pháp lý chủ quyền.
***
Như vậy chúng ta để mất một phần biển đảo trước hết do sức của chúng ta và do bối cảnh cụ thể ở từng thời kỳ. Pôn pốt từng gây chiến cuối năm 1978, chỉ cần một tháng, đầu năm 1979, quân ta đã quét sạch bọn Khơ me Đỏ. Nhưng Trung Quốc lại không nhỏ như Cămpuchia, ngược lại, ta chỉ ngang với một tỉnh của họ thôi, nên không thể dùng một trận mà đòi lại được biển đảo. Còn giả sử ta có phép mầu tiến hành kháng chiến trường kỳ thắng được Trung Quốc thì đất nước cũng nát tan. Dọn nhà tránh hàng xóm đã khó còn dọn nước để tránh láng giềng là hoàn toàn không thể. Làm một trận đòi lại của đã mất cũng không được. Vậy chỉ có cách “sống chung với lũ” mà thôi.
Vấn đề biển đảo chỉ có thể dùng chiến lược ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết để đối phó với TQ. Việc những ngày hôm nay chúng ta trải thảm đỏ, bắn đại bác chào đón “đ/c” Tập Cân Bình thăm VN cũng là một cách đối phó đó.
Ta đối phó bằng chính sự chân thành, khi nhận ra sự chân thành của chủ nhà thì dù là kẻ ác cũng phải nghĩ đến đạo lý, đến đúng sai, phải trái. Ngược lại, ta đã nhỏ yếu, lại ứng xử theo kiểu tiểu nhân, lưu manh, xỏ xiên thì ta sẽ được nhận lại thái độ gì, và ta cũng sẽ làm được gì họ? Vì vậy, những người cho rằng ta đón Tập Cận Bình là do ta có phe thân TQ, rồi ta hèn nhát, v.v… hoàn toàn chỉ là luận điệu xuyên tạc. Họ đã cực lực phản đối ông Tập, có điều khi ông Nguyễn Phú Trọng đi thăm Mỹ họ cũng phản đối luôn. Như vậy chỉ là một lũ quấy rối, mà đã quấy rối thì cần gì lý lẽ.
***
Nhìn lại xuyên suốt cả quá khứ quan hệ với Trung Quốc, ta thấy một điều thú vị, nếu cho Trung Quốc là “thâm” thì chính ta cũng rất “khôn”. Nếu tính sòng phẳng thì trong cuộc “đấu trí” này chính ta mới là người thắng chứ không phải Trung Quốc. Và không chỉ “thắng” Trung Quốc, ta cũng “thắng” luôn cả Liên Xô. Ta đã thực hiện thành công chiến lược ngoại giao tài tình. Vì thực chất Liên Xô và Trung Quốc, khi viện trợ cho chúng ta trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, không phải như khẩu hiệu vẫn nêu hoàn toàn vì lý tưởng Cộng sản, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Nhưng chúng ta vẫn nhờ được họ và thực hiện được thành công mục đích tối thượng là thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập. Rồi từ thành quả đó, trong quá trình xây dựng đất nước, chúng ta đã cố gắng hết mức để bảo vệ chủ quyền, đã giữ được nguyên hiện trạng, bảo vệ vững chắc những gì chúng ta đã giành lại được.
***
Số phận của Việt Nam từng bị đặt trên bàn cờ chính trị, ngoại giao trong mối tương quan giữa ba nước lớn Liên Xô – Trung Quốc – Mỹ.
Trước hết là mối quan hệ của ta với Liên Xô và Trung Quốc. LX và Trung Quốc vốn mâu thuẫn nhau. Mà dân ta mất nước thì không thể tay trắng giành lại độc lập mà buộc phải nhờ vả thiên hạ, mà sự giúp đỡ của “anh cả”, “anh hai” đều quan trọng cả. Trung Quốc là căn cứ địa, nhưng lại không có đủ loại vũ khí; còn Liên xô có vũ khí thì lại ở xa. Vì thế sự hục hặc của hai “ông anh” đã làm ảnh hưởng rất xấu đến Việt Nam.
Khi quá khứ dần lùi xa, nhiều tài liệu được công bố, ta thấy thực tế chưa bao giờ có một tình hữu nghị lý tưởng cả mà ai cũng vì lợi ích của mình trước hết.
Với Liên Xô, đến thời kỳ “xét lại”, Liên Xô đã xem nhẹ công cuộc giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, ngại chiến tranh hạt nhân với Mỹ, đưa ra chủ thuyết “chung sống hòa bình”. Quan điểm xét lại của Liên Xô như gáo nước lạnh dội vào ngọn lửa cách mạng ở nước ta. Podgornưi, một trong ba lãnh đạo Liên Xô, đã nói với ông Lê Duẩn: "Các anh không thắng nổi Mỹ đâu". Lê Duẩn đã trả lời: "Các đồng chí không tin à? Chúng tôi sẽ thắng cho các đồng chí xem". Vì thế ở ta từng có Hội nghị Trung ương 9 chống chủ nghĩa xét lại hiện đại. Sau Hội nghị, ông Lê Duẩn được cử sang góp ý và kiến nghị Liên Xô xem xét lại quan điểm của mình. Chính lần này ông Bí thư đã thể hiện tài ngoại giao kiệt xuất. Khi gặp phía Liên Xô, Lê Duẩn không nói gì về Nghị quyết 9 mà lại cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô đã giúp cho tình hình cách mạng Miền Nam tiến triển rất tốt đẹp và yêu cầu Liên Xô giúp đỡ tích cực hơn nữa. Khơ-rút-sốp đang chuẩn bị đối phó thái độ phê phán của VN nhưng lại được nghe những lời cảm ơn như vậy nên rất mát lòng mát dạ và đã vui vẻ chấp nhận yêu cầu của ta.
Với Trung Quốc, dù luôn hô khẩu hiệu hữu nghị, nhưng thực chất chúng ta chưa bao giờ tin Trung Quốc giúp ta một cách vô tư. Chính TBT Lê Duẩn là người rất sớm nhận ra chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc và thể hiện bản lĩnh của VN trước họ. Theo ông Trần Quỳnh, trong một lần gặp nhau, Mao Trạch Đông hỏi ông Lê Duẩn: "Có phải Việt Nam đã đánh thắng quân Nguyên và quân Thanh không?" Lê Duẩn đáp: "Vâng, còn đánh thắng cả quân Minh nữa". Quân Nguyên là người Mông Cổ, quân Thanh người Mãn Châu, còn quân Minh chính là người Hán. Nói vậy ông Lê Duẩn tỏ ý Việt Nam không sợ TQ. Ở Trung Quốc từng trưng bày hai bản đồ của Trung Quốc. Bản đồ thứ nhất là "Bản đồ của Trung Quốc trước đây khi chưa bị đế quốc chia nhau", vẽ Trung Quốc bao gồm cả Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Mianma. Biển thì bao gồm toàn bộ Biển Đông. Còn bản đồ thứ hai, thì đại khái như Trung Quốc hiện nay.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc cũng không muốn ta thống nhất đất nước, luôn khuyên ta “kháng chiến trường kỳ”. Sau cuộc chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã ngại Trung Quốc khi can thiệp vào VN, nhưng khi Mao Trạch Đông nói: “Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi” đã làm yên tâm Mỹ, để rồi 1964 gây ra “sự kiện vịnh Bắc Bộ”, chính thức tham chiến trực tiếp tại VN. Khi tiến hành bình thường hóa quan hệ giữa Trung và Mỹ, Đại sứ Trung Quốc và Đại sứ Mỹ thường gặp nhau, một trong những điều kiện mà Mỹ đưa ra  là Trung Quốc phải dùng ảnh hưởng của mình để kiềm chế Việt Cộng ở Miền Nam. Năm 1972, khi ta còn đang chống Mỹ, Trung Quốc đã  đón Nixon. Trước đó, Chu Ấn Lai sang Hà Nội, ông Lê Duẩn nói: "Các anh mời Nixon sang thăm Trung Quốc chẳng khác nào các anh đâm một nhát dao vào lưng chúng tôi… Nhưng giải quyết vấn đề Việt Nam như thế nào là do chúng tôi tự quyết định lấy. Còn vấn đề có viện trợ hay không cái đó tùy các anh. Các anh viện trợ, chúng tôi sẽ thắng Mỹ. Các anh không viện trợ chúng tôi phải hy sinh nhiều hơn nhưng cũng sẽ thắng Mỹ". Sau Hiệp định Paris 1973, Trung Quốc vẫn muốn duy trì việc Việt Nam chia cắt. Ngay từ 1973 đã xảy ra những va chạm ở biên giới Việt – Trung và năm 1974, Trung Quốc đã chiếm nốt phần còn lại ở quần đảo Hoàng Sa.
Ít người hiểu rằng kế hoạch tổng tấn công giải phóng miền Nam, chúng ta không chỉ giữ bí mật tuyệt đối với Mỹ, VNCH mà cả đối với Liên Xô và Trung Quốc.
Với cuộc chiến Biên giới 1979, trong nhiều nguyên nhân có nguyên nhân chính là chúng ta đã không khéo hóa giải những căng thẳng. Chúng ta đã từ chối vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, ngược lại ta lại ký với Liên Xô Hiệp ước mà điều 6 là nhằm vào Trung Quốc: “Việt Nam và Liên Xô sẽ “tham vấn nhau ngay lập tức” nếu một trong hai nước “bị tấn công hoặc đe dọa tấn công … nhằm loại bỏ mối đe dọa đó”. Đại hội lần IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm và gần cận nhất”. Từng viện trợ cho Việt Nam trên 20 tỷ đô la, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác, họ đã cho chúng ta là kẻ "vô ơn"! Từ đó, họ đã cắt viện trợ và xúi Khmer Đỏ xâm lược VN. Năm 1978, Khmer Đỏ đã tiến công xâm lược Việt Nam. Cuối năm 1978, quân ta đã phản công, chưa đầy một tháng, đầu 1979, ta đã giành thắng lợi. Trước tình trạng đó, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học", năm 1979, xua quân Trung Quốc tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Quân Việt Nam đã đánh trả quyết liệt. Sau đó, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Phía ta cũng tuyên bố thể hiện "thiện chí hòa bình", “Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân”. Như vậy thực chất một lần nữa TQ đã bị thất bại, mục đích chính của họ muốn buộc quân ta phải rút quân để bảo vệ bọn diệt chủng Pôn Pốt đã không thực hiện được. Chúng ta đã chiến thắng nhưng cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của.
Như vậy, để đi tới thắng lợi cuối cùng trong hai cuộc kháng chiến thống nhất đất nước, rồi việc bảo vệ thành quả cách mạng, giữ ổn định xã hội, xây dựng đất nước được như hôm nay, các thế hệ lãnh đạo của VN đã rất khôn khéo hóa giải biết bao những mâu thuẫn, đã vượt qua được tất cả sự toan tính vụ lợi ích kỷ của những nước lớn.
