Thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 2014

CÓ MỘT KỶ NIỆM



CÓ MỘT KỶ NIỆM

Làm thơ, làm nhạc nhiều khi cũng cần người mẫu, cảnh mẫu như họa sĩ vẽ vậy. Như ông Phú Quang từng kể có bài hát ông viết khi nghĩ đến người đẹp Lê Khanh. Trong truyện ngắn BẢN BI CA MARIENBAT của Stefan Zweig kể câu chuyện Đại thi hào Gớt (Johann Wolfgang von Goethe), chỉ tình yêu với “cô cháu” Unric con gái của chính người tình cũ của ông mới đủ “hot”, mới đốt cháy được trái tim một ông già đã 74 tuổi, khiến ông sáng tác được “bài thơ thâm thúy nhất, sâu kín nhất và cũng là bài thơ ông yêu thích nhất”. Nhà văn Vũ Thị Thường vợ Nhà thơ Chế Lan Viên cũng có lần tâm sự với tôi, làm vợ nhà thơ thì phải thông cảm, làm thơ tình thơ mộng thì người ta phải tưởng tượng chứ chỉ nghĩ về vợ thôi thì sao mà làm được.
Còn tôi, vừa rồi trong một trang chống cộng tôi thấy đăng bài của một “cô bé” mà sau một lần gặp tôi cũng đã có làm một bài thơ. Nhưng chỉ là một cô bé trong trí nhớ của tôi thôi còn sau khoảng 20 năm thì không ai có thể còn là một cô bé được nữa. Hồi đó là cuối thập niên 90, số tôi đang đỏ, làm ăn tiền vào như nước, cảm hứng văn chương luôn dào dạt. Hai năm liền, 1997, 1998 tôi được tặng thưởng hàng năm về phê bình và thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tạp chí này giờ thì thường, trước đây, nhất là thời chiến, Văn nghệ QĐ như một pháo đài văn hóa nghệ thuật, góp phần rất lớn làm nên sức mạnh tinh thần cho cuộc kháng chiến. Lần đầu tiên tôi đến tạp chí được tiếp đón như một khách quý. Nhà thơ Anh Ngọc bảo vừa ăn vừa đọc bài của tôi viết về quyển của ông Đỗ Minh Tuấn hay quá rơi cả đũa, Nhà văn Nam Hà ôm lấy tôi “Đông La đây à?”; Nhà phê bình Hồng Diệu quý mến như anh em; Nhà thơ Vương Trọng khi vào SG tìm gặp, v.v… Vì vậy hồi ấy mỗi lần ra Hà Nội gặp bạn bè văn chương rất vui. Mà bạn tôi thì đều vào hàng “số 1”, “trung tâm thời đại” cả, lại ở các trung tâm như Báo Văn nghệ, Viện Văn, nên gặp họ thường là tôi “phải” gặp thêm rất nhiều tên tuổi khác mà bình thường thì tôi và họ không bao giờ có thể gặp nhau.
Tôi đã gặp “cô bé” trên trong một chuyến ra HN như vậy: 
   

Chỉ là một cuộc gặp thoáng qua, nhưng máu nghệ sĩ trong tôi thường có ấn tượng với những gì đó hay hay, có khi còn hứng, còn bốc lên thơ thẩn nữa. Tôi đã lấy được vợ vì cái tật đó. Nên sau cuộc gặp trên, tôi cũng đã có làm một bài thơ đặt tên là CƠN KHÁT, đã đăng trên hình như là Văn nghệ TRẺ đàng hoàng. Sau đó thấy cô Vi Thùy Linh có ra một tập thơ cũng đặt tên là KHÁT.
Là người làm ở viện nghiên cứu khoa học tự nhiên nên khi sáng tác tôi cũng rất chú trọng đến sự sáng tạo, không chỉ tán thành mà tôi còn luôn đồng hành, thực hành sự đổi mới văn chương. Nhưng khổ nỗi đổi cái gì mới cũng khó nên đa phần cái gọi là “đổi mới” trong sáng tác văn chương ở ta thường chỉ là  sự “lộn ngược” nhân danh đổi mới mà thôi. Tiếc là có trường hợp người ta tổ chức công nhận tôn vinh sự lộn ngược ấy. Tôi đã viết nhiều và đã góp phần nào ngăn chặn được điều đó. Như trường hợp cô TS Từ Huy ăn nói lăng nhăng và luận văn của cô bé Nhã Thuyên chẳng hạn.
Nhưng thế nào là mới? Mới thực ra chỉ là cách viết mới, không giống ai, vậy thôi. Chỉ đơn giản như vậy nhưng có người mang danh nhà thơ cả đời chỉ viết được những câu thơ chung chung, giông giống nhau, không viết nổi một câu thơ của riêng mình.
Có thể lấy vài ví dụ về cái riêng, cái mới. Lưu Quang Vũ quả là độc đáo khi Xuân Quỳnh đau tim nằm viện, nhìn dòng sông cũng liên tưởng mà thương về người vợ bị bệnh của mình:
Và sau đê sông Hồng nước lớn
Đỏ phập phồng như một trái tim đau
Còn tôi, khi nghĩ về cánh đồng quê tôi, tôi đã viết:
Đất như bị lột da vẫn không kịp cho những vụ chiêm mùa
Những vụ mùa xếp hàng chờ nhau đến lượt
Hồi ở Leningrat, tôi đã viết hai câu mà sau đó có những cô cậu đã hỏi “mượn” để gởi tặng cho người yêu ở những nơi xa xôi:
Anh xa em gần nửa vòng trái đất
Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa cầu
v.v…
Mang danh một nhà thơ người ta phải có sứ mệnh góp phần riêng của mình vào việc diễn đạt cái tâm hồn vô cùng tinh tế và phong phú của con người. Có lẽ do nghĩ vậy mà sau lần gặp một cô gái gần như hoàn toàn xa lạ nói trên, tôi lại muốn “trổ tài”. Một phần cũng là do adua với cái không khí đổi mới văn chương hồi ấy. Tôi đã tưởng tượng ra đủ điều rồi cố diễn tả sự hóa thân bằng những hình ảnh thật lạ mà tôi tin là chưa có ai viết như thế này:

Khi gặp em anh chợt thấy cơn khát của cánh đồng
Cánh đồng bị rang trên cái chảo mùa hạ
Móng tay của nắng để lại những vết xước hình mắt lưới
Những vết bỏng phồng rộp như bánh đa nướng
Trên da thịt đất
Thế mà bao đám mây mọng nước
Lại thung thăng trôi về phía bên kia.

Đó là chuyện của hai mươi năm về trước. Tôi không một lần gặp lại cô bé và cũng hoàn toàn không biết gì về cô. Nhưng với một kỷ niệm sáng tác như vậy, làm sao mà trong ký ức tôi không “còn một chút gì để nhớ”? Vì vậy mà tôi đã tò mò, không biết “cô bé” đó bây giờ thế nào nhỉ? Trước kia thì chịu nhưng giờ với fb thì chuyện tìm kiếm không phải là chuyện quá khó:
       Xin bạn đọc tự nhận ra và nhận xét.

22-11-2014
ĐÔNG LA




Thứ Hai, ngày 17 tháng 11 năm 2014

NHỮNG SỰ “CÙ LẦN” CỦA “ÔNG ĐÈN CÙ”

ĐÔNG LA
NHỮNG SỰ “CÙ LẦN” CỦA “ÔNG ĐÈN CÙ”