***
Tham vọng bành trướng bá quyền vốn không chỉ là “đặc sản” của riêng người Tàu mà là bản tính chung của cái giống người. Kẻ có sức mạnh dễ sinh tham lam. Nhưng sau bao cuộc chiến đẫm máu đã dẫn tới xu hướng của thời đại: đối thoại thay cho đối đầu, nước ta cũng đã thực hiện thành công chính sách ngoại giao đa phương. TBT Nguyễn Phú Trọng mới đi thăm Mỹ, những ngày hôm nay chúng ta lại trải thảm đỏ và bắn đại bác đón TBT Trung Quốc Tập Cận Bình. Ai cũng biết ông cha ta vừa thắng giặc phương Bắc xong vẫn sang triều cống và xin phong Vương. Bây giờ không còn vậy nhưng vẫn phải hiểu, chiến lược ngoại giao phải phụ thuộc vào thế và lực của ta, không phải muốn sao cũng được. Sai lầm trong đối ngoại là sẽ dẫn tới thảm họa, bất kể nước nào.
Vấn đề biển đảo vẫn còn nguyên đó. Ta tốt nhất vẫn là “vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Cuộc đấu tranh ngoại giao phải luôn kiên trì, không ngừng nghỉ, phải kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển. Còn không, “im lặng nghĩa là đồng ý”, nước ta sẽ vĩnh viễn mất biển! Nhưng cũng phải thực tế, làm sao hai bên cùng có lợi. Lực ta có hạn mà lại đòi mọi cái theo ý mình sẽ là ảo tưởng. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ ta không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Không ai muốn Trung Quốc bành trướng thành siêu cường, rồi có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới.
Trong làm ăn, trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, hai bên cùng có lợi, nhưng ta phải luôn cảnh giác, tránh cái tâm lý cả nể, xuề xòa, đại khái của dân Việt ta. Dư luận từng e ngại chuyện nhà nước giao cho các doanh nghiệp TQ rừng đầu nguồn, các vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng; mua công nghệ lạc hậu của TQ; chuyện nhận nhiều công nhân TQ để họ “gieo” giống; rồi những chiêu thức lạ mang nét “thâm” của người Tầu như mua sầu riêng non, lá mãng cầu, mua đỉa, móng trâu, v.v…
***
Về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc nhân dịp ông Tập sang thăm ta lại mới diễn ra. Những người dân do nhận thức hạn chế thể hiện thái độ một cách cảm tính có thể thông cảm được. Nhưng chuyện ngoại giao giữa các nước không thể dựa vào tính sĩ diện hão cá nhân, anh hùng rơm, vĩ cuồng, ảo tưởng, đánh giặc miệng. Với những người trí thức, có cái nhìn sâu, bao quát, tất phải hiểu bài toán quan hệ với TQ là rất phức tạp. Lẽ ra cần phải giải thích cho quần chúng hiểu nhưng một số người cũng mang danh trí thức lại làm ngược lại, lại lợi dụng mọi chuyện để thể hiện sự chống đối vì những toan tính cá nhân, lợi dụng tâm lý ghét Tầu kích động dân chúng biểu tình, diễn tuồng trên phố như hề, như cố lập công để ngửa tay xin đô của những ông chủ. Họ đúng là loại trí thức “chấy rận” như cộng đồng mạng đã gọi và thật đáng khinh bỉ!
7-11-2015
ĐÔNG LA

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

GIẢI TRÍ CUỐI TUẦN: THẾ GIỚI VÔ HÌNH KHÔNG VÔ HÌNH QUA CON MẮT CỦA LÊ TRUNG TUẤN (Đọc sách của Lê Trung Tuấn)

         Khi được Lê Trung Tuấn giao toàn quyền biên tập, sửa đổi cuốn sách của mình, tôi thấy một trong những việc quan trọng nhất là phải viết một bài giới thiệu cuốn sách thật hay, thật trí tuệ, thật tri thức, để người ta hiểu rõ được việc làm đặc biệt của Lê Trung Tuấn và có thê đối mặt được tất cả tầng lớp độc giả từ người thường đến những người có học vấn cao nhất, kể cả các nhà sư. Nhưng tôi ngại vì phải thay đổi hoặc xóa hẳn một vài bài của các “nhà nghiên cứu” vì họ viết sai, sợ Tuấn làm mất lòng họ. Tuấn bảo: “Em sợ mất lòng anh thôi chứ không sợ mất lòng ai”. Được câu nịnh của Tuấn tôi phổng mũi, hứng lên, viết ra cái bài dưới đây “hơi bị hay”.
      Để giải trí cuối tuần, cũng là quảng cáo cuốn sách dần đi là vừa, tôi đăng nguyên bài sẽ in trong cuốn sách của Lê Trung Tuấn lên cho mọi người coi.
      15-1-2017
       ĐÔNG LA
THẾ GIỚI VÔ HÌNH KHÔNG VÔ HÌNH
QUA CON MẮT CỦA LÊ TRUNG TUẤN
ĐÔNG LA
(Nghiên cứu Hóa học, Nhà Lý luận Phê bình,
Hội viên Hội Nhà Văn VN)
“Trải nghiệm trong thế giới vô hình” không chỉ là cuốn sách thú vị với những câu chuyện kỳ lạ, cũng không chỉ là cuốn sách sâu sắc với những bài giảng về đạo đức, luân lý, mà cao hơn hết, theo ngôn ngữ nhà Phật, nó góp phần vén bức màn vô minh cho nhân loại. Nó còn vượt cả tầm nhìn của khoa học, chỉ cho chúng ta thấy có một thế giới vô hình, ở đó có tồn tại linh hồn con người. Thế giới đó mắt thường không nhìn thấy, thiết bị tối tân nhất của khoa học cũng không nhìn thấy nhưng lại có liên hệ mật thiết, có tác động trực tiếp đến thế giới của người sống. Trong thế giới đó linh hồn cũng có hạnh phúc, khổ đau, nhưng cũng theo ngôn ngữ nhà Phật, “quả vị” mà mỗi người đạt được không giống như sự thành đạt ở đời phàm. Người sống có thể có nhiều cách để thành đạt, trong đó có không ít cách bất chính; còn “quả vị” của linh hồn không phụ thuộc vào sự thành đạt đó, mà khi chết đi, linh hồn chỉ chịu tác động duy nhất một quy luật, đó là luật nhân quả. Vua chúa mà ác thì khi chết đi cũng sẽ bị đày hỏa ngục.
Luật nhân quả là một trong những trọng tâm của giáo lý Đạo Phật, cho rằng con người khi sống, do tham, sân, si, mỗi hành động của thân, mỗi lời nói của miệng, mỗi ý nghĩ của đầu óc đều tạo nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Các nghiệp thiện sẽ góp phần giải ô trược, giúp cho linh hồn dần siêu thoát, tiến tới các cõi thanh nhẹ, hỷ lạc hơn; ngược lại các nghiệp ác sẽ tích tụ thêm ô trược mà dân gian gọi là “nghiệp nặng” sẽ kéo linh hồn dần xuống các cõi nặng nề, u tối, buồn khổ hơn.
(Tác giả Lê Trung Tuấn và PTT Vũ Đức Đam)
Đọc cuốn “Trải nghiệm trong thế giới vô hình” có nhiều điều thú vị:
Thứ nhất ở chỗ tuy chỉ nói thoáng qua về Đạo Phật nhưng nếu hiểu biết sẽ thấy nhiều chuyện, nhiều việc, nhiều nhận thức của Lê Trung Tuấn tương đồng với Đạo Phật. Đạo Phật nói con người khi chết thần thức tùy theo nghiệp sẽ về các cõi khác nhau thì Lê Trung Tuấn qua thực chứng, với mầu sắc và sự chấp ngã của linh hồn, anh thấy linh hồn cũng tiến hóa khác nhau, tồn tại ở các tầng không gian sướng, khổ khác nhau.
Thứ Hai, Đức Phật Thích Ca sau khi tu khổ hạnh sáu năm thất bại, chính bằng thiền định, ngài giác ngộ đắc đạo thành Phật, chứng ngộ chân lý tối hậu, thành bậc Toàn giác, không gì không biết, trong đó ngài chứng đắc lục thông với những năng lực siêu nhiên như Thiên nhãn thông (nhìn qua khoảng cách, chướng ngại); Thiên nhĩ thông (nghe được mọi âm thanh); Tha tâm thông (biết được suy nghĩ của người khác); Túc mạng thông (nhìn thấy kiếp quá khứ của mình và người khác), v.v…  Những năng lực thần thông này rõ ràng nằm ngoài mọi quy luật khoa học, trước nay người ta thường cho là sản phẩm của trí tưởng tượng trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, hoặc do tín ngưỡng người ta thêu dệt thêm để tăng cường khả năng thuyết giáo. Nhưng thực tế hiện tượng ngoại cảm ở Việt Nam gần 20 năm qua, các nhà ngoại cảm, trong đó có Lê Trung Tuấn, đã chứng tỏ khả năng thần thông ghi trong Kinh Phật là có thực. Lê Trung Tuấn khi tĩnh tâm, thiền định giúp tìm hài cốt thất lạc đã nhìn xuyên không gian, thấy linh hồn và không gian cảnh vật xa hàng ngàn km, nhìn xuyên thời gian thấy quá khứ lúc các liệt sĩ chiến đấu, hy sinh trong chiến trận. Bản thân anh cũng ngạc nhiên: “Tôi đã nhìn thấy mình bị giam trong một phòng, cảnh tôi đang tiêm cái gì đó vào tay, và sau này thì đúng như vậy. Hay ngày đó tôi đã thấy mình có một chiếc xe biển số 4400 mang chữ “Camry” đằng sau và tôi tự buồn cười với chính mình vì lúc đó tôi cũng chẳng biết Camry nghĩa là gì. Nhưng sau này tôi có một chiếc xe đúng là có biển số 4400 như vậy”. Nghĩa là lúc đó anh đã nhìn thấy tương lai của mình.
Thứ ba, trên thế giới các nhà khoa học, nhất là trong lĩnh vực Y học, từ lâu đã rất quan tâm nghiên cứu hiện tượng trải nghiệm cận kề cái chết NDE (near-death experience) hay "chết lâm sàng". Các bác sĩ nhận thấy một số bệnh nhân khi sống lại có trải nghiệm linh hồn thoát-khỏi-cơ-thể. Họ thấy mình bay lên, nhìn xuống thì thấy chính thân xác mình; họ kể lại chính xác một số chi tiết về những gì đã diễn ra trong phòng điều trị: máy móc, thiết bị y tế, các đoạn hội thoại của nhân viên y tế. 
Ngay trên chương trình “Bí mật của Tạo hóa” chiếu trên VTV3 năm 2013 đã kể lại câu chuyện của Bác sĩ Eben Alexander:
Ông là một chuyên gia phẫu thuật não uy tín hàng đầu của Mỹ. Vào năm 2008, Alexander mắc một loại vi khuẩn đã xâm hại và làm cho thần kinh vỏ não hoàn toàn bị tê liệt. Ông bị hôn mê đúng một tuần. Theo y học thì ý thức của ông đã mất, ông sống thực vật. Nhưng sau khi hồi tỉnh, Alexander cho biết ông đã có chuyến du hành lên thiên đường mà không có cách nào dùng ngôn ngữ con người có thể miêu tả cho chính xác được. Có người cho đó là hoang tưởng, ảo giác, nhưng trong suốt chuyến du hành đó, ông có một hướng dẫn viên là một phụ nữ xinh đẹp mà ông chưa từng gặp. 4 tháng sau khi thoát khỏi trạng thái hôn mê, một người họ hàng đã gửi cho ông một bức ảnh của người chị ruột Betsy đã chết mà ông chưa từng biết. Ông đã sốc nặng khi nhìn thấy Betsy chính là người hướng dẫn viên trong chuyến du hành mà ông đã gặp khi hồn lìa khỏi xác đó. Bức ảnh đó là bằng chứng khách quan, là sự thật chứng tỏ trải nghiệm hồn ông lìa khỏi xác là sự thật, không phải ảo giác.
Ngay ở Việt Nam cũng có những chuyện tương tự. Như bà Trần Thị Sương ở Tây Ninh đã xuất bản một cuốn hồi ký kể lại những cảm nhận khi bà đã chết lâm sàng; bà thấy mình bay lên, quay lại nhìn thấy xác mình nằm trên giường. Và chính Lê Trung Tuấn, tác giả cuốn “Trải nghiệm trong thế giới vô hình” này, cũng là một chứng nhân trải nghiệm trạng thái hồn lìa khỏi xác khi anh ở biên giới giữa sự sống và cái chết.
Sau vấp ngã do tuổi trẻ nông nổi, anh đã nghiện ma túy và rơi xuống tận đáy của hố thẳm tuyệt vọng. Anh đã tự giải thoát và trong nỗi bất hạnh tận cùng đó anh lại có một “may mắn” đặc biệt, đó là được trải nghiệm trạng thái cận tử NDE mà các nhà khoa học trên thế giới từ lâu đã dày công nghiên cứu để xác định xem có linh hồn con người độc lập với thể xác không? Anh viết:
“Xuống buồng hòa tất số ma túy nhiều hơn 80 lần liều dùng hàng ngày vào xilanh 10 rồi chích vào cơ thể, lúc đó khoảng chín giờ tối. Tiêm xong khoảng hai giây, tôi thấy nhói lên trong ngực rồi không biết gì nữa. Tôi thấy mình bay bổng lên, cảm giác thật nhẹ nhàng và không thấy đau đớn. Tôi nhìn thấy cơ thể mình đang nằm dưới đất và vẫn biết những gì đang diễn ra. Mẹ tôi chắc nghe thấy tôi ngã nên chạy ra, bà vừa hà hơi vừa khóc. Sau đó mẹ gọi cậu bạn tôi đang nằm trên gác: “Đảng ơi! Thằng Tuấn chết rồi!””.
Dường như đó chính là nghiệp cuối cùng anh phải trả, thử thách cuối cùng của anh. Anh đã sống lại và bằng một nghị lực phi thường, anh đã vượt qua, đã lột xác thành một người khác, dùng khả năng đặc biệt giúp người, và những ngày hôm nay đây, anh đã và đang dành nhiều tâm sức cho cuộc chiến chống ma túy, cứu người!
***
Khả năng ngoại cảm và trải nghiệm giao tiếp với thế giới tâm linh dễ bị cho là hoang tưởng, ảo giác, thậm chí giai đoạn vừa qua còn bị không chỉ các cá nhân mà cả các cơ quan nhà nước, đài truyền hình, báo chí cho là lừa đảo. Dù thực tế có chuyện dùng ngoại cảm lợi dụng sự mê tín để trục lợi nhưng việc Lê Trung Tuấn giúp nhiều gia đình tìm lại được hài cốt thất lạc là sự thật. Bởi các kết quả tìm kiếm đã đúng như sự chỉ dẫn của các linh hồn, và chắc chắn hơn nữa, đó là việc người thân của các liệt sĩ đã gởi mẫu hài cốt đến các cơ quan khoa học hàng đầu của nhà nước để xét nghiệm ADN và kết quả nhận được là đúng. Điều này chứng minh khả năng đặc biệt giao tiếp được với linh hồn của anh là có thật, linh hồn là có thật, thế giới tâm linh là có thật!
Việc đầu tiên chứng tỏ khả năng của anh chính là việc bằng sự giao tiếp của anh với linh hồn người cậu ruột là liệt sĩ Lương Hồng Khánh, gia đình anh đã tìm thấy hài cốt người cậu đã bị thất lạc tận Đắk Mil, Đắk Nông xa xôi, mà trước đó sự kiếm tìm đã gần như vô vọng.
Sau lần tìm thấy hài cốt người cậu anh thấy mình có thêm niềm tin nhiều hơn vào thế giới vô hình, hiểu và trân trọng hơn những giá trị của cuộc sống hôm nay, và với sự khuyến khích, hỗ trợ của linh hồn Liệt sĩ Lương Hồng Khánh, anh nhận ra sử dụng khả năng đặc biệt của mình giúp các thân nhân tìm kiếm hài cốt liệt sĩ thất lạc là một sứ mệnh thiêng liêng.
Có những cuộc tìm kiếm mà chỉ dẫn qua giao tiếp tâm linh của Lê Trung Tuấn đã mâu thuẫn với thông tin có trong hồ sơ của liệt sĩ. Nhưng rồi chính sự xác định ADN đã chỉ ra thông tin trong hồ sơ là sai. Điều này chứng tỏ không chỉ sự giao tiếp tâm linh là có thực mà còn có khả năng chỉnh sửa những sai sót của người sống do hoàn cảnh chiến tranh, do thời gian quá xa và nhiều nguyên nhân khác nhau mà người ta đã sai sót khi lập hồ sơ liệt sĩ và cả khi quy tập, xây mộ.
Như một gia đình đi tìm liệt sĩ tên ở nhà là Trần Xuân Trường. Nhưng trong hồ sơ lưu giữ của quân khu thì lại không có ai tên là Trần Xuân Trường. Lê Trung Tuấn cho biết: “Liệt sĩ Trường có về báo rằng tên bác trong hồ sơ không phải là Trần Xuân Trường mà là Trần Văn Trường, gia đình hãy tìm kiếm theo tên đó”. Quả thật, khi tìm theo tên họ là Trần Văn Trường thì gia đình nhận được thông tin lý lịch hoàn toàn trùng khớp với liệt sĩ và cuối cùng đã tìm được hài cốt thất lạc. Sau khi gia đình gởi mẫu hài cốt đến Viện Công nghệ sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nhận được kết quả giám định gen, ADN tách từ mẫu hài cốt liệt sỹ số NCC584/CNSH lấy từ mộ số 3, hàng 1, ô số 2, Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai và mẫu sinh phẩm của ông Trần Văn Sơn có cùng huyết thống theo dòng mẹ.
Một gia đình tìm Liệt sĩ Nguyễn Bá Lâu. Qua giúp đỡ của Lê Trung Tuấn, linh hồn liệt sĩ chỉ mộ mình là số 8, hàng số 4, lô C,  khu C, thuộc nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Bình Phước. Nhưng mấy người quản trang kiên quyết phản đối vì cho không phải là mộ của liệt sỹ Nguyễn Bá Lâu, không phải đưa từ Campuchia về . Nhưng rồi cũng Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngày 5/1/2011, đã xác định bộ hài cốt trong ngôi mộ trên là hài cốt của liệt sỹ Nguyễn Bá Lâu "có cùng quan hệ huyết thống theo dòng mẹ" với 4 người em trai của liệt sỹ.
Trường hợp Liệt sỹ Lưu Đình Khuể, quê Hưng Yên, hi sinh ở Lào được quy tập về nghĩa trang Trường Sơn, bia mộ ghi là Lưu Văn Khuê quê quán Hoà Bình, Bình Lục, Hà Nam, ngày hi sinh là 30 tháng 10 năm 1968  trong khi giấy báo tử lại ghi là 30 tháng 3 năm 1968. Năm sinh trên bia là 1942, thực tế là 1945. Chỉ đến khi áp vong ở trung tâm của Lê Trung Tuấn, liệt sỹ báo tin để đi xác minh thì mọi việc mới sáng tỏ. Hài cốt dưới mộ ghi tên Lưu Văn Khuê quê ở Hà Nam chính là Liệt sĩ Lưu Đình Khuể quê ở Hưng Yên.
Trường hợp liệt sỹ Phạm Đức Mạch thì báo tin cho gia đình biết là tấm bia mộ của mình tại nghĩa trang ghi thông tin chưa chính xác. Liệt sĩ hi sinh ngày 16/2/1968 chứ không phải là 5/2/1968 như trong giấy báo tử ghi nên đã làm vỡ bia. Gia đình gởi mẫu hài cốt xét nghiệm đã nhận được kết quả ADN đúng nên rất tin tưởng và đã làm lại bia mới cho đúng.
Còn một gia đình tìm được hài cốt liệt sỹ Ngô Văn Đức, khi làm xét nghiệm ADN thì nhận được kết quả không chính xác, đã rất buồn bã. Qua giao tiếp tâm linh, linh hồn liệt sĩ đã báo cho Lê Trung Tuấn: “Tôi Đức đây, anh đừng buồn vì đã giúp gia đình tôi, tất cả lỗi này là do gia đình tôi đã không hề nghe anh. Họ không lấy mẫu phẩm là xương ống chân của tôi mang đi xét nghiệm mà họ lại mang xương vụn ở tiểu đi xét nghiệm, chắc là họ sợ tôi bị đau”. Được tin, gia đình bàng hoàng vì sự thật đúng như vậy, đã gởi mẫu làm xét nghiệm lại. Kết quả của Viện Khoa học hình sự (thuộc Tổng Cục Cảnh sát PCTP) theo bản số: 2338/(C54/P8) báo mẫu phẩm có ADN trùng khớp với huyết thống người thân trong gia đình theo dòng họ mẹ.
Một số trường hợp linh hồn liệt sĩ báo vị trí hài cốt của mình nằm một cách khác thường, khi khai quật, kết quả đúng như vậy, cũng là chứng cớ chứng tỏ việc giao tiếp của Lê Trung Tuấn với các linh hồn là có thật, việc người thân giao tiếp được với linh hồn qua hình thức áp vong cũng là có thật.