Một người thông minh là người không chỉ làm ra được những điều mới mẻ có giá trị mà còn biết nhận ra sai lầm của chính mình. Với khoa học công nghệ thì dễ, nếu sai anh sẽ biết ngay vì kiểm chứng sai hoặc không cho ra sản phẩm. Bộ óc vĩ đại như Einstein cũng đã buộc phải thừa nhận mình là “ngu ngốc” khi đưa vào phương trình của mình “hằng số vũ trụ” vì ông cho rằng vũ trụ là “tĩnh”. Nhưng với chính trị tư tưởng thì khác, vì thế giới còn phân cực nên vẫn có những sự sai trái được ủng hộ, tung hô. Những cuốn như Bên thắng cuộc của Huy Đức hôm nào và Đèn cù của Trần Đĩnh hôm nay chính là loại như vậy. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã mà. Họ bất chấp sự phi lý, sai trái, viết ra để ngụy biện, muốn lau đi những gì nhem nhuốc trên gương mặt mình, và tệ hơn nữa, là vì tiền, nhưng vẫn có những kẻ ca ngợi. Có điều để tranh biện khách quan, ai cũng phải dựa trên cơ sở của đạo lý, như cướp của giết người thì phải là xấu, xâm lược thì phải là phi nghĩa. Từ đó ta sẽ thấy chủ trương đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập của chúng ta như lịch sử đã diễn ra tất yếu là đúng đắn, là chính nghĩa. Chỉ có những kẻ mất nhân tính mới không thấy như vậy. Một người đã ở tuổi U90 như Trần Đĩnh, lại từng làm ở báo Sự Thật (tiền thân của báo Nhân Dân), sau ngày thống nhất đến 40 năm, vẫn viết sách cho cuộc kháng chiến của chúng ta từng khiến cả thế giới và đến cả kẻ thù cũng phải khâm phục, là sai lầm, thì đầu óc ông ta đúng là cù lần thật! Và cái tựa đề “Đèn cù”, ông nên dùng để chỉ sự lẩn quẩn của chính mình thì đúng hơn.
Đặt tên cuốn sách là Đèn cù, Trần Đĩnh muốn nhạo báng sự thay đổi những quyết sách của các nhà lãnh đạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ:
Một  khe  nứt  ngoài  sức  tưởng  tượng!  Ngày  nào  ai  nói  vừa đánh  vừa  đàm,  ai  nói Liên  Xô  cũng  bênh  Trung  Quốc  mà chống Mỹ  thì  cầm  chắc  chết.  Nay  lại chính là Bộ Chính trị. Thay  đổi  quả  là  nhanh  gọn. Trước  kia  ai  li  khai  Liên Xô,  tổ quốc của cách mạng vô sản  thế giới  thì chết, ai dè đến Nghị quyết 9 chửi Liên Xô phản động lại là tuyệt vời cách mạng. Dân từ đó đẻ ra câu: sáng đúng chiều sai đến mai lại đúng. Và ông Trung Quốc bà Liên Xô, ông nhảy dây, bà đá bóng. Lộn tùng phèo hết”.
Viết vậy, Trần Đĩnh đã ngây ngô không hiểu rằng, với chính trị, cái chuyện đèn cù “sáng đúng chiều sai mai lại đúng” lại chính là một thuộc tính của nó. Ta thấy trên thế giới, Anh, Pháp, Mỹ từng là kẻ thù của Đức, Ý, Nhật trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, nhưng nay họ là đồng minh. Còn Liên Xô từng là đồng minh với Anh, Pháp, Mỹ chống Phát-xít nhưng rồi lại đối đầu nhau trong cuộc chiến tranh lạnh. Đọc truyện Tam Quốc ta thấy có những ông quan làm nghề thuyết khách, họ thường “uốn ba tấc lưỡi” thuyết phục kẻ thù cũ hợp tác để chống kẻ thù mới, xong rồi thì họ lại tiếp tục chống nhau. Là một nhà báo, lại làm ở báo Nhân Dân, báo chính trị, vậy mà không hiểu điều đó thì tác giả Đèn cù lại là cù lần! Mà khốn nạn ở chỗ không chỉ là chuyện hiểu hay không hiểu, sự cù lần này đã làm Trần Đĩnh bị thất sủng, bị khốn khổ, rồi cả một đời tự giam cầm trong sự quẩn quanh sai trái của chính mình.
Cái sai lớn nhất của Trần Đĩnh là không hiểu, để làm được một việc gần như không tưởng, gần như tay trắng mà muốn “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, nước ta đã phải tận dụng mọi sự giúp đỡ của “hai ông anh Xô-Trung” và tất cả các nước khác. Ngược lại ta cũng không đồng tình với tất cả những gì làm khó khăn cho mục đích tối thượng đó, kể cả từ phía Liên Xô hoặc TQ. Trần Đĩnh cũng đã không phân biệt được chuyện ta chỉ chống quan điểm xét lại của Liên Xô chứ không chống Liên Xô, ta theo Trung Quốc vì Trung Quốc giúp ta chứ ta không chấp nhận sự bành trướng. Việc Trần Đĩnh lặp lại rất nhiều lần cái ý ta chống Mỹ là cho Trung Quốc chứ không phải cho chính ta thì một lần nữa cũng lại là một cái nhìn cù lần!
***
Gắn với số phận Trần Đĩnh, khởi thủy từ chuyện Khrusov, giữa năm 1956, đưa ra luận điểm “chung sống hòa bình” mà ta cho là “chủ nghĩa xét lại”.
Là một người lương thiện có ai không muốn chung sống hòa bình? Nhưng lịch sử thế giới là là lịch sử của những kẻ khi mạnh thì thường tham lam, luôn muốn thống trị kẻ yếu. Đến tận hôm nay vẫn như vậy. Như việc “con bò” Trung Quốc vẫn đang muốn “liếm” hết Biển Đông chẳng hạn. Như vậy “luận điểm chung sống hòa bình” của Khrusov là chuyện không tưởng.
Vậy Khrusov, thần tượng của Trần Đĩnh và những người trong vụ án “Xét lại chống Đảng”, là người như thế nào?
 Khrusov từng thông qua vợ của Stalin, bạn học ở đại học, để thể hiện “sự trung thành của mình”. Nhưng khi nắm quyền đã phủ định hoàn toàn Stalin. Để nắm trọn quyền lực, năm 1953, Khrusov đã phải dựa vào sức mạnh của Nguyên soái Zhukov tổ chức bắt rồi xử tử Bộ trưởng Nội vụ Beria, cánh tay phải nắm an ninh dưới thời Stalin. Trước đó, Khrusov cũng đã từng chịu ơn Zhukov. Năm 1944, trong đoàn xe hộ tống đại tướng N. F. Vatutin bị phục kích có xe của Khrusov. Có người tố cáo với Stalin rằng Khrusov đã bỏ chạy nhưng Zhukov đã nói với Stalin là Khrusov đã làm mọi cách để cứu Vatutin. Năm 1957, có một dự thảo nghị quyết cách chức Bí thư thứ nhất của Khrusov, Zhukov một lần nữa đã ủng hộ Khrusov với lời tuyên bố: “Quân đội chống lại nghị quyết này và sẽ không có một chiếc xe tăng nào rời khỏi vị trí nếu không có lệnh của tôi !”. Vậy mà trong một chuyến công du Nam Tư, khi Zhukov xa “đoàn xe tăng” của mình, ông đã bị cách chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phía sau lưng, Khrusov đã không làm gì giúp ông. Ngược lại, theo nhiều nhà phân tích, chính Khrusov cũng sợ Zhukov, một căn bệnh có tính truyền thống: "Sợ kẻ có sức mạnh". Nhưng rồi đến chính Khrusov cũng bị mất chức. Năm 1964, theo Mesyatsev: “Hội nghị toàn thể đã bầu Khrusov làm Bí thư thứ nhất. Và cũng chính Hội nghị toàn thể cho ông thôi chức này. … Khrusov cũng đã thừa nhận rằng, ông không thể tiếp tục lèo lái nhà nước và đảng được nữa. — Như vậy, các thành viên BCH TƯ đã hành động không những hợp pháp, mà đây còn là lần đầu tiên trong lịch sử xô-viết của đảng, bằng thuyết phục, họ đã dũng cảm đi tới thống nhất cho thôi chức một lãnh tụ, người đã mắc nhiều sai lầm”.
Không chỉ như vậy, Khrusov cũng chính là người đã gieo mầm ý thức làm tan rã Liên Xô. Thời trẻ, khi Goocbachov hình thành thế giới quan cũng chính là vào thời kỳ Khrusov phủ định hoàn toàn Stalin. Goocbachov từng nói: “Thời trẻ chúng tôi tin theo Đảng, trung thành gia nhập Đảng, nhưng sau Đại hội 20, tư tưởng của chúng tôi bắt đầu có sự thay đổi”. 1990, Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Đại hội thông qua nghị quyết về lập chức Tổng thống Liên Xô và lời tựa Hiến pháp Liên Xô đã xóa đi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản!
Rút cuộc, Khrusov chỉ là một người tầm tường như vậy. Chung sống hòa bình nói chung là tốt nhưng với riêng nước ta là phi lý vì là sự chung sống với kẻ bán nước và kẻ cướp nước! Chỉ có những kẻ phản bội, muốn bán nước cầu vinh mới chấp nhận chuyện trái đạo lý ấy.
***  
Có lẽ cần phải dạy đôi nét lịch sử cho Trần Đĩnh và những kẻ mù lịch sử biết. Năm 1858 nước ta bị Pháp xâm lược, những cuộc kháng chiến của quân dân ta đều bị thất bại, đến cả Vua Hàm Nghi, rồi Vua Duy Tân cũng đã bị Pháp bắt đi đầy. 1887, khi Pháp lập Liên bang Đông dương thì dân ta đã thực sự mất nước.  Chỉ đến Cách mạng tháng 8 - 1945, chúng ta mới giành lại được chính quyền. Bảo Đại bù nhìn đã thoái vị, 2-9-1945, khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, một nhà nước mới, Nước VNDCCH, đã thực sự chào đời. Rồi khi Pháp quay lại, chính nhà nước ấy đã làm nên chiến thắng ĐBP 1954 chấn động Địa cầu, buộc Pháp phải ký Hiệp định Genève 1954, trao trả nền độc lập cho VN. Đến đây thì làm sao chúng ta lại có thể chung sống hòa bình với những kẻ phá hoại Hiệp định, chung sống với một chế độ tay sai, tiếp tục bán nước của Ngô Đình Diệm.
Theo "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald, Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139, khi viết về Diệm, tác giả viết: “Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thành phố ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương. (For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West)”. Trong thời gian chúng ta vẫn kiên trì chờ đợi thực hiện Hiệp định, Ngô Đình Diệm đã đưa ra luật 10/59, lê máy chém khắp nơi để diệt cộng; với những nhà tù khét tiếng như nhà ngục Chín hầm ở Huế, nhà tù Côn Đảo, nhà tù Phú Quốc v.v… Những hành động tàn sát chính đồng bào mình được coi là quốc sách. Mức độ độc tài, tàn ác quá lớn đã làm mất lòng cả thuộc cấp, làm phật ý cả Mỹ, vì thế Diệm mới phải chịu quả báo nhãn tiền, bị đảo chính, bị giết. Ấy vậy mà đến tận giờ vẫn có những kẻ thuộc “bên thắng cuộc” như Lê Công Định tôn thờ Ngô Đình Diệm, và với Trần Đĩnh thì cũng thật là cù lần khi đến tận giờ vẫn cho cần phải “chung sống hòa bình” với một chế độ như thế. Hãy xem lá thư quỵ lụy, kể công bán nước với Pháp của Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô Đình Diệm, người đã dựa vào thế lực công giáo, giúp em mình đoạt quyền từ Bảo Đại:
"Với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi (Ngô Đình Khả) cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh.
      Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp...."
Như vậy, theo lẽ thường, chỉ có Cách mạng Tháng Tám 1945, Chiến thắng ĐBP 1954 và Chiến dịch HCM giành toàn thắng vào ngày 30-4-1975 là những trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Thật kỳ quái, đã 40 năm sau ngày thống nhất, vậy mà Trần Đĩnh, một nhà báo từng là Đảng viên, vẫn cho rằng cuộc kháng chiến thần thánh của quân dân ta là cuộc chiến ý thức hệ, chúng ta chiến đấu bởi sự giật dây của Trung Quốc, chiến đấu cho Trung Quốc chứ không phải cho chính ta:
“Nhưng đến nay, bây giờ khi viết những dòng này,  tôi  lại hình dung thấy tất cả phe cộng sản  lúc ấy  là một chậu nước lớn nhưng đã ngầu đục bị Mao  lắc cho nổi sóng cuộn gió và bên  trong  chậu  đó  các  anh  hùng  hảo  hán,  các  kẻ  vệ  đạo nghiêng ngửa hò hét hủy diệt nhau. Trong sóng gió tối tăm ấy của cộng sản (thiên hạ đại loạn Trung Quốc được nhờ)”.
Trần Đĩnh cần phải hiểu, nước ta đã bị Pháp rồi Mỹ xâm lược chứ không phải Trung Quốc bị xâm lược. Nên ta tiến hành cuộc kháng chiến giành độc lập trước hết là cho chính ta chứ không phải cho Trung Quốc. Nếu cuộc kháng chiến của ta có lợi cho Trung Quốc như phên giậu bảo vệ họ thì chỉ là một lẽ tự nhiên, một công đôi việc, vậy Trung Quốc vì lợi ích của họ mà giúp ta cũng là điều hợp lý. Việc cho chúng ta “đổ máu cho Trung Quốc” là một cái nhìn thiển cận của một kẻ tâm thần!