Như trường hợp của liệt sỹ Phạm Đình Quảng, liệt sỹ nói với Lê Trung Tuấn hài cốt mình đã được quy tập rồi nhưng lại nằm giữa đường đi trong nghĩa trang chứ không được nằm trên những dãy mộ trong nghĩa trang. Liệt sĩ nói rằng trong quá trình sửa lại nghĩa trang người ta đã bỏ quên liệt sĩ nằm lại dưới nền đường. Khi gia đình làm thủ tục đã báo với chính quyền như vậy thì họ không tin. Nhưng rồi khi đào theo chỉ dẫn của liệt sĩ, chỉ hai lần xắn đất thì mọi người đã tìm thấy một cái tiểu chứa hài cốt của liệt sỹ Phạm Đình Quảng. Lãnh đạo địa phương đã phải xin lỗi liệt sĩ và gia đình.
Trường hợp Liệt sỹ Hoàng Huy Cót thời chống Pháp thì đã báo mộ mình ở ngay vỉa hè trước số nhà 104, phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Khi khai quật, sở Giao thông Vận tải Hà nội chỉ cho phép đào dài 1,5m x rộng 1,5 m, nên việc đào rất khó khăn, đào dưới mặt đất khoảng 1m lại gặp nhiều đường ống cấp nước, thoát nước và cáp dẫn điện… Nhưng rồi đào sâu được hơn 2m, người đào bỗng nghe tiếng sẻng chạm vào vật cứng thì vong đang nhập vào người thân kêu lên “đến rồi”. Người ta bới tiếp thì thấy một chĩnh sành dần dần lộ ra. Vong liệt sỹ  cho biết, chính ông là người đã ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch nên hi sinh, đồng đội đã nhặt phần xương thịt tan nát còn lại của ông cho vào chĩnh sành chôn xuống đất, chính vì vậy sau này không nhớ phần mộ ở đâu mà quy tập.
***
Đọc “Trải nghiệm trong thế giới vô hình” chúng ta còn biết được nhiều chuyện vừa kỳ lạ vừa thú vị về đời sống ở thế giới vô hình, thế giới của những linh hồn. Như chuyện có linh hồn cũng đi “cưa gái”; có liệt sĩ hiện về vẫn mang cái đau của vết thương lúc hy sinh, khi gia đình hóa (đốt) thuốc giảm đau cho họ thì cơn đau giảm; có trường hợp do người thân cúng sai, cúng không đúng chỗ, linh hồn liệt sĩ bị thần linh trói hai tay chặt cứng, bịt chặt mồm không nói được; rồi chuyện linh hồn nhập vào người thân tự đi nhặt hài cốt của chính mình; chuyện linh hồn nói đúng cho người thân biết trước những chuyện sẽ xảy ra, cảnh báo người thân tránh bị lừa gạt; chuyện hương nhang, đồ lễ hóa khi trời mưa vẫn cháy đùng đùng; v.v… Lê Trung Tuấn cũng đưa ra quan điểm của mình về những tập tục như cúng chay, cúng mặn, việc đốt vàng mã, v.v…
***
Như vậy “Trải nghiệm trong thế giới vô hình” đúng theo tinh thần “trọng chứng hơn trọng cung”, Nhà Ngoại cảm Lê Trung Tuấn đã góp phần giúp cho nhận thức của mọi người thấy có tồn tại một thế giới vô hình, nơi đó có linh hồn con người sau khi chết. Qua trải nghiệm của Lê Trung Tuấn về các tầng không gian của các linh hồn với linh quang mầu sắc khác nhau, chuyển động nhanh chậm khác nhau, chứng tỏ thế giới ấy đúng là chịu tác động bởi luật nhân quả của Đạo Phật. Thế giới đó cũng có hỷ lạc và buồn khổ, các linh hồn cũng tu luyện để tiến bộ, tiến hóa, từ không gian thấp thăng dần lên những không gian cao, nhẹ nhàng, thanh khiết và rực rỡ hơn. Anh cũng viết con người khi sống tham, sân, si, làm việc xấu sẽ tạo nghiệp nặng, khi chết linh hồn còn nhiều chấp ngã, còn nhiều ham muốn hưởng thụ những thú vui của đời phàm, sẽ chìm đắm ở không gian u tối nặng nề khổ sở, khó siêu thoát.
Tất cả không trùng khít nhưng có nhiều nét tương đồng với giáo lý của Đạo Phật. Vậy Đạo Phật là gì?
***
Đạo Phật ra đời từ sự tu luyện và giác ngộ của Đức Thích Ca Mâu Ni. Từ một thái tử sống trong cung vàng điện ngọc, có vợ là công chúa và con trai nhỏ như thiên thần, nhưng khi gặp những cảnh khổ đau ngoài đời, ngài quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôn loài. Khi thiền định đắc Đạo, ngài đã suy tư về lẽ sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sinh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn. Ngài thấy các chúng sinh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác so mình tạo ra, đã luân hồi trong các cõi sống.
Các đệ tử gần cận của ngài đã ghi lại những lời dạy của ngài trở thành Kinh Phật được lưu truyền đến ngày nay. Có 82.000 bài giảng của chính Đức Phật và 2.000 bài của các đệ tử của ngài.
Trong bài thuyết pháp đầu tiên cho 5 người bạn đồng tu ngày trước của mình ở vườn Nai (Lộc uyển), Đức Phật giảng về bốn chân lý cao cả, những điều cốt yếu nhất của Đạo Phật. Đó là chân lý về sự khổ (Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập đế), chân lý về diệt khổ (Diệt đế), chân lý về con đường diệt khổ (Đạo đế).
Theo đó, toàn bộ thân, tâm con người được tạo thành từ năm yếu tố gọi là Ngũ uẩn. Ngũ uẩn gồm:  1-  Sắc: chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn), do bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tạo thành (thực ra là chất rắn, chất lỏng, chất khí và năng lượng). 2- Thọ: toàn bộ các cảm giác. 3- Tưởng: sự nhận biết các cảm giác đó, như âm thanh, màu sắc, mùi vị, kể cả ý thức đang hiện diện. 4- Hành: là những hành động từ tâm lí do thọ, tưởng tạo ra, như chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm,... 5- Thức: là ý thức, là nhận thức cao hơn được đúc rút từ tất cả thọ, tưởng và hành.
Đặc tính chung của Ngũ uẩn là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Vô thường là không có gì hằng thường, vĩnh cửu, Vô ngã, Khổ xuất phát từ sự bấp bênh, biến hoại của các uẩn; con người được tạo thành từ năm uẩn đó nên cũng chỉ là một sự giả hợp, không có một cái "ta" thật sự bất biến đứng đằng sau con người, tức Vô ngã.
Thuyết Vô Ngã là khó hiểu nhất. Rõ ràng có một cái ngã tồn tại một cách hiển nhiên trong mỗi con người, nó là một thực thể phi hình tướng, làm chủ mọi suy nghĩ và hành động, làm nên sự khác biệt giữa người này với người khác, giữa tốt với xấu, thông minh với ngu tối, hiền từ với độc ác. Nếu không có Ngã thì "cái gì" đau khổ? "cái gì" tạo nghiệp cái gì" đi tu? "cái gì" giác ngộ?
Theo Kinh nói về Vô ngã: “Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi…, ngài nói với đoàn năm vị Tỉ khâu: “… Này các Tỉ-khâu, Sắc là vô ngã… Nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể mong được như sau: “Mong rằng sắc của tôi như thế này… sắc của tôi chẳng phải như thế này!”… này các Tỉ-khâu, vì sắc là vô ngã, nên sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể mong được: “Mong rằng sắc của tôi như thế này… sắc của tôi chẳng phải như thế này!””.
Rồi ngài giảng tiếp Sắc cũng là vô thường, mà tất cả những gì vô thường đều là khổ.
Chính vậy, toàn bộ giáo lý nhà Phật đều hướng tới việc chỉ ra bản chất mọi sự vật và cả bản thân con người đều là vô ngã, và chính cái ngã là kẻ thù của vô minh, là mẹ của tham, sân, si, nguồn gốc của bể khổ.
Như vậy, vô ngã vừa là nhận thức luận, vừa là phương thức và cũng là mục đích, thành tựu của tu luyện, vì chỉ khi tâm trí và cả sinh lý đạt trạng thái vô ngã người ta mới có thể chứng ngộ và giải thoát.
          Mỗi một khái niệm đều có một nội hàm và ngoại diện nhất định, có lẽ ta nên hiểu vô ngã như một khái niệm chứ không nên hiểu theo nghĩa thông tục. Vậy vô ngã theo Phật giáo không phải là không có cái tôi mà có nghĩa là tất cả những gì tạm thời, biến đổi, không vĩnh cửu đều là vô ngã. Và Đạo Phật chỉ ra, tuy giả tạm nhưng cái ngã lại tác động rất lớn, toàn thể sự phấn đấu, ganh đua, giành giật, chiếm đoạt của người đời đều là do cái ngã cả. Nhìn ra thế giới, ta thấy càng lúc cái ngã càng được tự tôn dẫn dắt con người nhận thức và hành động sai lạc, tất cả chỉ vì vô minh, cho kiếp sống phàm trần là duy nhất, nên để đạt được tham vọng đã bất chấp mọi thủ đoạn mà không sợ quả báo, không hiểu lời dạy của tiền nhân, sống chỉ là gởi thác mới là về. Vì vậy mục đích của tu hành và thiền định là diệt ngã. Hành động khất thực của các vị tu sĩ cũng là phép tu để làm mất đi tính tự tôn, kiêu mạn. Trong thiền định, phép quán Vô ngã là một pháp chủ yếu, giúp con người cởi bỏ được sự chấp một cách vô ích và có hại vào một cái gì đó, nguồn gốc của mọi bất hạnh trong cuộc sống. Chỉ khi nào đạt được trạng thái vô ngã mới “chinh phục mọi ô nhiễm”, mới không bị vướng vào tất cả những tham vọng, yêu ghét, mê đắm..., mới diệt được khổ. Khổ không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu, mà là tất cả mọi hiện tượng của tâm và vật đều bị biến hoại nên phải khổ. Tứ diệu đế nói: "Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; lo lắng, than thở, buồn rầu, tuyệt vọng là khổ; không đạt gì mình ưa thích là khổ; nói tóm lại: mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ”.
          ***
Có điều rất thú vị là người ta đã nhận ra có những nét tương đồng giữa đạo Phật và khoa học. Đạo Phật không chỉ là những bài học luân lý, những triết lý nhân sinh, mà còn là phương thức nhận thức về bản thân con người và thế giới, tức có ý nghĩa y học và khoa học. Các vị thiền sư và võ sư, qua quá trình tu luyện công phu bằng thiền định và khí công, đã diễn ra một quá trình biến đổi từ tâm lý đến sinh lý, đã làm khởi phát những tiềm ẩn của cơ thể, tạo nên những năng lực siêu phàm.
Chính bằng năng lực siêu phàm ấy, cách nay hơn hai thiên kỷ rưỡi, Đức Phật đã thấy những điều mà khoa học, với những trí tuệ xuất chúng và những phương tiện nghiên cứu tối tân nhất, mới thấy lại.
1) Về thế giới vô cùng nhỏ: Đức Phật thường khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các vi chúng sinh có trong nước vì ngài thấy trong mỗi bát nước có tới 84000 sinh vật nhỏ mà mắt người thường không nhìn thấy. Hơn 21 thế kỷ sau, các khoa học gia đã phát minh ra kính hiển vi mới thấy lại cái nhìn của Đức Phật.
 2)  Về thế giới vô cùng lớn: kinh Phật cho thấy thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm, vũ trụ còn có rất nhiều thế giới khác, phân thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới. Quan niệm này hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những nhà thiên văn hay những nhà vật lý thiên thể.  Kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Phổ Hiền bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn... hoặc hình như nước xoáy... hoặc hình như hoa... có vi trần số hình sai khác như vậy”. Điều đó vô cùng chính xác khi so sánh với kết quả mà các khoa học gia đã chụp được trong vũ trụ: Thiên Hà NGC 523 SculptorHình xoay chuyển; Thiên Hà AndromedaHình bánh xe; Thiên Hà NGC 2997 Spiral có Hình nước xoáy; Thiên Hà TrifidHình hoa nở; khối tinh vân 250px-M57Hình vòng nhẫn; Thiên Hà M104Hình núi Tu Di, v.v...
Chính vì vậy Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ XX, đã phát biểu một câu rất nổi tiếng về đạo Phật như sau: “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu. Nó cần phải vượt trên một Thượng Đế cá nhân và tránh những tín điều và lý thuyết. Tôn giáo ấy sẽ bao quát tất cả phương diện tự nhiên lẫn tinh thần, nó cần phải được đặt trên cơ sở tín ngưỡng cảm thấy và xuất hiện từ kinh nghiệm của mọi sự vật của tự nhiên cũng như tinh thần như một tổng thể đầy ý nghĩa. Phật giáo trả lời được những diễn tả này. Nếu có bất cứ một tôn giáo nào đó có thể đương đầu được với những nhu cầu của khoa học hiện đại thì nó sẽ là Phật giáo” (The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious (tín ngưỡng, niềm tin) sense (cảm thấy) arising(xuất hiện, phát sinh) from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description (diễn tả). If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism).
 (Dẫn theo GS. Trần Chung Ngọc, bài “Vài nét về Phật giáo và khoa học” (Đông La dịch lại).
***
Cuối cùng người viết bài này muốn nói cuốn “Trải nghiệm trong thế giới vô hình” do Lê Trung Tuấn viết và người khác viết về Lê Trung Tuấn dù là sự thật nhưng vẫn là những điều kỳ lạ chưa có lời giải. Có nhà vật lý giải thích rằng thế giới huyền bí mà các nhà ngoại cảm tiếp cận được chính là thế giới vi mô, ở những chiều không gian khác của Lý thuyết Dây (trường “vong”) nằm ngoài 3 chiều không gian quen thuộc mà mắt thường nhìn thấy. Điều này sai vì các chiều phụ của Lý thuyết Dây bị cuộn lại vô cùng nhỏ ở kích thước Planck trong khi thực tế các nhà ngoại cảm thấy các linh hồn có kích thích thông thường ở ngay trong 3 chiều không gian quen thuộc của chúng ta. Có người giải thích linh hồn là trường sinh học nhà ngoại cảm do khai mở được tiềm thức nên đã giao tiếp được. Điều này cũng vô lý vì trường sinh học là năng lượng phát ra từ một cơ thể sống, còn linh hồn tồn tại sau khi cơ thể chết. Trường sinh học cũng chỉ là năng lượng thuần tuý, mà năng lượng thì không thể có nhân cách, tỏ được thái độ buồn vui và có khả năng giao tiếp. Các nhà ngoại cảm không chỉ thấy linh hồn mà khi hướng dẫn tìm mộ họ còn thấy cả không gian cảnh vật từ xa, mà không gian, cảnh vật thì hoàn toàn không tỏa ra một trường sinh học nào cả nhưng nhà ngoại cảm vẫn thấy được. Còn những người dùng lý lẽ về thôi miên, ám thị để phủ nhận khả năng của các nhà ngoại cảm, cho chỉ là ảo giác, hoang tưởng, tâm thần thì càng sai. Vì các trạng thái đó hoàn toàn là chủ quan, không thể có thực. Trong khi các cuộc tìm mộ của các nhà ngoại cảm có những kết quả khách quan, từ di hài, di vật đến kết quả xét nghiệm ADN.
Vì vậy linh hồn không phải là trường sinh học, không phải là ý thức sinh học mà là thần thức theo Đạo Phật. Nhưng dù hiện thực tâm linh mà các nhà ngoại cảm gặp có nhiều nét tương đồng với Đạo Phật, vẫn còn có những điều mâu thuẫn với cách hiểu về Đạo Phật của không ít người, trong đó có cả các nhà sư. Có điều thực tế mới là chân lý tối hậu, nếu trải nghiệm của các nhà ngoại cảm là thật thì các nhà sư phải nghĩ lại. Thực tế trong suốt chiều dài lịch sử người ta cũng đã hiểu về Đạo Phật khác nhau nên mới sinh ra các tông phái khác nhau.
Còn với khoa học, đến nay khả năng ngoại cảm của con người vẫn nằm ngoài mọi quy luật, vẫn là thách thức trước tầm nhìn của khoa học.
14-1-2017

ĐÔNG LA

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

VỀ CÁI MÓN NỢ XƯƠNG MÁU THEO ÔNG LÊ BÁ DƯƠNG

ĐÔNG LA
VỀ CÁI MÓN NỢ XƯƠNG MÁU
THEO ÔNG LÊ BÁ DƯƠNG

Mở facebook thấy ngay đ/c Luong Chi Thanh thông báo: “Nguyễn Văn Hùng xem thông tin động trời này”. Vào xem thì thấy trang của ông Lê Bá Dương đăng tin “TIN ĐAU – THÊM MỘT MÓN NỢ XƯƠNG MÁU”. Xin mọi người phân biệt cho Dương này không phải là thằng nhà báo lưu manh “Dái Dê” Phạm Ngọc Dương mà chính tôi có lúc đã lầm; Dương này cũng là nhà báo nhưng là Dương cựu chiến binh, từng đòi quyền tác giả 4 câu thơ giờ đã thành nổi tiếng viết về các liệt sĩ hy sinh tại dòng sông Thạch Hãn từ thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Dương này cũng thẳng thắn tố cáo Tướng Hiệu sau khi đọc cuốn sách của ông là “Kẻ đạo văn – người bịa sử! Hoàn toàn có thể  nhận xét một cách khái quát như vậy khi đọc hết 690 trang hồi ức “Một thời Quảng Trị” của tác giả: thượng tướng, tiến sĩ Nguyễn Huy Hiệu”!
          Tôi không chú ý vụ việc giữa hai cựu chiến binh này vì tôi luôn khâm phục những người lính từng trực tiếp chiến đấu, nếu họ có sai trái gì đó do thói tật thường tình cần góp ý nhưng về tình cảm rất dễ tha thứ. Hôm nay vào fb của Lê Bá Dương mới biết ông Dương này cũng là một “chiến sĩ” chống ngoại cảm cực đoan. Tôi chưa bao giờ bênh vực chuyện lợi dụng ngoại cảm lừa đảo, lợi dụng sự mê tín lừa đảo, nhưng xổ toẹt tất cả nghĩa là phủ nhận những liệt sĩ đã được tìm thấy chính xác bằng khả năng ngoại cảm, trong đó có các cố TBT Đảng. Sự chính xác không chỉ bởi nhân chứng, vật chứng, việc chứng mà đặc biệt với nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn, qua cuốn sách mà tôi đang biên tập, có nhiều kết quả tìm kiếm đã được gia đình lấy mẫu xác định ADN đúng. Vậy việc chống ngoại cảm cực đoan, điên cuồng, xổ toẹt tất cả cũng là tội ác, phủ nhận một liệt sĩ cũng chẳng khác giết một người sống. Thực tế chứng tỏ đã có sự quả báo. Tiếc là hôm nay lại có thêm gương mặt Lê Bá Dương chống ngoại cảm mà trước nay tôi nghĩ hoàn toàn khác.
***
Lê Bá Dương đưa tin:
Sáng nay, từ Hà Nội, cháu Dương Thái Bình (Điện ảnh Quân Đội) gọi điện thoại báo tin đau: Toàn bộ 6 ngôi mộ có đủ hồ sơ cất bốc, di chuyển , cải táng tại nghĩa trang thị xã Phước Long ( Tỉnh Bình Phước) khi mở mộ , tất cả đều trống rỗng , không hề có dấu vết di cốt Liệt Sỹ!”.
 Đọc xong tôi nói với bà xã đang chơi với cháu ngoại trên nền nhà thẳng băng, sạch “như chùi”, cái công trình mà tôi mới hoàn thành:
-Lời cô Hòa được thực chứng rồi, cô đã thách ông Vũ Đức Đam lập đoàn giám sát, cô sẽ chỉ trong nghĩa trang khắp miền Đông mà các đơn vị quy tập hài cốt liệt sĩ của quân đội quy tập, mộ nào có hài cốt, mộ nào không. Để xem cô hay ai lừa đảo?
Nhưng đọc tiếp tôi té ngửa khi Lê Bá Dương viết tiếp:
“Vâng, không thể một tháng, một năm, thậm chí vài ba năm mà trả hết những món nợ máu xương, cho dù những món nợ có địa chỉ, danh chỉ, sự việc cụ thể , rõ ràng... song những đám ngoại cảm buôn xương bán cốt núp bóng tâm linh, liên kết, dựa vía một số CCB trong vai trò “thực chứng” mượn bóng công quyền che đậy, tảng lờ để tiếp tục chà đạp lên xương máu đồng bào, đồng đội”.
Lê Bá Dương chỉ nghe một cú điện thoại, hoàn toàn không có chứng cớ về “đám ngoại cảm” là thủ phạm của 6 ngôi mộ liệt sĩ trống rỗng đã viết như trên thì hoàn toàn là hồ đồ.
Từ đây thái độ đối với Lê Bá Dương trong tôi bị lộn ngược. Một con người hồ đồ như thế thì những chuyện om sòm của Lê Bá Dương với Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu lẽ phải có hoàn toàn thuộc về Lê Bá Dương không?
Còn chuyện “…anh (Lê Bá Dương) đã dùng máu từ vết thương mình viết vào sau tấm ảnh Hồ Chí Minh: "Bác Hồ ơi, bắt đầu từ hôm nay 20.6 con cùng đồng đội bắt đầu nổ súng diệt địch dự (giữ) chốt đến cùng…” mà hôm nay có những người phủ nhận: “Chúng tôi là chỉ huy, cùng đơn vị, cùng tham gia trận đánh, nhưng chưa hề thấy có tấm ảnh Bác Hồ do Lê Bá Dương viết bằng máu trên trận chốt, vì vậy chúng tôi không công nhận, và yêu cầu Bảo tàng đưa tấm ảnh Bác Hồ "phản giáo dục" này ra khỏi bảo tàng !?” (tôi biết qua chính trang của Lê Bá Dương) thì có đúng đồng đội cũ của Lê Bá Dương đã “chơi xấu” ông không?