Trần Đĩnh cần phải công nhận thực tế, nước ta từ một đất nước có 2 triệu người chết đói, được như hôm nay, dù còn nhiều tệ nạn, yếu kém, kể cả sai lạc, dân ta vẫn đang được sống những ngày hạnh phúc nhất so với toàn bộ lịch sử của dân tộc. Kể cả những kẻ đang to mồm chống chế độ, thực tế chỉ vì đố kỵ nhỏ nhen, vì tham vọng không cùng, vì cơ hội, muốn bắt cá nhiều tay, chứ bọn chúng thực tế đã được hưởng rất nhiều danh lợi từ chế độ. Mà hạnh phúc của chúng ta hôm nay chính là hạnh phúc thật, tự tay ta làm ra, chứ không như sự “phồn vinh giả tạo” của Sài Gòn trước 1975. Nói giả tạo là nói thật chứ không phải tuyên truyền bởi sự phồn vinh đó đã ăn theo chi phí của Mỹ cho chiến tranh mà nhà kinh tế Steven ước tính lên tới 925 tỷ USD; gấp 3,8 lần chi phí của Mỹ trong thế chiến thứ nhất và chỉ đứng sau chi phí của Mỹ cho thế chiến thứ hai. Và theo ông Nguyễn Tiến Hưng, cứ mỗi năm vào 16-5 mùa giáp hạt, thì kho gạo VNCH hết, từ tổng thống đến chánh phủ phải chạy đôn chạy đáo để cầu viện. Chính Nguyễn Văn Thiệu cũng đã huỵch toẹt ra rằng: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!”
***
Từ ảo tưởng về tư tưởng chủ hòa, há miệng chờ sung, Trần Đĩnh đã mù lòa trước tội ác của kẻ xâm lược, của kẻ theo giặc làm tay sai, nên đã phân chia các nhà lãnh đạo nước ta làm hai phe: “chủ chiến” và “chủ hòa”. Phe chủ chiến gồm có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, v.v… Phe chủ hòa gồm có Bác Hồ, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, v.v…
Vốn coi Khrusov là thần tượng với tư tưởng “chung sống hòa bình”, Trần Đĩnh theo phe “chủ hòa”. Nhưng là người cố chấp, ngu lâu nên khi thấy phe “chủ hòa” thống nhất ý kiến với phe “chủ chiến” mà ông ta cho là họ đã “đầu hàng”, Trần Đĩnh đã “thất tình” với họ. Ông ta viết: “Tôi yêu Trường Chinh và không ưa Lê Duẩn. Quan điểm tả khuynh bạo lực của Lê Duẩn không thuyết phục tôi”. Nhưng rồi: “Trường  Chinh  đã  đổi dòng. Ông mà lại theo Mao muốn  Xô, Mỹ chỏang  nhau  cho ruồi muỗi chết! Có thể nói đây là một thất tình của tôi với Trường Chinh, cũng là mối thất tình đầu tiên trong đời”. “Chủ trương vũ trang để thống nhất đất nước của Duẩn, Chí Thanh đã thắng. Trường  Chinh  đầu  hàng  Duẩn  là  cánh  chủ  hòa  qụy”; “Cụ Hồ không bỏ phiếu … Người mà tôi hy vọng cuối cùng thế là cũng thua nốt: thua đám con em của Cụ trong cơn nguy cấp ầm ầm sấm sét này. Thì ra thường là Cụ thua”.
Từ đó Trần Đĩnh cảm thấy:
“Tôi chợt mệt tưởng như có thể khuỵu xuống. Vốn đã biết Nghị quyết 9 là nhằm chuẩn bị đánh Mỹ… Mới nhận  thấy  vì  quá  sợ,  quá  ghét  cái  triển  vọng  bom  đạn  ùng oàng nên  lâu nay  tôi cố  tin hết  từ Trường Chinh, Cụ Hồ đến lương tri của Trung ương để rồi nay thì chiến tranh nó đang lù lù ở trước mặt. Một cuộc chiến tranh mà người ta đã đem  trang  hoàng như  cỗ  xe  hoa  lộng  lẫy  trong  hội  lễ  hóa  trang carnival… với bầu khí quyển khủng bố mà bọn chúng tôi đang được nếm trước.  Ở  tôi lúc này trùm lên trên tất cả là tâm trạng thua. Đúng hơn, một  không  gian  thua, một  trận  địa  thua, một  đời  vét sạch cho thua, thua nhẵn, thua nhục, thua rã rượi mênh mang toàn diện và nó đang dìm tôi ngập lút vào trong nỗi tự ái cay đắng. Tôi thấy tôi bơ vơ, côi cút trong đêm đen ngòm ở giữa một sa mạc hoang vắng  là  thế giới hung hãn khát máu này”; “Sao hòa bình dân chủ không lay động lương tri người ta?”.
Trần Đĩnh cho những người quyết tâm dùng bạo lực đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước là “Mao ít”, là “chống Liên Xô”, là những người “muốn  biến  đất nước  thành  ra  bãi  chọi  trâu”; “Khốn nạn, đại loạn là cách mạng, yên bình là phản cách mạng, nói ngang như thế mà nghe lại sướng mê sướng mẩn lên với nhau kìa! Khốn nạn!”; “Chiến tranh hớn hở đến gần và cái phao tôi bám vào đã nổ đánh bụp”.
Vào những năm 60, Trần Đĩnh mới ở tuổi 30, các vị lãnh đạo tối cao như Lê Duẩn, Trường Trinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ đã ở tuổi trên dưới 50. Về tuổi, Trần Đĩnh so với họ chỉ là thằng chọi con, về công việc thì chỉ là thằng nhà báo, ai cần thì sai vặt chuyện ghi chép. Chính Trần Đĩnh tự bơm mình lên để có đủ tầm cao nhận định về họ, nhưng tầm nhìn của một mô đất thì làm sao có thể thấy những đỉnh núi nghĩ gì nên ông ta mới “thất tình” như vậy. Trường Chinh mà Trần Đĩnh kể đã chỉ dậy Trần Đĩnh những chữ nghĩa đầu tiên trong nghề báo chí, tức rất hiểu Trần Đĩnh và có chút ân tình quen biết, vậy mà theo chính Trần Đĩnh kể: “gặp tôi ở sân báo, Quang Đạm bóp bóp tay tôi nói:  - Mình vừa  lên anh Năm (tức Trường Chinh) về, anh Năm bảo sao Trần Đĩnh lại sa đọa chính trị thế?”. Như vậy, một người thầy cỡ như Trường Chinh chỉ cho mà Trần Đĩnh vẫn không nhận ra được cái sai của mình thì là thằng học trò quá dốt, lại yếm thế, nhỏ nhen, nên cả đời mới sa lầy trong cái ao tù mặc cảm, giận hờn, tự thân làm tội đời mình!
***
Có một ý Trần Đĩnh rất “cù lần” viết trong Đèn cù là : “Trong  khi  hết  lời  ca  ngợi  phản  chiến  ở  Mỹ  thì  tại  sao trừng  trị  chúng  tôi  ác nghiệt  đến  thế  và  đặc  biệt  trước  sau không bao giờ nêu tội danh phản chiến của chúng tôi ra?”. Mang danh là một nhà báo, mà lại ở báo Nhân Dân nhưng Trần Đĩnh không phân biệt nổi chiến tranh chính nghĩa với chiến tranh phi nghĩa, cuộc kháng chiến tự vệ với sự xâm lược. Trần Đĩnh cần phải hiểu cho đúng những người như ông không phải “phản chiến” mà là “phản động”, tức là phản lại xu hướng vận động chung của đất nước. Trần Đĩnh viết: “Viết Bất Khuất, tôi không một lời chửi Mỹ, trong khi đặc trưng của văn học cách mạng là phải tìm mọi dịp lên án nó, thằng đế quốc kẻ thù của loài người và nhân dân Việt Nam”. Hồi chiến tranh, Mỹ mang bom đạn đến giết dân ta mà Trần Đĩnh “không chửi Mỹ” chứng tỏ hồi đó Trần Đĩnh là một kẻ bất lương, còn đến hôm nay mà vẫn viết thế chứng tỏ là một kẻ cơ hội, muốn trông ngóng Mỹ “giải ngân” chăng? Trong chiến tranh Mỹ là “giặc” thì một người lương thiện phải biết chửi giặc, còn bây giờ Mỹ là “bạn” mà vẫn chửi Mỹ như xưa thì sẽ là một con “bò đỏ”! Người hiểu đạo lý thì phải biết ứng xử “biện chứng” như thế.  Cũng mất nhân tính như Dương Thu Hương “khóc như cha chết trong ngày toàn thắng”, Trần Đĩnh viết: “1975. Tháng 4. Đại thắng mùa xuân.  Bỏ báo xuống  là một phản ứng buồn. Chính  tôi thua. Với thân phận kẻ bị đàn áp, rất bản năng tôi đứng ngay vào phía bà con đại bại trong Nam.  Gần trưa 30  - 4, Nguyễn Thành Long rủ  tôi đi bộ về phía ngã  tư  Lý  Thường  Kiệt  -  Phố  Huế.  Đường  ngày  càng  đông người hò reo. Tôi nói: “Chả  lẽ trời đất quỷ thần  lại phù hộ”.  Cho mình là người ghét chiến tranh yêu hòa bình thì hòa bình về phải mừng chứ sao lại buồn, sao lại trách cả trời đất phù hộ cho một dân tộc được hòa bình? Như vậy Trần Đĩnh đã tự biến mình thành kẻ địch nên phải buồn khi phe mình bị thất bại. Với đứa con gái, ông ta viết: “Tôi  vẫy  cháu  đến  bên  giường.  Thấy  cần  cho  cháu  hiểu điều cơ bản. Nói: - Cho con đi mừng đất nuớc hết chiến tranh, dân  thôi chết chóc chứ không phải mừng chiến  thắng vì khi con reo hò thì trong kia có thể ông nội và các cô chú của con lại  đang  khóc...  bởi  bom đạn ngoài này  giết  chết mất người thân”. 
***
Để biện hộ cho sai lầm của mình, Trần Đĩnh dựa vào bao thứ màu mè, từ nhân danh chủ nghĩa nhân đạo yêu hòa bình, ghét chiến tranh, đến nhân danh tư tưởng triết học của Karl Popper bác bỏ chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác  - xít, cho  là  thứ  thuốc mê  gây  ảo tưởng chủ quan, lạc quan tếu, viển vông, nhưng như câu nói với đứa con gái ở trên, con người Trần Đĩnh như vậy đơn giản chỉ là vì mang gen di truyền. Ở đây khoa học lại tỏ ra tuyệt đối chính xác. Bởi Trần Đĩnh là con của một người mà chính ông ta “khoe” như thế này:
Một thời gian dài bố tôi đã  là giáo viên phản diện về chính  trị. Lúc tôi bé, mẹ hay kể bố  ngày  học  ở  Bưởi  rất  nhiệt  huyết  cách  mạng…  Để  tang  Phan  Chu Trinh  rất hăng  hái,  bố  bị  Trường Bưởi  đuổi  rồi  vào  sổ  đen mật thám. Thế là sợ, về đi làm và ăn chơi, và để ăn chơi thì ăn hối lộ. “Bố các con chỗ này xoàng. Con một mà,” - mẹ thường nhận xét. Khi bố  tôi  tản cư về quê vợ của ông (một người bạn của bố Trần Đĩnh), ông là chủ tịch huyện liền chuẩn bị đưa lính đến bắt. Em vợ bác ngầm báo và bố tôi đành để ông bà và chúng tôi ở lại mà về thành”.
Tuy ở hai phía đối đầu nhưng hai cha con Trần Đĩnh luôn đồng chí, đồng lòng nên “Xong chiến tranh cả  tháng tôi rất buồn: không có  tin của bố và các em tôi. Gia đình tôi mất liên hệ với nhau đã lâu.  Thương miền Nam đang sướng rồi khổ đây”. Lại một phản xạ có điều kiện của loài vật, được ăn ngon thì tiết ra cảm giác sung sướng, mà không hiểu rằng với loài người, có miếng ăn là miếng nhục. Mà miếng ăn làm nên cái “sướng” của một bộ phận dân cư tại đô thị ở Miền Nam trong chiến tranh không chỉ là miếng nhục mà còn là miếng ác, có dính máu!
***
Qua việc Trần Đĩnh kể, dù có thật đi chăng nữa, giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có sự khác nhau về quan điểm giữa những vị lãnh đạo tối cao của cách mạng nước ta, nếu là người hiểu biết cũng sẽ thấy đó chỉ là chuyện bình thường. Bởi với một việc con con người ta đã có những ý kiến khác nhau thì cả một sự nghiệp giải phóng dân tộc làm sao ngay lập tức tất cả đều nghĩ giống nhau. Cái chính là sau đó những sự khác biệt được giải tỏa, không ai vì cái tôi mà tất cả đã vì sự nghiệp chung, nên cuối cùng họ đã đi đến thống nhất với nhau. Từ trước tới nay lịch sử mà chúng ta học là lịch sử đã được chưng cất, tinh lọc, với quần chúng thì như thế là đủ; nhưng với các nhà nghiên cứu, các nhà lý luận, lịch sử không chỉ để tự hào mà còn là tấm gương soi, là bài học cho đời sau thì lịch sử cần phải được hiểu biết sâu sắc, toàn diện hơn. Nhưng nếu trí không đủ cao, tâm không đủ sáng, người ta rất dễ bị sa lầy vào những vùng trũng, những góc khuất của lịch sử. Vì thế cần phải có cái nhìn thấu suốt minh triết trên cơ sở của tri thức và đạo lý. Với triết học Mác, quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật: “sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển”. Vì không hiểu cả đời lẫn “đạo” triết học nên Trần Đĩnh mới ngây ngô chia phe, rồi cho phe này thắng phe kia như thế. Và chính vì thế ông ta mới không hiểu nổi chuyện: “Đến  tháng 6  - 1967,  tất  cả những Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, gần hết Bộ chính trị và 11 nguyên soái đã bị Mao  bỏ  tù  thì  ở Việt Nam,  tuy  nằm  ở Bắc Kinh, Cụ Hồ  vẫn nguyên thanh thế chủ tịch nước có thơ gửi đồng bào, bộ đội và đặc biệt Giáp vẫn đầy đặn danh hiệu, chức vụ, quyền lực”.
  Như vậy, có thể ở giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bác Hồ và các vị Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã có những ý kiến thận trọng về cách thức tiến hành chứ hoàn toàn không có chuyện chia phe “chủ chiến”, “chủ hòa”. Việc chủ chiến là xuyên suốt. Nếu Bác Hồ có tư tưởng chủ hòa thì làm sao có chuyện Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại chuyện Bác đang bệnh trong lán Nà Lừa đã nói với ông câu nói đã thành bất hủ: “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Và làm sao có chuyện chính Trần Đĩnh viết sau Điện Biên Phủ, Hồ Chủ tịch ôm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Chúc chú thắng trận trở về, nhưng chúng ta còn  phải đánh Mỹ”. Với Trường Chinh, thái độ chủ chiến của ông cũng thể hiện qua đoạn Trần Đĩnh kể: “Bất chợt tôi hỏi: - Có thể nói Hội nghị trung ương lần thứ 8 ở Pắc Bó là bắt đầu chấm dứt thời giáo điều mạo hiểm tả khuynh kéo dài của Đảng được không anh?  Ngồi bật thẳng dậy, nhô người về đằng trước, Trường Chinh nhíu lông mày nghiêm nghị nhìn tôi, rồi rành rọt từng tiếng: - Không! Anh nghĩ không đúng. Đường lối của đảng ta là  liên  tục phát  triển  có kế  thừa,  không  có  chuyện  thay đổi đường lối cũng như chấm dứt cái này cái kia”.  Còn về Liên Xô chắc cũng đã có những ý kiến khác nhau: hoặc chống Liên Xô một cách cực đoan, hoặc cần phải giữ mối quan hệ với Liên Xô, chỉ nên góp ý với Liên Xô những gì sai mà thôi. Thực tế quan điểm giữ mối quan hệ với Liên Xô đã được thực hiện. Đơn giản là vì nếu không có tên lửa Liên Xô làm sao bắn cháy máy bay Mỹ? Chính Trần Đĩnh kể chuyện ông Ung Văn  Khiêm nói về cách ứng xử của Bác Hồ với Liên Xô và Trung Quốc : “Cụ  biết,  biết  rõ  Liên  Xô,  Trung  Quốc  hầm  hè nhau  từ 1957, 58  rồi  cơ. Năm 1958, Cụ dẫn một đoàn  sang Trung Quốc, Liên Xô. Cụ tới Bắc Kinh, các cháu thiếu nhi khăn quàng  đỏ  ra  đón  chỉ  tặng  hoa  và  quàng  khăn đỏ  cho Cụ  và Hoàng Văn Hoan,  ủy  viên Bộ  chính  trị  phụ  trách  đối  ngoại. Sáng  sau  Cụ  bảo mình  chú  ở  nhà,  Bác  với  chú Hoan  đi  hội đàm  với bác Mao… Nhưng khi ta đến Mát - xcơ - va thì thiếu nhi khăn quàng đỏ lại chỉ tặng hoa và thắt khăn quàng đỏ cho Cụ và mình. Chắc đại sứ quán Nga ở Bắc Kinh đã mách chuyện Hoan được khăn quàng đỏ. Lần này Cụ bảo Hoàng Văn Hoan ở nhà, Bác và chú Khiêm đi hội đàm với đồng chí Khroutchev”.
Lối ứng xử mềm dẻo đó của Bác trong lĩnh vực ngoại giao đã trở thành sách lược, thành bài học quý giá cho cách mạng nước ta. Nước ta là một nước nhỏ yếu, trình độ khoa học công nghệ kém, không phải muốn ứng xử thế nào với thiên hạ cũng được. Vậy mà có rất nhiều kẻ, chuyện đại sự quốc gia mà lại đòi xử sự như giữa những kẻ anh hùng rơm, sĩ diện hão.
***
Vì có cái nhìn thiển cận, Trần Đĩnh cho Lê Duẩn đơn giản là theo Trung Quốc chống Liên Xô để rồi băn khoăn chuyện “sáng đúng chiều sai mai lại đúng”. Thực tế, khi quan điểm xét lại của Liên Xô như gáo nước lạnh dội vào ngọn lửa đấu tranh cách mạng nước ta. Liên Xô không tin ta có thể thắng được Mỹ. Podgorny từng nói với Lê Duẩn: "Các anh không thắng nổi Mỹ đâu". Ông đã trả lời: "Chúng tôi sẽ thắng cho các đồng chí xem". Sau Hội nghị Trung ương 9 chống chủ nghĩa xét lại, Lê Duẩn được cử sang góp ý với Liên Xô. Nhưng khi gặp họ, ông lại cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô đã giúp cho cuộc đấu tranh ở Miền Nam tiến triển rất tốt đẹp và yêu cầu họ giúp đỡ tích cực hơn nữa. Khrusov đang chuẩn bị đối phó với thái độ phê phán của VN nhưng lại được nghe những lời cảm ơn như vậy nên rất mừng và đã vui vẻ chấp nhận ngay yêu cầu của Lê Duẩn. Sau khi được việc rồi Lê Duẩn mới có vài lời “góp ý với bạn”. Như vậy Lê Duẩn không chỉ là một nhà lãnh đạo quyết đoán, cứng rắn, mà khi cần ông cũng tỏ ra là một nhà ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo. Ông là người rất coi trọng việc Trung Quốc giúp ta chống Mỹ, nhưng chính ông cũng là người sớm nhận ra chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc. Theo hồi ký Trần Quỳnh, trong một cuộc gặp gỡ giữa Lê Duẩn với Mao ở Vũ Hán, khi Mao nói: “Tôi sẽ tổ chức một đội quân bần nông năm trăm triệu người. Tôi sẽ giải phóng cho cả Đông Nam Á, cho cả Việt Nam, các đồng chí không cần đánh”. Lê Duẩn nói: "Hắn nói giải phóng Đông Nam Á? Còn Việt Nam là của ta, hắn có quyền gì mà đem quân sang giải phóng Miền Nam ta? Chú thấy không? Tư tưởng bành trướng bá quyền đại Hán nó nói trắng trợn trước mặt ta, coi như chuyện dĩ nhiên. Thật là nguy hiểm hết sức". Năm 1972, trước khi Nixon sang Trung Quốc, Chu Ấn Lai sang Hà Nội. Lê Duẩn nói: "Các anh mời Nixon sang thăm Trung Quốc chẳng khác nào các anh đâm một nhát dao vào lưng chúng tôi. Việc giữa Trung Quốc và Mỹ các anh bàn gì chúng tôi không có ý kiến. Nhưng vấn đề Việt Nam là của chúng tôi, các anh không có quyền bàn. Giải quyết vấn đề Việt Nam như thế nào là do chúng tôi tự quyết định lấy. Còn vấn đề có viện trợ hay không cái đó tùy các anh. Các anh viện trợ, chúng tôi sẽ thắng Mỹ. Các anh không viện trợ chúng tôi phải hy sinh nhiều hơn nhưng cũng sẽ thắng Mỹ".
Như vậy hoàn toàn không phải như Trần Đĩnh viết, trước cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có việc chia phe chủ chiến và chủ hòa, chúng ta “Đánh Mỹ là bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa”, chúng ta chiến đấu cho Trung Quốc, v.v… Mà thực tế, quyết tâm dùng bạo lực thống nhất đất nước là đồng lòng, là xuyên suốt. Chúng ta đã thực hiện một chiến lược ngoại giao mềm dẻo, một mặt vẫn giữ được mối quan hệ để xin viện trợ, một mặt ta phải vượt qua được tất cả sự toan tính sai lầm, vụ lợi, ích kỷ của các nước lớn, để rồi chúng ta đã thực hiện được mục tiêu tối thượng của chúng ta là giành toàn thắng, để đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất như hôm nay!
          ***
Về vụ án chống Đảng mà Trần Đĩnh thực sự chỉ là một con tép riu, sau gần nửa thế kỷ (từ 1967), nếu hôm nay Trần Đĩnh không “kêu đau” chắc không ai biết Trần Đĩnh là ai. 19 tuổi đã được làm báo Sự thật (tiền thân của báo Nhân Dân), được chính đương kim TBT Trường Chinh dìu dắt, nếu trí cao, tâm sáng chắc chắn Trần Đĩnh sẽ thành đạt to. Nhưng tiếc là Trần Đĩnh lại thuộc diện tôi cao, trí thấp, tâm tối nên đã tự bôi đen cái số đỏ của mình. Trần Đĩnh cũng không có gan làm giặc chỉ “sa đọa chính trị” như đánh giá của Trường Chinh thôi. Trần Đĩnh một mặt vẫn hăng hái làm “bồi bút” và đợi “tăng lương”, một mặt vẫn ăn theo, nói leo sự sai trái, nên đã bị thất sủng, chỉ bị cải tạo lao động nhì nhằng chứ không bị đi tù. Như vậy, so với những người cùng trang lứa phải xông pha nơi hòn tên mũi đạn, quả là một may mắn cho một người hèn nhát như Trần Đĩnh trốn nghĩa vụ quân sự. Trần Đĩnh kể lại tâm trạng mình sau khi bị khai trừ Đảng: “tôi dửng dưng, tênh tênh khi bị khai trừ. Đúng! Nhưng không phải không có lúc suy sụp. Vì tự  ái, xấu  hổ… Rồi còn cả một chút tình ý bị mất quyền lợi… Và rơi vào diện chờ mọt xác mới được  tăng  lương”.
Về bản lĩnh chống đối, Trần Đĩnh không đáng xách dép cho Hoàng Minh Chính. Theo Trần Đĩnh: “tại hội  nghị  phổ  biến Nghị  quyết  9  ở  trường Nguyễn  Ái Quốc, Trường  Chinh  giới  thiệu  nghị  quyết, Hoàng Minh  Chính  đã đứng  lên  bác  lại.  Vặn  ngay Trường  Chinh… Chính nói đánh Mỹ sẽ là cưỡi lưng cọp dữ chứ không phải cưỡi cọp giấy đâu”. Chính vì vậy Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng và là người bị bắt đầu tiên. Ở cương vị Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc, Hoàng Minh Chính từng được giao nhiệm vụ soạn thảo bản Báo cáo chính trị của Hội nghị TW9. Nhưng Hoàng Minh Chính đã chọn lập trường “chung sống hòa bình” của Khrusov nên đã bị bác bỏ, nhưng Hoàng Minh Chính lại “không chịu thua”, đã viết tiếp và phân phát bài "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam". Vì thế mới bị bắt.
Vụ án trên thực chất là một cuộc đấu tranh tư tưởng, thể hiện quyết tâm giải phóng, thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập của các nhà lãnh đạo nước ta chứ hoàn toàn không phải là một cuộc đấu đá cá nhân như các nạn nhân tự biện hộ và các “nhà sử học phương Tây” suy diễn. Nhóm người bị bắt chỉ chiếm phần rất nhỏ. Bản thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp người bị xem là "mục tiêu hạ bệ" thực tế vẫn giữ chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương và tham gia vào mọi quyết định lớn. Trong hồi ký ông cũng phủ nhận việc có bất đồng với Lê Duẩn, bản thân ông cũng ủng hộ quan điểm đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam. Chính ông viết trong hồi ký: "Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc... Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói với tôi: “Anh  là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”. Ngoài ra, những nhà lãnh đạo Việt Nam chỉ chấp nhận những quan điểm của nước ngoài ủng hộ cuộc kháng chiến của ta và chống lại tất những quan điểm không ủng hộ chứ hoàn toàn không phải đơn giản là chuyện theo hoặc chống Liên Xô hay Trung Quốc.
Vậy mà đến tận hôm nay Trần Đĩnh và nhiều người liên quan vẫn không hiểu bản chất vấn đề, vẫn cho mình bị oan. Có thể hình dung nước ta ngày đó như một con tầu vượt sóng gió giữa trùng khơi, các nhà lãnh đạo như thuyền trưởng cầm lái. Những người trong vụ án đã đánh thẳng vào tay lái đó nên đã bị bắt, bị kỷ luật chứ không phải vì họ theo Liên Xô hay chống TQ. Trần Đĩnh không hiểu điều này nên mới đặt tên cuốn sách là Đèn cù. Trong thời chiến, nếu không kiên quyết, nghiêm khắc xử lý, con tầu không thể nào vượt qua được sóng gió để đến được bờ bến bình yên mà chắc chắn sẽ bị lật nhào, chìm nghỉm tận dưới lòng biển sâu! Cuộc kháng chiến của chúng ta cũng như tất cả các cuộc chiến mà nhân loại đã trải, cũng như Liên Xô và lực lượng Đồng minh đã chiến thắng Phát xít, hòa bình đã không tự đến, hòa bình chỉ đến với nhân loại, đến với dân ta bằng việc đánh đổi rất rất rất nhiều máu!
          ***
  Chiến tranh đã lùi xa 40 năm, cũng như mọi thành công trong cuộc đời, bản thân sự chiến thắng chính là chứng cớ sống động nhất chứng tỏ tài trí, đạo lý thuộc về những người làm nên chiến thắng đó. Nếu sự thật lịch sử không tiến theo đường thẳng, bước đi của lịch sử không được trải thảm, thực tế phải trả giá cao hơn, ta sẽ càng thấy quý giá hơn chiến thắng đó. Vậy mà đến nay vẫn có những cuốn sách như Đèn cù ra đời. Có điều ngược đời là, với tham vọng bôi đen lịch sử bằng việc kể ra “sự thật” những chuyện thâm cung bí sử nhưng Trần Đĩnh lại tự khoe là “tôi bịa”, “Tôi dựng ”, “tôi viết theo sự pha phách thêm nếm”. Như vậy, lịch sử VN vốn là vàng ngọc, nó không tùy theo “góc nhìn” của Trần Đĩnh, Trần Đĩnh không thể bôi đen được mà chỉ tự bôi bẩn thêm gương mặt của chính mình. Đèn cù chỉ được mỗi việc cho những người chống chế độ lợi dụng. Để lấy lòng họ, Trần Đĩnh còn tự nhận mình chỉ là một kẻ “bồi bút”, như một sự sám hối, ăn năn. Vì thế đọc loại như Đèn cù chúng ta sẽ chỉ thấy sự nhỏ nhen tầm thường của những người viết, sẽ thấy họ giống như những kẻ ẩn núp ở bờ bụi ném bùn vào áo cô dâu hoặc chỉ là những kẻ chọc gậy bánh xe mà thôi!
17-11-2014
ĐÔNG LA