***
Đến nay tôi không ngờ hiện tượng ngoại cảm ở VN lại nhùng nhằng đến thế! Có lẽ tất cả là do khả năng tư duy kém nên đã nhận thức về hiện tượng này như vậy, mới có những kẻ ngu như lợn (xin lỗi loài lợn) nhưng lại cho nhận thức của mình là chuẩn về một thế giới huyền bí mà đến cả nền khoa học còn chưa hiểu nổi. Nên chúng mới điên cuồng chống phá ngoại cảm cả thực tâm lẫn cố ý để trục lợi, gây rối nhận thức và bất ổn xã hội không ít. Với tôi, tôi chỉ liếc mắt qua là hiểu ngay bản chất vấn đề. Cũng như tất cả các lĩnh vực trong đời sống đều có tệ nạn, sự lợi dụng ngoại cảm để trục lợi chắc chắn là có nhiều, nếu có chứng cớ công an cứ tóm đi tù (như cậu Thủy chẳng hạn) xã hội sẽ hoan nghênh. Nhưng không phải tất cả ngoại cảm là lừa đảo mà có rất nhiều chứng cớ từ nhân chứng, vật chứng, việc chứng đến xét nghiệm ADN của khoa học hiện đại chứng tỏ khả năng ngoại cảm là có thực, linh hồn là có thực, thế giới tâm linh là có thực.
Cơ duyên kỳ lạ, hôm qua trước khi tôi nhận thông báo trên fb của ông Lương Chí Thành về bài của Lê Bá Dương, tôi đang biên tập cuốn sách về ngoại cảm của Lê Trung Tuấn, đọc xong bài “Đi tìm liệt sĩ Nguyễn Văn Cao” do chính em gái liệt sĩ là chị Nguyễn Thị Hồng Lan ở Thành phố Vinh viết về chuyện tìm được hài cốt anh mình với sự giúp đỡ tận tình của nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn. Câu chuyện thú vị ở chỗ tôi biết thêm một điều là linh hồn ở thế giới vô hình cũng đi “cưa gái”. Sẵn có số điện thoại 0983051876, một phần vì tò mò, một phần để kiểm chứng, tôi đã gọi cho chị Lan. Chị bắt máy, tôi giới thiệu mình rồi hỏi:
-Có phải chị viết hoàn toàn là sự thật không?
-Hoàn toàn là sự thật.
-Cái chuyện linh hồn người anh em của chị đi “cưa gái” thì nay đã cưới chưa?
Chị cười:
-Sự thật khi tìm kiếm anh trai tôi có thông tin đó, sau đó xong rồi không có dịp liên lạc nên không biết ra sao?
-Chị đến trung tâm của Lê Trung Tuấn ra sao?
-Lúc đầu tôi có biết đâu, do Ngô Thị Thuý Hằng ở trung tâm Marin giới thiệu đấy. Anh à, sau đó qua ông Nguyễn Sỹ Hồ chép bia liệt sĩ, tôi cũng tìm giúp được mấy trăm liệt sĩ đấy.
-Tôi thấy Ngô Thúy Hằng, Nguyễn Sỹ Hồ cũng có chống ngoại cảm, vậy chị có tin ngoại cảm không?
-Tôi cũng biết người này, người kia chống, đài báo chống, thực hư ra sao tôi không biết, nhưng chuyện tôi viết nhà tôi nhờ Lê Trung Tuấn tìm được anh tôi hoàn toàn là sự thật, anh hỏi các con tôi, tất cả người nhà tôi chứng kiến thì họ cũng xác nhận như vậy thôi. Nhưng nhà tôi, phía tôi thì tin hoàn toàn còn phía nhà chồng lại hoàn toàn không tin nên đúng là rắc rối!
-Tin hay không phải dựa vào thực tế chứ đâu thể tùy tiện được.
***
Đơn giản như thế, là dựa vào thực tế, nhưng thực tế cũng lại quá phức tạp; ngu độn, vô minh, thiển cận, chủ quan thì không thể nhìn đúng được bản chất vấn đề. Nhưng nhìn rộng ra thế giới thì thấy nhận thức mâu thuẫn về hiện tượng ngoại cảm ở VN cũng không có gì là lạ. Bởi chính vì niềm tin khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, trong quá khứ thế giới đã nổ ra các cuộc thánh chiến, tiếc thay, ngay những ngày hôm nay máu vẫn không ngừng đổ!
12-1-2017
ĐÔNG LA



Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

VÀI Ý VỀ CHUYỆN CUỐN “PETRUS KÝ – NỖI OAN THẾ KỶ” CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU GẶP RẮC RỐI

ĐÔNG LA
VÀI Ý VỀ CHUYỆN 
CUỐN “PETRUS KÝ – NỖI OAN THẾ KỶ” 
CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU GẶP RẮC RỐI
Trong những ngày qua dư luận xôn xao về chuyện ra mắt cuốn ‘Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ’ bị đình lại. Phía “lề trái” thì lu loa cho do một "lệnh miệng" nào đó chứ hòan toàn không do nội dung cuốn sách. Ông Nguyễn Đình Đầu, chủ biên, cho biết công trình của ông khảo cứu tất cả những người khen, chê về Trương Vĩnh Ký khi còn sống và sau khi qua đời:
“Trong tất cả giai đoạn thăng trầm lịch sử của Việt Nam, có những người khen Trương Vĩnh Ký, có người chê Trương Vĩnh Ký nhưng đều không dựa vào tài liệu chính thức. Vì thế tôi thấy muốn hoà hợp dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, thì tôi nghĩ đối với nhân vật lịch sử đặc biệt như Trương Vĩnh Ký, thì nên làm một hồ sơ về Trương Vĩnh Ký”; “Tuy hợp tác với Pháp nhưng vẫn là giữ tinh thần quốc gia, tức tinh thần yêu nước, lúc đó là trung thân với ái quốc. Vì thấm nhuần tinh thần Thiên chúa giáo và tây phương nên thấm nhuần tinh thần dân chủ, nhưng vẫn giữ được các cốt cách của Việt Nam”.
Nguyễn Đình Đầu (sinh năm 1920) từng sang Pháp học tại Đại học Công giáo Paris , về nước sống tại Sài Gòn, với tính cách ôn hòa ông được xem như là một trong những thành viên tích cực của "Lực lượng thứ ba", sau năm 1975, vẫn tiếp tục nghiên cứu, hiện là Ủy viên Ban chấp hành Hội Sử học Việt Nam.
Về "Lực lượng thứ ba", ông Võ Văn Kiệt cho rằng: “Theo tôi, đã đến lúc ta phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ”; bà Nguyễn Thị Bình: “Nhiều người ngại nói đến lực lượng thứ ba, nhưng theo tôi, lực lượng này đã có những đóng góp nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta”. Tôi thấy ý ông Lý Chánh Trung, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, là đúng bản chất vấn đề hơn cả: "Lực lượng hay Thành phần thứ ba chỉ là một khát vọng hơn là một thực lực thực tế. Tổ chức vỏn vẹn có vài trăm người. Nhóm người đó mở ra mọi phía và đón nhận nhiều ảnh hưởng. Vì thế họ không có một ý thức hệ chính xác nào
Và với riêng ông Nguyễn Đình Đầu thì đúng hơn cả là ý của  Jean-Claude Pomonti, một phóng viên báo Le Monde, Pháp, cho “tên gọi “lực lượng thứ ba” đã được dùng vào năm 1960, sau khi một nhóm 18 chính khách Caravelle đối lập với chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chống Cộng”. Bởi Nguyễn Đình Đầu gần đây cũng có mặt trong nhiều vụ việc “quấy rối chính trị”, om sòm nhất là ông cũng có tên trong cái danh sách 72 người đã ký vào "Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992" ngày 19 tháng 01 năm 2013 tại Hà Nội, nói toạc móng lợn ra là muốn lật đổ chế độ VN hiện tại!
Một người như vậy liệu có khách quan, khoa học khi nhận định về những nhân vật lịch sử và về chính lịch sử?
***
 Nguyễn Đình Đầu theo truyền thông giới thiệu là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực địa lý học - lịch sử Việt Nam. Có thể phần nào đúng như vậy. Có điều có những người nếu họ “biết điều”, chỉ “phán” trong lĩnh vực mà họ am tường, thì họ có thể rất hay. Nhưng lại lấn sân sang những lĩnh vực mà họ chỉ biết mặt chữ thì những ý kiến của họ có khi rất ngây ngô. Như cụ Cao Xuân Huy chẳng hạn, một người cả tuổi tác lẫn địa vị tri thức còn cao hơn ông Đầu rất nhiều, nhưng khi cụ viết về khoa học tự nhiên và triết học duy vật biện chứng thì rất sai. Tương tự Nguyễn Đình Đầu khi lấn sang lĩnh vực chính trị cũng rất dễ sai như cụ Cao Xuân Huy, vì chính trị liên quan đến triết học, mà triết học Mác là triết học duy vật biện chứng, muốn hiểu cho đúng và sâu sắc cần phải hiểu khoa học tự nhiên nữa. E rằng về những lĩnh vực đó “học giả” Nguyễn Đình Đầu cũng chỉ mới biết mặt chữ thôi.
Với khoa học xã hội, nhất là việc khảo cứu lịch sử, thực ra người ta không cần thông thái lắm mà chỉ cần biết chữ, có tài liệu và phải chăm chỉ hơn người một chút, tức có cung cách của một “con mọt sách”. Nhưng để công trình có giá trị người khảo cứu phải thể hiện những quan điểm đúng về những vấn đề còn mâu thuẫn của lịch sử. Muốn vậy buộc người nghiên cứu phải có tâm sáng. Tâm sáng để nhìn cho rõ, cho đúng, để công tâm, nghĩa là phải công bằng và khách quan.
Về Trương Vĩnh Ký còn bao nhận định mâu thuẫn nhau như vậy mà Nguyễn Đình Đầu lại đặt tên sách khẳng định cuộc đời ông là “Nỗi oan thế kỷ”. Vậy Nguyễn Đình Đầu có công tâm không? Khi được những người có trách nhiệm góp ý còn bướng không chịu sửa, nay sách chào đời bị rắc rối còn cãi cái gì?
***
Nhiều ý kiến cho rằng phải chăng do tên gọi của quyển sách là "Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ" mà tác phẩm này đã không được ra mắt như đã định?
Ông Chu Hảo cho biết:
“Theo tôi được biết thì tác giả, cụ Nguyễn Đình Đầu, không đồng ý sửa chữa bất cứ nội dung nào đã viết trong sách. Cụ là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, cẩn trọng và có bản lĩnh”; “Đúng, có lẽ cái tựa sách ấy đã làm cho một số người kiên trì bài bác đến mức thóa mạ Trương Vĩnh Ký phật ý và phản ứng mạnh mẽ”.