Chủ Nhật, ngày 16 tháng 11 năm 2014

CÔ ĐƠN

        Viết xong cái bài về sự cù lần của ông Đèn cù rồi. Nhưng nay chủ nhật để mọi người nghỉ ngơi, mai mới đăng lên. Viết xong tự dưng thấy cô đơn giữa loài người này quá! Tại sao cùng là giống người mà người ta nghĩ quá khác nhau? Nhớ lại lời tâm sự của Chế Lan Viên nói ông lên Bà Quẹo xa xôi chỉ vì ông chán gặp con người.
            Vậy hôm nay muốn đăng hai bài thơ ngắn nói về sự cô đơn:

(I)

                        Ngày đầu năm lòng chợt thấy rỗng không
                        Em bỏ đi đâu trong ba ngày Tết
                        Anh như con thuyền lênh đênh sóng nước
                        Nghiêng bên nào cũng chạm phải cô đơn!

(II)

                        Có người không biết cất buổi chiều vào đâu
                        Còn ta không biết cất ta vào đâu trong buổi chiều này
                        Ta đi tìm ánh ngày
                        Mi hoàng hôn chợt khép
                        Ta đi tìm công việc
                        Những con chữ lười ngủ gật trên trang
                        Ta biết có một nơi
                        Nhưng dường như không bao giờ đến được
                        Ta muốn được cất ta vào em!


Thứ Sáu, ngày 14 tháng 11 năm 2014

CHU XUÂN GIAO CHO NHÀ VĂN NGUYỄN VĂN THỊNH "CHƯA SẠCH NƯỚC CẢN"

   Thấy trang của thằng Giao nó giới thiệu bài của ông Nguyễn Văn Thịnh vô xem thì thấy nó giới thiệu thế này:
“Tuần báo Văn Nghệ vừa có bài phê phán "Đèn cù"
Đó là tuần báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, số 327 (ra ngày thứ Năm, 13/11/2014). Có bài Cái đèn cù Trần Đĩnh của tác giả Nguyễn Văn Thịnh.
Bản thảo của bài này cũng được tác giả gửi đăng trên blog Đông La. 
Tôi mới liếc xem, nhưng bài ở dạng chưa sạch nước cản, không ít lỗi. Cái đó nói sau. Bây giờ, cứ tạm đưa cả bài nguyên về đây lưu đã”.
Ông Nhà văn Nguyễn Văn Thịnh đã có bề dầy sáng tác, chắc tại là bác sĩ ít đàn đúm như bọn viết văn làm báo chí dễ cánh hẩu lăng xê nhau, nên ít người biết. Cùng sinh hoạt ở HNV TPHCM mà tôi cũng không biết ông. Khi ông làm quen gởi bài tôi đăng lên nhiều độc giả ngỡ ngàng hỏi tôi ông ấy là ai mà viết hay thế? Còn Chu Xuân Giao thực sự tôi chưa đọc được ở Giao một ý nào ngoài tư liệu cóp nhặt. Có thể tôi không khách quan nhưng đến Xuân Diện “háng lợn” là người được Giao khi tặng sách tôn là “trưởng huynh Xuân Diện” cũng đã nhận xét về Giao thế này: "Tư liệu mới cũng không có, mà chỉ là làm rối những tư liệu cũ, giống như lấy 10 cuộn chỉ màu, rũ hết ra, rồi ngồi gỡ và cuốn lại để cho mọi người biết cái mớ bòng bong lúc nãy chính là 10 cuộn chỉ này đây!".
   Vì vậy Giao nhận xét bài của ông Thịnh còn “lỗi” thì có thể đúng nhưng “chưa sạch nước cản” là hỗn láo!
   Xem kỹ thì ra số báo trên cũng đăng bài của tôi viết về chuyện Lê Công Định ca ngợi “Ngô tổng thống”
   14-11-2014
ĐÔNG LA




Thứ Năm, ngày 13 tháng 11 năm 2014

Nguyễn Văn Thịnh: CÁI ĐÈN CÙ TRẦN ĐĨNH

Nguyễn Văn Thịnh: CÁI ĐÈN CÙ TRẦN ĐĨNH

    Tôi vừa nhận được bài viết của Nhà văn Nguyễn Văn Thịnh. Thật tiếc, dù ông là một bác sĩ nhưng cũng không tránh khỏi quy luật của thời gian, ông đã viết một dòng tin kèm theo như thế này: “Thân gửi ĐL: Mình mới ra viện hơn tuần nay. Đặt 2 steine đ/m vành tim, Giờ tạm ổn. Gởi ĐL bài mới viết”. Rất mong “lão dư luận viên” sớm bình phục và ổn định để tiếp tục vững tay bút trên trận chiến chữ nghĩa.
      13-11-2014
      ĐÔNG LA
                                                                  
Gần đây cuốn tự truyện Đèn cù của tác giả Trần Đĩnh, đang sống tại TPHCM nhưng sách được in từ hải ngoại, được quảng bá rầm rộ như một hiện tượng lạ của văn chương. Thực ra sách vở bây giờ ê hề và quan điểm của người đọc cũng rất đa dạng, lại trong hoàn cảnh xã hội đã cởi mở nhiều nên sự đánh gía hay dở, đúng sai cũng khó, thậm chí loạn xà ngầu! Ai thích gì đọc nấy. Tuy nhiên người cầm bút đều thấm thía lời dạy của cổ nhân: “Văn là người”. Dù chỉ là dăm câu thơ mấy chục từ hay là cuốn sách dăm bảy trăm trang hàng vạn từ, người đọc cũng có thể nhận diện được người viết cùng tài năng nhân cách của họ. Đó là cái “thần” của chữ nghĩa văn chương. 
 Trần Đĩnh là ai?

Thứ Ba, ngày 11 tháng 11 năm 2014

THÂM CUNG BÍ SỬ HAY CÁI NHÌN "ĐÈN MỜ" CỦA TRẦN ĐĨNH

Tôi đã viết: “Trần Đĩnh từ một hạt giống đỏ, vì sai lầm, cố chấp, đã tự giam cầm mình trong tù ngục của chính cái tôi của mình. Đến bây giờ vẫn cho mình đúng khi theo đuôi Khơrútsốp, cho giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước là sai, thì có lẽ ông nên đổi tên cuốn “Đèn cù” thành “Cù lần”, không phải viết về những chuyện ông cho là xấu xa mà tự kiểm về chính cái đầu của mình thì đúng hơn”.
 Vừa rồi tôi đã đọc kỹ lại cuốn “Đèn cù”, muốn viết một bài phân tích rõ hơn cái sự “cù lần” trên. Thấy Trần Đĩnh lặp lại khá nhiều chuyện “thâm cung bí sử” mà từ Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Dương Thu Hương rồi gần dây nhất là Huy Đức đã viết. Về chuyện này tôi đã viết một bài khi đọc “Bên thắng cuộc”. Giờ trong khi viết cái bài về sự “cù lần”, khi “Đèn cù” nhắc lại chuyện “thâm cung bí sử” tôi thấy đăng lại bài tôi đã viết cũng hoàn toàn phù hợp. Đọc lại comment của các bạn thật thú vị, còn giờ thì không hiểu sao không “còm” được nữa. 
11-11-2014
ĐÔNG LA

THÂM CUNG BÍ SỬ HAY CÁI NHÌN 
TĂM TỐI CỦA HUY ĐỨC

Hôm nay tôi sẽ kết lại loạt bài viết về cuốn Bên thắng cuộc bằng việc bàn về những chuyện thâm cung bí sử mà Huy Đức đã viết. Nhưng trước hết, phải công bằng với Huy Đức, chúng ta xem thử dư luận gần đây.
Về phía ca ngợi Huy Đức, số lượng bài viết xem chừng áp đảo phía công kích. Nhưng trong lĩnh vực tri thức phức tạp, số lượng không có ý nghĩa gì. Như khi Einstein đưa ra Thuyết Tương đối, biết có danh sách 100 nhà bác học phản đối, ông đã cười mà rằng: “Nếu tôi sai thì 1 cũng đủ cần gì tới 100!”. Huống hồ số người ủng hộ Huy Đức hầu hết thuộc phe “thua cuộc”, làm sao mà họ chả ủng hộ một người biện hộ cho họ? Ta thử xem ý kiến một vài nhân vật có trình độ.
     Alan Phan, một doanh nhân, viết sau khi đọc Bên thắng cuộc: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nghịch lý hiện diện sau 1975. Cuộc sống của 95% người thua cuộc sau vài năm (phải lang bạt kỳ hồ khắp năm châu) lại sung túc về vật chất gấp 10 lần 95% những người thắng cuộc… Trong khi phe thắng cuộc vẫn loay hoay tìm lối ra trong cái đầm lầy họ tự đào” (gocnhinalan.com). Đọc xong tôi bật cười thấy vị doanh nhân này cũng ngu ngơ y như Ngô Bảo Châu viết về Hà Vũ vậy. Nếu “bên thua” các ông chạy sang một nước khác có thực trạng y như VN, hoặc sang vùng Trung Đông hoặc Châu Phi chẳng hạn, mà các ông cũng giàu được như vậy, thì hãy tự hào. Còn các ông thực chất chỉ là những kẻ ăn theo tại những nước, khi mà dân ta còn là nô lệ và 2 triệu người chết đói, thì người ta đã chế tạo được bom nguyên tử rồi. Các vị giàu có cũng tốt thôi nhưng chỉ là tha phương cầu thực, vẫn có cái phần nhục trong đó, không nên tự hào, kể cả chính bản thân tôi đây khi cũng có khá nhiều người thân bên Mỹ. 