Ông Nguyễn Nhã thì cho rằng:
 “Nếu nói về nỗi oan, thì có thể dưới một góc độ về chính trị, thì cho ông Trương Vĩnh Ký là người thân Pháp hay gì đó thì không đúng vì một người học thuật như ông thì ở bất cứ ở đâu và thời gian nào họ cũng thể hiện tính cách và công trình của họ có giá trị muôn đời”.
Còn theo ông Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam:
    “Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối”.
   Để khách quan, tôi xin trích ngay Trương Vĩnh Ký – Wikipedia tiếng Việt trên Google để so sánh với ý của các ông ở trên xem sao:  
Lược kê ra một số sự kiện đáng chú ý:
Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, trung tá hải quân Jean Bernard Jaureguiberry và 800 lính ở lại giữ thành Gia Định. Pétrus Ký viết thư cho Jean, trong đó kêu gọi quân Pháp nhanh chóng đánh đuổi quân nhà Nguyễn để hỗ trợ các tín hữu Ki-tô giáo tại Việt Nam.
Không du học nữa, và cũng không thể ở quê nhà vì chuyện đã viết thư cầu viện Pháp, Pétrus Ký chạy lên Sài Gòn vào tá túc nhà vị Giám mục người Pháp Dominique Lefèbre, và được ông này giới thiệu làm thông ngôn cho Jauréguiberry vào ngày 20 tháng 12 năm 1860.
Ngày 8 tháng 5 năm 1862, Pháp thành lập trường Thông ngôn (Collège des Interprètes), ông được nhận vào dạy. Cũng trong năm này, ông theo sứ thần Simo đáp thuyền Forbin ra Huế bàn việc nghị hòa. Trong hiệp ước nghị hòa, nhà Nguyễn phải chịu mất 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, điều này khiến nhiều người Việt căm phẫn và chỉ trích Pétrus Ký vì ông đã giúp Pháp thương thảo hiệp ước này…
Từ năm 1866 đến 1868, ông được bổ làm Giáo sư dạy tiếng Pháp ở trường Thông ngôn Sài Gòn.
Năm 1869, Sứ thần Tây Ban Nha sang Việt Nam nhằm ký thương ước với triều đình Huế. Tới Sài Gòn, vị sứ thần này đã xin Chính quyền Pháp ở Nam Kỳ cho phép Pétrus Ký đi theo giúp đỡ. Nhiệm vụ hoàn thành, nhân thời gian rãnh rỗi, ông sang thăm Hồng KôngMa CaoQuảng ĐôngQuảng Tây,...
Năm 1872, Pétrus Ký được Pháp thăng chức Tri huyện hạng nhất, đồng thời được bổ làm Đốc học (Giám đốc) trường Sư phạm dạy người Pháp học tiếng phương Đông, kiêm chức thư ký Hội đồng châu thành Chợ Lớn (1 tháng 6 năm 1872).
Ngày 1 tháng 1 năm 1874, Pétrus Ký lãnh chức Giáo sư dạy chữ Việt và chữ Pháp cho người Pháp và người Tây Ban Nha tại trường Tham biện Hậu bổ (Collège des administrateurs stagiaires), rồi làm Chánh đốc học trường ấy, đồng thời lãnh chức Ủy viên thượng Hội đồng Giáo dục (17 tháng 11 năm 1874). Cũng trong năm này, Pétrus Ký được bình chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 "Thế giới Thập Bát Văn Hào"…
Năm 1877, ông là hội viên duy nhất và đầu tiên người Nam, được cử làm Ủy viên Hội đồng cai trị Sài Gòn.
Ngày 17 tháng 5 năm 1883, ông được Hàn Lâm Viện Pháp phong danh hiệu Viện sĩ (Officier d'Académie).
Năm 1886Paul Bert (nghị sĩ, hội viên Hàn lâm, bác học gia sinh vật học) được cử sang Đông Dương làm Khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ, trong bối cảnh sau khi Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi làm cuộc binh biến chống Pháp thất bại. Vốn là bạn từ trước, nên Paul Bert mời Trương Vĩnh Ký ra Huế giúp việc. Khoảng đầu tháng 6 năm ấy, Pétrus Ký ra Huế, được vua Đồng Khánh cho lãnh chức trong Cơ mật viện Tham tá, sung Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ.
Trong vai trò này, Pétrus Ký chủ trương An Nam không thể chống lại Pháp được, mà phải tuân theo họ, nhất là sau khi cuộc nổi dậy của vua Hàm Nghi thất bại. Pétrus Ký coi những người tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp chỉ là đám phiến loạn không hiểu thời cuộc, ông cho rằng rằng tinh thần ái quốc của họ chỉ là do sự hận thù đối với các con chiên Công giáo cộng tác với người Pháp. Ông đề nghị Paul Bert cho huấn luyện và cấp vũ khí cho các đơn vị lính người Việt, dùng các đơn vị này để trấn áp các cuộc nổi dậy của phong trào Cần Vương. Ông cũng cho rằng: về phương diện chính trị và kinh tế, nước Pháp là người đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Ông tin rằng việc người Pháp tấn công Việt Nam là một sứ mệnh mà Thiên Chúa giao phó, và người Pháp với tư cách là chủ nhân, cần giảng dạy người An Nam những tư tưởng và khái niệm cần thiết cho việc cải tạo người An Nam.
Pétrus Ký đề ra nhiều chính sách có lợi cho Pháp, nên Paul Bert cho rằng sẽ rất có lợi cho Pháp nếu giữ Pétrus Ký làm việc lâu dài ở triều đình nhà Nguyễn. Nhưng ngày 11 tháng 11 năm đó, Paul Bert bất ngờ bị bệnh chết. Mất người bảo hộ, Trương Vĩnh Ký bị nhóm thực dân Pháp không cùng cánh bỏ rơi, bạc đãi; và bản thân Pétrus Ký sau đó cũng bị triều đình Huế nghi kỵ và trù dập nên ông lấy cớ đau phổi xin từ chức về lại Sài Gòn dạy học tại trường Hậu Bổ, trường Thông ngôn và viết sách...
Cuối đời
Mặc dù đã trở về đời sống của một viên chức nhỏ, nhưng Pétrus Ký vẫn bị những người khác phe tìm cách hạ bậc lương và làm khó dễ việc vào ngạch Giáo sư sinh ngữ Đông Phương của ông. Khi trước, lúc còn được người Pháp ưu ái, những sách của Pétrus Ký đều được nhà cầm quyền Pháp bỏ tiền ra in, để phân phối cho học sinh. Nhưng từ khi bị hắt hủi, lui về ẩn dật ở Chợ Quán, ông phải bỏ tiền riêng ra in ấn và tự phát hành. Sách ế ẩm khiến Pétrus Ký phải mắc nhiều nợ.
Năm 1887, sau khi đi công tác ở Bangkok để giải quyết vấn đề giữa Thái Lan và Đông Dương, ông nghỉ hưu.
Năm 1888, ông xuất bản tạp chí tư nhân Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées) được 18 số (1888-1889). Cũng trong năm này, trường Thông ngôn đóng cửa, Pétrus Ký gần như thất nghiệp. Sống trong hoàn cảnh buồn bã, ông bệnh hoạn luôn. Pétrus Ký qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1898”.
Hóa ra cuộc đời theo Pháp của Trương Vĩnh Ký lại đúng là lên voi xuống chó. Vì vậy câu nói theo cách ngôn Latinh "Ở với họ mà không theo họ" ("Sic vos non vobis") của Trương Vĩnh Ký là do ông bị thất sủng chứ hoàn toàn không phải “vì lòng yêu nước” mà không ít người có bản chất như ông, có cuộc sống giống ông, đã sơn phết vào danh dự cho ông.
Như vậy, chính các ông Đầu, Chu Hảo, Nguyễn Nhã, Phan Huy Lê nghĩ, nói và viết về Trương Vĩnh Ký không khoa học, không khách quan mà chính những người “kiên trì bài bác đến mức thóa mạ Trương Vĩnh Ký” theo ý ông Chu Hảo mà tôi đã trích dẫn trong một bài viết và bài của nhà văn Nguyễn Văn Thịnh, có thể chưa toàn diện về Trương Vĩnh Ký, nhưng đúng về Trương Vĩnh Ký hơn.
***
Nhà văn Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh trong bài ĐỔI MỚI SỬ HỌC KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ TÔ ĐEN THÀNH TRẮNG viết:
 “Trương Vĩnh Ký (1837–1898): là nhân vật có diện mạo khá đặc biệt trong lịch sử Việt Nam cận đại. Sự đặc biệt ấy không phải do đương sự tạo nên mà do giới cầm quyền từ triều đình nhà Nguyễn và chính quyền thực dân đô hộ tô vẽ ra. Sau này, các thế lực chính trị đủ màu sắc lại dựa vào đấy nhằm phụ họa cho những ý đồ riêng của họ. Ông ta được Giáo hội Kito nuôi dạy từ tuổi ấu thơ để thành học giả nổi danh giữa lúc nền văn hóa Đông-Tây mới tiếp cận nhau.
Tuy nhiên học vấn là một chuyện và thái độ với tổ quốc và dân tộc lại là một chuyện. Trương ra hợp tác với quân xâm lược rất sớm. Từ người tu hành chuyển sang làm thông ngôn sau thành quan lại, đóng vai trò gạch nối giữa nhà nước thực dân với triều đình An Nam lúc đó. Năm 1876, được quan thuộc địa cử ra Bắc kỳ công cán, thực ra là làm nhiệm vụ dò xét thổ nhưỡng, dân tình. Trương gửi báo cáo về quan trên: “Các quan lại Nam triều thường nói với tôi rằng nước Pháp cố ý xâm chiếm xứ này. Tôi trả lời là không!... Tất cả qúy vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ đã có thể làm việc đó từ lâu một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Qúy vị phải hiểu rằng qúy vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt  hơn, qúy vị chỉ nên tin vào người bạn đồng minh tiếng tăm và phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, không hậu ý, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ chứ không phải một cái chìa ra còn bàn kia thì giữ lại. Bằng ngược lại, mệt trí vì những do dự, những điều nói nửa lời đầy âm mưu của qúy vị, nước Pháp buộc lòng phải ngưng che chở và bỏ mặc qúy vị với số phận”! … Trương bị giới nho sỹ Bắc Hà nhạo báng thẳng thừng trên những câu thơ, đối chương lên báo chí: “Hay tám vạn tư mặc kệ / Không Quân–Thần–Phụ–Tử đếch ra người”, phải bỏ dở chuyến công du.