Thứ Bảy, ngày 08 tháng 11 năm 2014

NHỮNG KHÚC QUANH CUỘC ĐỜI (Truyện ngắn)

ĐÔNG LA
NHỮNG KHÚC QUANH CUỘC ĐỜI
(Truyện ngắn)

Cách đây hơn hai chục năm, số phận tôi cũng giống như cô Vũ Thị Hòa hôm nay, nhưng không bị ác nghiệt như cô, bị con Thu Uyên và bọn quan chức lợi dụng quyền lực đẩy cô vào tù, thậm chí còn muốn tiêu diệt cô luôn vì những tham vọng đen tối, tôi chỉ bị bọn xấu cướp công, cướp việc thôi. Thì ra với đa số, trình độ pháp luật ở nước ta, sau hai mươi năm, vẫn dẫm chân tại chỗ. Người ta vẫn nghĩ mình có quyền thì kết tội ai cũng được. Hồi ấy tôi đã chịu thất bại. Còn cô Hòa hôm nay, không phải kể công, nhưng nếu không có tôi cô sẽ ra sao?
Hồi ấy, sau khi bị cướp công, tôi đã bị đẩy vào những tình huống mà trí tuệ bị thử thách cao độ. Như học tiếng Nga có một tuần mà phải thi đậu, nếu không sẽ bị thất nghiệp; hoặc bị giao cho cái việc mà hơn 20 năm cả ngành Nông dược VN, vì nó đã có những người bị chết hoặc bị thương, mà vẫn chưa ai làm được. Rồi tôi đã vượt qua được tất cả. Giờ nghĩ lại vẫn hãi và cảm thấy dường như đã có sự phù hộ của các đấng linh thiêng. Vì vậy, tôi thấy hôm nay, từ chỗ hoàn toàn không quen cô Vũ Thị Hòa, tôi đã viết bảo vệ cô cũng như có một sự xếp đặt vậy.
Tôi đã viết cái truyện ngắn này kể lại đôi nét chính cuộc đời mình. Tôi đã đăng vài lần trước khi gặp cô Hòa nên những người quen thân cô chắc chưa đọc nên muốn đăng lại. Trong số những comment ở dưới có TT chính là Nguyễn Tường Hưng. Không ngờ với Hưng lại có chuyện như đã xảy ra. Buồn thật!
8-11-2014
ĐÔNG LA
      
Từ tận đáy của những nỗi tuyệt vọng, sự chông chênh của một cuộc sống bất định, bất an, thiếu thốn, tôi bất ngờ “đổi đời” như có một sự huyền nhiệm. Đúng ra trò khoe mẽ cũng không hay ho gì nhưng trong chuyện này cũng có nhiều chuyện đáng nói.

***
Tôi sinh tại một vùng quê, cũng gần Hà Nội thôi, nhưng cứ thấy xa thăm thẳm. Bởi muốn về quê, phải đi qua những con đường huyện, đường thôn chi chít những ổ gà, ổ trâu mà xe chạy trên đó không khác gì chạy dưới ruộng. Quê tôi cũng có mấy ông làm to. Nghe nói tỉnh đã định sửa đường mấy lần để các cụ về thăm quê cho đàng hoàng nhưng cứ chuẩn bị khởi công thì các cụ lại chết! Sau mấy năm đi bộ đội, hòa bình về tôi được đi học, rồi sinh sống luôn tại Sài Gòn; một mình ở Sài Gòn, không một người thân. Giờ nghĩ lại thấy có chút gì đó phiêu lưu. Tất nhiên không phải như những trò mạo hiểm mà chính là sự phiêu lưu trên con đườnng đi tìm thành công ở cõi đời này. Đã có những lần người này người nọ nói, kể ra tôi là con một ông to; kể ra tôi khôn ngoan… Tôi sẽ được… Nhưng tôi không có những cái đó. Cha tôi là nông dân, ông là y sĩ nhưng cũng là y sĩ nông dân. Đời ông không để lại cho con cái của cải gì, ông chỉ để lại cho tôi cái tính “Mình làm đúng thì không sợ thằng nào hết”. Có thể ông đúng ở một xã hội thôn quê đơn giản. Nhưng cuộc sống ở đô thị với dằng dịt mối quan hệ không như thế. Nó cần có một nghệ thuật sống. Tôi rất biết nhưng lại không có. Bởi người ta sinh ra trên đời luôn mang trong mình dòng máu của cha ông, cái cốt cách của một vùng đất mà tuổi thơ ta đã lớn lên.
Sau khi tốt nghiệp, tôi cũng được chọn trong số những người đỗ đầu các chuyên ngành về làm việc tại một viện nghiên cứu về Dược của Bộ Y tế.
Vừa ra trường, được một nơi sang trọng đến rước ngay, được làm công việc yêu thích, là một điều chỉ có trong giấc mơ của sinh viên. Tôi thực sự hạnh phúc. Ở nơi này, vốn là những hãng bào chế của chế độ cũ, từ hội trường lớn, các phòng thí nghiệm lấp loáng những dụng cụ thủy tinh, thư viện, đến các phòng ăn, phòng tắm… tất cả, tất cả đều sang trọng, sáng choang. Tôi thầm nghĩ, mình khỏe mạnh, đầu óc không đến nỗi tồi, cha là chiến sĩ giải phóng Điện Biên, mình thì giải phóng Sài Gòn, còn điều gì phải lo nữa, cứ làm việc cho tốt là tiến lên thôi…
Bây giờ nghĩ lại mà buồn cười. Tôi nhớ đến bạn bè trong lớp thuở nào. Sau hơn chục năm ra trường, đứa làm quan, đứa không, đứa làm chuyên môn, đứa không, đứa giàu, đứa nghèo, đứa hạnh phúc, đứa bất hạnh … Nhưng có điều lạ, không phải cứ tài năng, cứ thông minh, học giỏi, đức độ hơn thì thành đạt hơn; nhưng cũng không phải cứ ngu dốt, cứ đểu cáng, gian manh, lừa lọc thì được… Như có một sự mầu nhiệm, huyền linh trong cõi sống này. Cả cõi sống như một bàn cờ vĩ đại.
Còn tôi, có thành đạt không? Tôi không biết. Tôi đã có được những cái mà ngày xưa trong mơ cũng không có, nhưng còn quá nhiều chuyện lẽ ra phải khác. Người ta bảo ông Trời cũng so đo tính toán lắm, lại còn bảo có luật bù trừ nữa!
Sau một thời gian về viện, một hôm, vào thời kỳ mà ở viện đã bắt đầu có những chuyện lộn xộn, anh bạn cùng lớp tên T. đến chơi. Một cuộc gặp gỡ khó quên. Chính từ nó, một nửa con người tôi vẫn đang lịm ngủ bỗng trỗi dậy, đã trộn thêm không biết bao nhiêu phức tạp vào cuộc đời vốn đã rất phức tạp của tôi. Nhưng đến giờ tôi cũng không biết như vậy là tốt hay xấu nữa. T. rủ:
- Tao có bà đồng hương là nhà thơ nổi tiếng(1), bà cũng có một đứa con gái. Nhà gần đây. Tao với mày sang chơi đi.
Tuổi đôi mươi, nghe thấy có con gái là mắt sáng như sao rồi. Tôi đi ngay. Nhà bà chỉ cách khu tập thể tôi ở có mấy trăm mét, trong một hẻm nhỏ yên tĩnh, một trệt, một lầu. Tôi thấy ban-công được phủ kín một giàn thiên lý; bờ giậu ngoài cửa sổ phòng khách có treo mấy chậu kiểng nhỏ gì đó, luôn túa xuống những cọng dài, từng khúc, từng khúc lại mọc ra một chùm lá thanh mảnh mềm mại. Bà trạc tuổi mẹ tôi, khoảng 60, tiếp chúng tôi rất niềm nở, có quan tâm đến tâm lý người đối thoại. Bà nói, bà muốn tôi thường xuyên đi lại nhà bà vì nhà neo người. Bà còn hứa sẽ làm mối cho tôi một cô giáo trẻ đẹp lắm. Tôi ngồi ngắm nhìn một giá sách nhỏ để riêng những tác phẩm của bà, không ngờ từ lâu đã tồn tại một Hội Nhà văn và đã có biết bao tác phẩm chào đời. Vốn chỉ thích học Tự nhiên, tôi thực sự chỉ biết nước Việt Nam mình có vài nhà văn, nhà thơ, mà do phải học môn văn trong trường, tôi mới biết đến mà thôi. Không biết mọi người có vô tâm với văn chương như tôi không nhỉ? Nhưng tôi biết một cách chắc chắn rằng, bạn bè cùng học, giới kỹ thuật rất ít đọc sách văn chương; nếu có, họ chỉ đọc loại văn chương của những tên tuổi mà tầm tư tưởng đủ sức chinh phục họ.
Chiều ấy, tôi đã tìm mua một tờ Văn nghệ xem văn chương như thế nào. Tôi đã đọc hoàn toàn hồn nhiên, không bị ràng buộc bởi bất cứ một quy tắc nào mà những cây bút ít tài lại khệnh khạng, thời gian đã đắp điếm thêm cho bao hư danh, đã đặt ra cho nghệ thuật; và thấy rất khó đọc. Có một vẻ gì đó lê thê và khô cứng.
Tôi nghĩ đến những bài thơ đầu tay của mình. Thực ra tôi cũng đã có làm thơ. Thật lạ, từ một người không bao giờ quan tâm đến văn chương, thế mà tự dưng lại đi làm thơ. Đó chính là kết quả của mối tình đầu. Tôi đã mang sang đưa cho nhà thơ xem. Đọc xong bà nói:
- Hình như cháu cũng có năng khiếu. Nhưng thơ cháu chưa được. Thơ bây giờ phải thực, phải tình cảm, sâu sắc và đặc biệt là không được giống ai.
Đó có lẽ là bài học thơ ca đầu tiên và duy nhất của tôi. Đến bây giờ thì tôi hiểu thơ ca không phải chỉ có thế. Nhưng hồi ấy nó đã giúp tôi nhiều trong việc làm ra các bài có thể đăng báo được. Lúc đầu nghe bà nói tôi tự ái. Không định làm nhà thơ mà cũng tự ái. Đêm ấy tôi cắn bút. Thơ thực thì dễ, tình cảm cũng dễ, còn sâu sắc thì mông lung lắm biết thế nào. Cứ viết về mẹ là chắc ăn nhất. Để “không giống ai”, tôi nghĩ mình sẽ chỉ viết ra những cái chính mắt mình nhìn thấy, những tâm tư của chính mình, và tôi đặt bút viết về hình ảnh mẹ tôi gánh lúa, một công việc nặng nhọc nhất và cũng là đặc trưng nhất của những bà mẹ nông dân:
Tuột quai dép dẫm hòn sỏi nhỏ
Xót xa nhớ về bóng mẹ đường dài
Nắng đốt mặt đường đất bốc hơi
Chân đất vai gầy oằn gánh nặng…