Do sức ép của chính quyền thực dân, triều đình nhà Nguyễn phải chấp nhận dành phẩm trật cao giữa triều đình cho một số người của Giáo hội Kito. Năm 1886, Jean Baptiste Trương Vĩnh Ký được phong Đại quan Cơ mật viện tham tá, sung Hàn lâm thị giảng học sỹ. Trong vai trò ấy, Trương là một quan chức mẫn cán của nhà nước thực dân, kiểm soát mọi hoạt động và đốc thúc Nam triều thực thi cái gọi là Hòa ước Patenôtre – Giáp thân (1884), đặt toàn bộ Việt Nam dưới quyền cai trị của thực dân Pháp. Vua tôi An Nam nếu không thành bù nhìn thì cũng là công cụ trong bộ máy thống trị của ngoại bang! Trong thư gửi cho một linh mục: “Những gì tôi nói ở đây là do mắt thấy, tai nghe. Trong cái nhìn đặc biệt về lợi ích của nước Pháp, việc Đồng Khánh lên ngôi quả là may mắn” và Trương báo cáo với Toàn quyền Paul Bert: “Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (là những người có tư tưởng chống Pháp) và sẽ bao vây lấy nhà vua (Đồng Khánh). Tôi cũng sẽ gom những người thật sự có khả năng (?!) cho Viện Cơ mật”… Trương một mặt xúi vua Đồng Khánh “làm ra năm mười khoản ước đưa ông Paul Bert nghị lại mà tính với nhau” định rõ quyền hạn của Nam triều và Bảo hộ (Bắc kỳ) nhằm hoàn thành nghị trình thâu tóm Việt Nam ôn hòa hơn viên tướng De Courcy trước đó; một mặt tham mưu cho Toàn quyền Paul Bert: “Hãy nhanh chóng thành lập những đoàn Lạp binh (đặc nhiệm cơ động) và võ trang cho họ. Ngài không có điều gì phải quản ngại vì nhà vua và chính phủ Nam triều sau vụ bạo hành tháng 7/1885 (tức ngày  24/5/Ất dậu – ngày thất thủ kinh thành Huế), nay chỉ còn cách thần phục nước Pháp thôi”. Đội quân ấy đã tỏ ra hữu hiệu trong việc đàn áp và truy sát những nghĩa sỹ cần vương. Trương còn bày cách chiếm dụng những mảnh đất đẹp của các chùa chiền ở Huế giao cho nhà thờ mà chính quyền chính quyền thực dân từng làm ở những nơi đô hội từ Bắc vào Nam, ngay cả ở Hà Nội, Sài Gòn. Tất nhiên chính quyền bù nhìn sở tại phải cúi đầu làm lơ!
Một đời sáng tác, Trương cho ra 121 tác phẩm chữ Việt và chữ Pháp mà nội dung được ông nói thẳng ra : “Trong các tác phẩm của tôi không bao giờ đi lệch mục đích chính là sự biến cải và đồng hóa dân tộc An Nam” và đều được nhà nước bảo hộ bảo trợ ấn hành. Ông ta hăng hái bộc lộ ruột gan ra với quân cướp nước trong khi với đồng bào thì luôn viện dẫn câu cách ngôn La tinh “Ở với họ mà không theo họ” (Sic vos non vobis)! Ông ta góp phần không nhỏ đào tạo ra một lớp trí thức tân học vong bản, đến nỗi học giả Nguyễn Văn Vĩnh tuy là người hăng hái tiên phong trong việc Quốc ngữ hóa chữ Nôm từng phê phán: “Tôi so mấy chương báo bằng quốc văn và mấy chương báo bằng Pháp văn, thì hình như các đại huynh học Pháp văn kỹ qúa, kỹ hơn tiếng nước nhà nhiều”! Trong khi nhân dân ta phỉ báng Trương là “con người phản phúc” thì trùm thực dân Paul Bert khen là người “luôn trung thành với nước Pháp”. Con người Trương nhìn từ hai phía đều đúng với con người thực của ông! Đương thời, Trương đã bị giới sỹ phu yêu nước tẩy chay, khinh thị.

… Cuốn “Pétrus Trương Vĩnh Ký nhìn từ những khía cạnh và nhận thức khác nhau” của 7 tác giả: Bùi Kha, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Sinh Duy, Hồ Hữu Tường, Phạm Long Điền, Mẫn Quốc và Tô Minh Trung đều chung một nhận xét. Người viết xin trích ra một ý kiến của nhà nghiên cứu quen thuộc Nguyễn Đắc Xuân: “Nếu lấy tiêu chí Việt gian dành để xếp những tên phản quốc Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan… vận dụng vào Trương Vĩnh Ký thì ta thấy Trương Vĩnh Ký vượt xa những nhà nho nêu trên. Lịch sử Việt Nam cận đại luôn luôn phải nhắc đến Trương Vĩnh Ký như một nhân vật phản diện điển hình. Đây là trường hợp có một không hai trong lịch sử Việt Nam”… Giữa lúc đường công danh đang như hội phong vân thì quan thầy Paul Bert bỗng lăn đùng ra chết. Giới chóp bu thực dân mỗi kẻ đều có thuộc hạ riêng. Trương bị thất sủng, bơ vơ trong nỗi cô đơn, ngậm ngùi thổ lộ nỗi lòng: “Học thức giữ tên con mọt sách/ Công danh rốt cuộc cái quan tài/ Cuốn sổ bình sinh công với tội/ Tìm nơi thẩm phán để thừa sai!” và lưu lại đời sau mấy dòng trên mộ chí: “Xin hãy thương tôi, ít ra những bạn hữu của tôi”! Còn gì đau đớn và cay đắng hơn với một trí giả văn nhân khi tự thấy mình đã tuột ra khỏi lòng dân tộc?! Học giả Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh kết câu ngắn gọn: “Nhân tài thất đức thờ bạo chúa”! …”
“Còn việc Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Trương Vĩnh Ký?
Tác giả Bùi Kha có bài viết rất kỹ về Trương Vĩnh Ký trên trang
giaodiemonline. Chỉ in trích vài đoạn. Bùi Kha viết:
“Sau một thời gian ngắn, trung tá hải quân Jean Bernard Jaureguiberry và 800 lính ở lại giữ thành Gia Định, còn Genouilly thì trở ra Đà Nẵng đánh phá lần thứ nhì.
Trước cảnh nước mất nhà tan, Trương Vĩnh Ký đã không tham gia phong trào đánh đuổi thực dân như bao nhiêu người khác. Trái lại ông còn viết thư cho viên trung tá thực dân nói trên, yêu cầu giúp đỡ để tiêu diệt quân dân Việt Nam mà họ Trương gọi đó là kẻ thù. Thư nói trên viết vào cuối tháng 3.1859, lúc Trương 22 tuổi, trong đó có một số đoạn như sau:
"... Nhưng tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Ki-tô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi... nỗi thống khổ mà chúng tôi hằng gánh chịu dưới bạo quyền của các quan lại triều đình gây ra... Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù [1] của chúng ta..." (Văn khố Hải quân Pháp, Paris: SUM Vincennes. TS Vũ Ngự Chiêu sưu tập)”.
“Trương Vĩnh Ký… trong thư ngày 28.4.1876, gởi cho tướng Pháp, Bossant, quyền thống đốc, để trình bày sự cầu mong thực dân Pháp chiếm và cai trị toàn xứ Bắc kỳ:
"…Và phải chăng sự khốn cùng đang bao trùm trong dân chúng, và phải chăng khắp nơi người ta đang nghe đòi hỏi những sự thay đổi và một nền cai trị hữu hiệu để duy trì trật tự, ban cho dân chúng một ngày mai”.
 “Sợ Pháp do dự không chịu chiếm, Bao-ti-xi-ta (tên thánh của Trương Vĩnh Ký) còn đem miếng mồi kinh tế béo bở của xứ Bắc Kỳ ra để khơi động lòng tham của thực dân Pháp:
"Và tất nhiên, xứ sở chẳng thiếu tài nguyên, đất đai mà tôi dám quyết rằng có thể sánh với thổ nhưỡng của nước Pháp, ít ra là đối với Algérie, chất chứa nhiều của cải đủ để làm nên tài sản cho một quốc gia. Đất này tiện lợi cho những vụ trồng trọt các mùa thay đổi khác nhau. Những cuộc thí nghiệm trồng nho và gieo lúa mì cho thấy những kỳ vọng chắc chắn. Tôi từng thấy lúa mì mọc trong đất, cây trông đẹp, bông đầy và lớn hạt. Tôi chưa nói tới ở đây những tài nguyên khoáng chất, người ta bảo là bao la, và tôi xin được phép nói rằng dân của xứ này đã chết đói trên một chiếc giường đầy vàng".
Như vậy, Quỹ Văn hóa mang tên nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh”, do cháu ngoại của cụ là Bà Nguyễn Thị Bình làm chủ tịch và ông Nguyên Ngọc làm Chủ tịch Hội đồng Khoa học, đã chọn Trương Vĩnh Ký để tôn vinh trong “Ngôi Đền Tinh hoa Văn hóa Việt Nam” chung với các nhà chí sĩ yêu nước chống Pháp, từng bị Pháp bắt là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, thì đã chống lại chính Phan Châu Trinh”
***
Còn chuyện ông Nguyễn Đình Đầu nói in sách giải oan cho Trương Vĩnh Ký để hòa hợp dân tộc? Đúng là chúng ta cần hòa hợp dân tộc cũng như tất cả các nước từng là cựu thù đã hòa giải để trở thành đồng minh. Như Mỹ trong giai đoạn gần kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ 2 từng thả một quả bom nguyên tử xuống Hiroshima, ba ngày sau Mỹ thả tiếp một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki. Theo ước tính, hơn 200.000 người đã thiệt mạng và hàng nghìn người khác phải sống với nhiều di chứng sau chiến tranh. Nhưng ngày 27/5, ông Barack Obama là Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên tới thăm Hiroshima, trước đó ông khẳng định sẽ không nói lời xin lỗi, bởi ông cũng như dân Mỹ luôn coi hai quả bom góp phần kết thúc chiến tranh và tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Dù người Nhật sẽ không bao giờ quên những gì đã xảy ra song người dân ở đất nước "Mặt trời mọc" này đã hiểu vấn đề, họ cũng coi trọng quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ hiện tại, họ tin rằng điều quan trọng nhất chính là cùng với Mỹ hướng tới một thế giới không có vũ khi hạt nhân. Chuyến thăm của TT Obama tới Hiroshima là hành động trong nhiều bước hướng tới một thế giới phi hạt nhân. Hành động có nhiều giá trị hơn lời xin lỗi và là cách tốt nhất để tránh lập lại bất cứ "cơn ác mộng" nào như trong quá khứ. Vì vậy ông Obama vẫn được dân Nhật chào đón đến Hiroshima.
          Còn Việt Nam chỉ trong nội bộ một nước nhưng để hòa hợp dân tộc chúng ta cần học tập mối quan hệ Nhật – Mỹ. Chúng ta cần hòa hợp nhưng không vì thế mà phải đảo lộn cả hệ giá trị, lộn ngược lại từ lịch sử đến luân thường đạo lý. Sự hòa hợp đó sẽ lại dẫn đến hỗn loạn, nội chiến.
10-1-2017
ĐÔNG LA