Đêm thoáng lạnh trùm chiếc chăn nhẹ
Nhớ gió Bấc khô thổi rụng lá xoan vàng
Mẹ ơi nếp da dầy chân mẹ!
Đã bao nhiêu rồi vết nứt nẻ dọc ngang?
Cứ thế, không khó khăn lắm, sau một lúc thì tôi làm xong bài thơ. Nhưng có phải là thơ? Có hay không?... thì quả thật tôi không biết.
Sáng sớm hôm sau, tôi sang đưa bài thơ mới làm cho nhà thơ coi. Tâm trạng hồi hộp như chờ đợi một kết quả thi cử. Không ngờ bà nói:
- Bài này ai làm đây?
- Cháu làm đó cô.
- Cô không tin là cháu đấy. Cháu có tài đấy cháu ạ, mày viết hay lắm. Nhưng còn phải thế này… thế này… Bây giờ cháu làm tiếp mười bài nữa và phải nghĩ ra một cái bút danh.
Tôi nghĩ đến quê mình. Ngay đến cả cái huyện to tướng cũng không bao giờ thấy tên trên báo, huống hồ cái làng bé tí ti kia. Tôi nói:
- Quê cháu là một nơi khỉ ho cò gáy. Cháu muốn tên làng cháu được in trên báo. Nó là ĐÔNG LA.
Bà nói:
- Tên nghe ngồ ngộ. Thôi cũng được, không lẫn với người khác.
Tôi ra về, bụng mừng lắm, lâng lâng như một kẻ vừa được đặt chân lên ngưỡng cửa của một khu vườn hứa hẹn nhiều hoa thơm, trái lạ. Tôi nhớ đến hồi ở ký-túc-xá, dù không chú ý các khoa xã hội, nhưng tôi cũng đã để ý đến những người ở khoa văn có tác phẩm được đăng, đã thấy ở họ có một cái gì đó hay hay, huyền bí. Tôi đâu biết chính cái hay hay huyền bí ấy, khi người ta “dính” vào có thể bị nghiện như chơi, như nghiện một thứ thuốc phiện mạnh nhất. Nó có thể làm rạng danh một con người, nhưng cũng có thể quật ngã một con người. Làng tôi có một anh chàng dáng người tiền sử; da đen; trán thấp; mũi thô, ngắn và hếch; môi thâm, thưỡi; cổ to và ngắn… không hiểu do duyên cớ nào tự dưng muốn trở thành nhà thơ. Anh chàng một năm đi đóng gạch mấy tháng để chuẩn bị “cơ sở vật chất”, bỏ vợ để toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp. Đêm đêm, trong ngôi nhà như một túp lều, vách trát bùn, mái rạ, trong bản hòa tấu râm ran, miên man của ếch, của chão chuộc, của sọt sành… anh chàng làm những bài vè trong quầng sáng tù mù của ngọn đèn dầu sạm muội khói. Tất nhiên là không thành công. Dù không chỉ một lần, với chiếc xe đạp cọc cạch, anh chàng đã vượt qua cả chặng đường dài 60km lên Kinh đô, đã gặp được những nhà thơ hàng đầu nhưng vẫn không thể vượt qua được cửa ải của chữ nghĩa. Anh ta làm đến khi bị tâm thần thì thôi. Mỗi khi có máy bay bay qua làng anh ta ra giữa sân chửi:
- Đả đảo bất công! Chúng bay không dìm được ông đâu!...
Thế mà bây giờ tôi cũng làm thơ. Đang là kỹ sư, làm công việc nghiên cứu ngon lành, lại đi làm thơ. Không biết rồi tôi có bị thơ “vật” cho như anh chàng cùng làng kia không?
Tất nhiên, đầu óc tôi không thể đồng hạng với anh chàng thôn quê không thi nổi tốt nghiệp cấp 1 ấy được. Nhưng độ “điên khùng” thì chưa chắc ai hơn ai. Tôi làm một lèo mấy chục bài chứ không phải chỉ mười bài. Một hôm, khi đã đọc hết mấy chục bài của tôi, nữ thi sĩ già đã nói với tôi một cách trang trọng:
- Cháu ạ, cô đã gặp và đào tạo được nhiều nhà thơ trẻ. Có người bây giờ còn nổi tiếng hơn cả cô. Nhưng cô thấy cháu là thông minh nhất. Có lỗi, người ta phải hàng tháng, hàng năm mới sửa, mới thay đổi được. Còn cháu thì làm được ngay. Có lẽ mày rồi sẽ “hậu sinh khả úy” đấy cháu ạ.
Đến lúc này thì không phải là chuyện chơi nữa rồi. Mặc dù không biết nhà thơ nhận xét mình có đúng không, nhưng bất chợt, tôi cảm thấy mình như được giao một sứ mệnh cao cả, thiêng liêng. Chưa hề được đăng một chữ nào mà tôi thấy mình như đã nổi tiếng lắm. Từ đó, giống như anh chàng cùng làng ngày nào, đêm đêm, tại căn phòng 14 m2, không cánh cửa sổ, mưa gió hắt đầy nhà mà tôi không cảm thấy gì, tôi chong đèn làm thơ. Ban ngày thì vẫn đi làm bình thường nhưng chủ yếu để lĩnh lương chứ không ôm mộng thành tiến sĩ nữa. Dù đã có một thời, cứ thấy hình ảnh những người mặc áo choàng trắng trong phòng thí nghiệm, lòng tôi lại dậy lên những xốn xang. Nhưng khi bước vào thực tế, tôi đã bị thất vọng, tôi ngạc nhiên khi thấy trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học uyên thâm này người ta cũng đấu đá, tranh giành nhau!
Sau đó, sự nghiệp văn chương của tôi có tiến triển. Mà hình như tôi cũng có thông minh thật. Chỉ sau một thời gian rất ngắn, không chỉ làm thơ, tôi còn viết truyện ngắn, viết phê bình nữa. Những bài viết đã khiến không ít người ngạc nhiên. Có người hỏi, tại sao tôi là kỹ sư lại viết được như thế? Tôi không trả lời. Thế những người không là gì viết thì sao? Nhưng để lại ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là bài thơ đầu tiên được đăng báo. Tôi ngẩn ngơ mất mấy ngày. Kể hiểu được điều, đăng một bài thơ sẽ có bao nhiêu người đọc nó, có một ai đồng cảm không? Có lẽ người ta sẽ không mất công xúc động quá như thế! Nhưng chính cái phép “thắng lợi tinh thần” ấy lại là một thuộc tính của con người, chính nó đã giúp người ta đứng vững trong cuộc đời có quá nhiều nỗi buồn và lắm tai ương này!
Thế rồi, qua nhà thơ, tôi đã có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Cuộc gặp gỡ có ảnh hưởng dài lâu đến chí hướng, đến cuộc sống tinh thần và tình cảm của tôi.
Một lần bà nói:
- Cháu ạ, nếu cháu được gặp ông Chế (2), được ông ấy giúp cho thì tốt. Nhưng gặp được ông ấy cũng khó, ông ấy tự kiêu mà cũng bận lắm.
Nghẫm nghĩ một lát bà bày mưu:
- Bây giờ cô sẽ đưa cho cháu một chai rượu thuốc mang lên biếu ông ấy. Nhưng cháu cứ làm quen với cô Thường (3) trước đã. Cô sẽ viết giấy nhờ cô ấy đọc góp ý cái truyện ngắn mới đăng của cháu. Rồi từ từ có dịp thì đưa thơ cho ông ấy đọc. Nếu ông ấy mà bảo “được” thì mày nhất định sẽ thành danh.
Tôi mừng lắm. Được gặp một trong mấy nhà thơ lớn của đất nước là một điều bất ngờ lớn đối với tôi. Hồi nhỏ, dù ghét cay, ghét đắng môn văn nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhớ và yêu mến thơ ông. Một sự yêu mến hồn nhiên. Tôi còn trẻ, còn tò mò, cứ biết được mặt ông cũng là tốt rồi.
Thế rồi tôi đã đến nhà ông, được gặp ông như gặp một nhân vật của truyện cổ tích. Nhưng mãi đến dịp Hội Nhà văn Tp HCM tổ chức một cuộc thi thơ mà ông được mời chấm chung khảo, tôi mới nhờ được cô Thường đưa thơ của tôi cho ông coi. Sáng đó bà đã nói với ông:
-Anh Hoan (tên ông) ơi, cậu này cũng có làm thơ, cậu ấy có chùm dự thi đây này, anh coi giúp xem.
- Ông (ông thường gọi tôi vậy, còn tôi gọi ông là “chú” xưng “cháu”) cũng có làm thơ à? - Rồi sau khi đọc xong, ông reo lên: - Ô, ông làm được đấy, ông  sẽ được giải đấy!
Tôi ngạc nhiên đến độ không còn biết đến vui mừng nữa vì không hiểu “được giải” nghĩa là thế nào? Sao ông lại cho giải ngay tại nhà ông? Rồi ông tiếp: “Tôi có thể cho ông giải cao nhất cũng được, nhưng ông chưa có lực khéo người ta giết ông đấy! Thôi, tôi cho ông đứng đầu giải 3!” Nói xong, ông còn vào trong buồng, bê ra một chồng vở khổ lớn ra khoe với tôi một cách hồn nhiên như khoe một người bạn tâm giao vậy:
- Ông biết tôi làm thơ như thế nào không? Khi nào nghĩ ra được một câu hay tôi chép vào quyển đầu này, khi nào có tứ sẽ phác thảo vào cuốn thứ hai, tôi đánh mục lục đàng hoàng để hoàn thiện dần.
Từ đó, như một quà tặng của số phận, tôi được trở thành một người quen thân với gia đình và được ông dành cho nhiều ưu ái. Tôi được nói chuyện với ông rất nhiều lần. Không hiểu sao tôi lại rất nhớ câu ông tâm sự:
- Sao bây giờ tôi ngại gặp mặt con người quá ông ạ. Tôi chỉ thích gần cây cối thôi. Vì thế tôi mới chuyển nhà lên tận đây.
Không biết, đây có phải là dấu hiệu mệt mỏi của một cơ thể đã về già hay là sự mệt mỏi của một cuộc đời đã trải qua biết bao sự phức tạp của những mối quan hệ giữa con người với con người?...
Rồi cho đến một hôm, viện tôi chọn ra một đội tuyển để đi thực tập ở nước ngoài, trên dây chuyền tổng hợp Tetracyclin bằng vi sinh. Tôi cũng được chọn. Dù sao tôi vẫn làm tốt công việc ở viện. Chúng tôi được đi học ngoại ngữ. Nhưng thật oái oăm, đúng lúc này lại có một cuộc thi truyện ngắn. Thế là vừa học ngoại ngữ tôi vừa cắm cúi viết một truyện. Cũng chẳng phải lấy ở đâu xa cho mất công mà viết ngay về những ngang tai trái mắt ở viện mình. Bây giờ thì mới biết là thậm ngu, vì tự dưng lại đi phê bình người chọn mình đi nước ngoài và bênh vực một người về hưu! Chẳng có ai lại ngược đời như thế cả. Nhưng lúc ấy thì tôi không nghĩ thế. Tôi cứ nghĩ mình viết đúng thì không làm sao cả. Mà hơn nữa, đã dám nhận một sứ mệnh cao cả thì còn phải tính toán gì nữa! Viết xong, tôi liền gửi báo và sau một tuần thì được đăng. Không ngờ, chuyến ra quân văn xuôi lần này cũng rầm rộ lắm. Đài thành phố, đài Trung ương dồn dập đọc truyện của tôi. Về khu tập thể, tôi thấy suy nghĩ của mình cứ oang oang phát trên đài. Với tâm trạng của một người đang bay trên tầu vũ trụ, tôi núp ngoài cánh cửa nhà người ta nghe nhờ (vì tôi chưa sắm được đài). Hàng xóm xôn xao, cơ quan xôn xao, cả ngành xôn xao, mãi tít mù ngoài Bắc quê tôi cũng xôn xao. Mọi người ở các xí nghiệp đổ xô đi mua tờ báo. Tôi nhận được thư cha tôi chúc mừng: “Thấy rất mừng là con đã trở thành một nhà văn khá giỏi”. Tôi còn biết, một lần ông nói với cán bộ xã: “Chúng mày thì là cái chó gì, tao đây này, tao còn là bố nhà văn đây này!”. Thật tội nghiệp ông. Bởi đúng ra tôi chỉ là một đứa con vô tích sự. Cho đến lúc ông mất, tôi chưa báo hiếu được một điều gì. Đây chính là nỗi ân hận lớn nhất của cuộc đời tôi.
Còn đối với lãnh đạo viện, truyện ngắn của tôi như một đòn sấm sét. Một nhân vật phải về hưu để “thế mạng” cho cả một ê-kíp, trấn an dư luận (kiểu Tào Tháo mượn đầu quan coi lương trấn an quân lính). Còn tôi, tất nhiên là không được đi nước ngoài với một lý do thật giản dị, “để đến lần sau”! Cái lần không bao giờ có!
 Thế là chính từ đây, cuộc đời tôi đã bị đẩy tới một khúc quanh. Cả phòng tôi đi nước ngoài hết chỉ còn lại độc một mình tôi. Rồi tôi bị cho nghỉ 70% lương, rồi không lương, là hợp lý lắm! Chua chát thay, văn với chả thơ!
Lúc này, nhà thơ nữ già đã về Bắc. Tuổi già của bà không chịu nổi nỗi cô đơn ở nơi đây. Bà viết một thư muốn tôi chính thức là con của bà, ra Hà Nội ở, rồi sẽ thừa kế toàn bộ tài sản vật chất cũng như tác phẩm của bà. Tiếc là tôi đã làm buồn lòng bà vì tôi đã có vợ và đứa con trai, với tôi không có gì sánh được với nó. Tôi thì thế nào cũng được, nhưng vợ con tôi sống quen ở Sài Gòn, làm sao có thể ở Hà Nội? Còn nhà thơ lớn kia thì thật đau đớn, ông đã mất! Trong một lần khám bệnh, bác sĩ đã phát hiện ra khối u ác trong phổi ông!
Thế là không còn gì nữa. Tôi đã đột ngột từ biệt văn chương như lúc đầu đột ngột đến với nó. Tôi không hối hận gì cả, chỉ thấy trào lên một niềm căm giận, mình có làm điều gì sai đâu? Tôi không biết là mình đã thực hiện một sự phiêu lưu. Làm một việc cần đến sức mạnh mà trong tay lại không có gì cả. Chiều chiều, tuyệt vọng nằm gác tay lên trán, tôi nghĩ kế sinh nhai. Tôi có thể chịu được mọi gian khổ, nhưng còn thằng con nhỏ đầu lòng mới sinh của tôi, tôi đau đớn khi sinh nó ra trên đời mà lại để nó khổ. Tôi không thể đi đạp xích lô, đi vá xe đạp, vì lỡ là nhà thơ, là kỹ sư rồi! Tôi vùng dậy, đi gõ cửa tất cả các nơi có dính dáng đến hóa, đến dược. Nhưng người lớn họ quen nhau hết ráo. Với tai tiếng chuyện viết báo của tôi thì Sài Gòn cũng nhỏ thôi. Không một nơi nào dám nhận tôi vì đều được báo trước: Nó là nhà văn đấy! Cơ quan làm ăn mà lại đi nhận một thằng nhà văn tọc mạch là toi ngay mọi chuyện! Một tối! ngồi xem ti-vi nhờ, diễn vở kịch bộ đội ta đánh sân bay Tân Sơn Nhất, tôi ứa nước mắt, chửi đổng: “Đ.mẹ! Bố mày cũng từng đánh nhau ở Định Quán, La Ngà, Xuân Lộc, chôn không biết bao thằng bạn 19 tuổi chết tươi; bây giờ phải chịu nhục thế này à?! Còn mấy thằng cơ hội thì lại vênh vang, được trọng dụng; lại còn nước ngoài với nước trong tu nghiệp nữa! Đời thật chó má!” Sáng sau, tôi hầm hầm đến cơ quan, gặp viện trưởng:
- Các ông mà không cho tôi đi làm là tôi lại viết nữa đấy!
- Anh thông cảm, hiện tại phòng anh đã đi hết rồi, còn có một mình anh thì làm được việc gì?
- Các ông thật bất công. Các ông đã không cho tôi đi nước ngoài thì phải xếp việc cho tôi chứ. Không lẽ ở viện này chỉ có phòng “Tổng hợp  hữu cơ” thôi sao?
- Thôi được rồi, anh cứ về đi. Tôi sẽ bàn bạc với ban giám đốc. Có thể sẽ xếp anh làm tại phòng “Hợp chất thiên nhiên”.
Cũng may, ông viện trưởng là người mới ở trên xuống, thay cho ông viện trưởng già về hưu, không có “ân oán giang hồ” gì với tôi. Có điều, ông không “mạnh” lắm, tính ông nhu nhược. Đối thủ chính của tôi là nhóm ông viện phó thì có thực quyền, thực chất. Trong đó, có một bà còn ghét tôi hơn cả kẻ thù. Tôi không hiều tại sao, vì thực ra chưa bao giờ tôi đụng chạm tới bà ta. Bà ta cũng là dân khoa học, cũng là phó tiến sĩ, trưởng một phòng nghiên cứu khác. Có thể do bà ta ganh với bà trưởng phòng và phòng “Nghiên cứu trung tâm” của chúng tôi chăng? Bà này còn có bà chị ruột mới lên thứ trưởng, nên rất “mạnh”. Nhưng người lớn họ cũng khôn lắm. Họ rất hiểu “già néo đứt dây, chó cùng cắn giận”. Biết đâu, tôi điên lên, lại tương cho một quả lựu đạn là toi đời! Hơn nữa, đúng lúc này, bộ lại mới giao cho viện một công trình cực kỳ khó mà cả viện chưa có một ai dám nhận: Chiết xuất thuốc chống ung thư Vinblastin từ cây dừa cạn.
Thế là tôi lại được đi làm. Khi trong lòng thanh thản trở lại, lần đầu tiên tôi hiểu được giá trị của những hành vi, của những cách ứng xử, của nghệ thuật sống trong cuộc đời; mà trước đây tôi chỉ biết đến có khả năng chuyên môn. Từ một kẻ thất nghiệp tôi lại được trở thành người quan trọng. Tôi đã nhận đề tài với tâm trạng của một người cưỡi trên lưng hổ và một lời thề không dính đến văn chương nữa. Phải đứng trước bờ vực chông chênh của sự tồn tại, người ta mới nhận ra được sự vô nghĩa của những hư danh. Văn chương với tôi lúc này thực sự là trò vô tích sự. Tôi cũng đã thấy trong cái đền đài nghệ thuật thiêng liêng ấy cũng có lắm chuyện.
Tôi đã nhận trọng trách chủ nhiệm đề tài và dốc toàn bộ tâm sức vào làm việc với cung cách của một thủ lĩnh, đứng đầu một nhóm mười đứa, cả dược sĩ, cả kỹ sư bách khoa phụ trách máy và kỹ sư hóa phụ trách khâu phân tích, làm sắc ký.
Với dược liệu là cây dừa cạn, chúng tôi tiến hành quy trình qua nhiều giai đoạn phức tạp. Từ việc chiết xuất, cô đặc, loại tạp, đến việc phân lập hoạt chất với một tỷ lệ vô cùng nhỏ trong alkaloid toàn phần bằng phương pháp sắc ký cột. Chỉ sau ít tháng, nhóm chúng tôi đã làm ra được mấy gam loại thuốc cực kỳ quý và đắt này (Giá thị trường thế giới hàng triệu USD một ký). Chuyên gia của Pháp, của Ý đã đến thăm nơi làm việc của nhóm chúng tôi. Tôi có nhiều triển vọng được đi Pháp tham quan, học hỏi thêm.
Trước một kỳ phép, tôi phải trình bầy toàn bộ quy trình chiết xuất trước hội đồng khoa học của viện. Như một sự báo công, một sự khẳng định, chứng tỏ năng lực của một người được quay lại làm việc, tôi say sưa trình bầy tất cả mọi chuyện. Một lần nữa, tôi lại mắc sai lầm. Một người từng trải, khôn ngoan, không hành động như thế. Muốn tồn tại, người ta phải luôn giữ dịt lấy những bảo bối.
Tôi đã mang theo về kỳ nghỉ phép một niềm vui của một người vừa làm được một công việc quan trọng và quay lại cơ quan với hy vọng tràn trề, chuẩn bị triển khai quy trình với một quy mô lớn. Không ngờ…
Ngay hôm đầu đi làm trở lại, ông trưởng phòng tổ chức tìm gặp tôi. Ông này cũng bộ đội chuyển ngành, không đến nỗi xấu. Ông nói:
- Bà Mận mới lên viện trưởng thay ông An. Bà ấy có ý định cho ông nghỉ làm đề tài đấy. Bà ấy bảo ông không hòa đồng với anh chị em. Ông cũng để cho công nhân làm bể mất cái bình cầu quý 20 lít nữa… Có lẽ ông lại nghỉ một thời gian, chứ bây giờ không biết xếp vào đâu. Nếu ông kiếm được cơ quan nào nhận nên chuyển đi.
Tôi bàng hoàng, không tin ở đôi tai mình nữa. Có lẽ nào lại có một sự vô lý đến như thế?!
Nhưng tôi biết làm sao được khi bà ấy bây giờ đã làm viện trưởng, chị bà ấy lại làm thứ trưởng. Lẽ phải thuộc về tôi nhưng chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh, đi kiện tôi sẽ thắng nhưng sẽ phải tiêu tốn cả cuộc đời mất. Tôi chỉ có duy nhất một thứ vũ khí, đó là những bí mật của công việc, thì lại trao cho kẻ thù mất rồi! Làm sao người ta có thể để tôi làm tiếp để rồi sẽ được đi Pháp, đi Ý?!
Thế là lần thứ hai, tôi lại thất nghiệp! Tôi đã khóc khi đột ngột bị dứt ra khỏi công việc đang làm dở dang và cũng mới tìm lại được niềm say mê quý giá từng đánh mất. Tôi lại được nghỉ ở nhà để mà lại vắt tay lên trán kiếm kế sinh nhai, kiếm một công việc xứng với cái danh tiếng (không biết có không) của mình. Đã khó lại còn sĩ và thế mới khổ! Có biết bao hy vọng, thất vọng, luân phiên trào lên rồi lịm đi, bóp nghẹt tim tôi…
Từ đó, cuộc đời còn tiếp tục giáng cho tôi những đòn chí mạng nữa. Nhưng tôi không chết đói mà chỉ gầy thôi. Tôi đã từ bỏ tất cả xin đi Liên xô, thực chất là đi buôn xuyên quốc gia một chuyến kiếm tiền, nhưng sau sáu tháng, không chịu nổi cảnh xô bồ, chụp giật, tôi đã chịu phạt bỏ về. Tưởng đã cùng đường. Phải đến khi cha tôi mất, sau một giỗ, thì như người ta thường nói, tôi ĐÃ ĐỔI ĐỜI!
Do sự đổi mới của nhà nước đã mở ra cho tất cả mọi người những cơ hội để tìm đến sự thành đạt hay do cha tôi phù hộ? Tôi không trả lời được. Tôi không mê tín, nhưng thật khó phủ nhận sự linh thiêng!
Cái chết của cha tôi thật kỳ lạ! Như một sự sắp xếp tai ác của định mệnh, ông chết vào đúng hôm tôi bay từ Liên Xô về Sài Gòn. Ông đã để lại một niềm tiếc thương vô bờ cho dân làng. Bởi bình thường ông hiền như đất và là một bác sĩ làng rất có uy tín. Có đứa trẻ là con nuôi ông vì đã được ông cứu sống. Cả đời ông không màng tới một điều gì, tiền tài, danh vọng… Ông chữa bệnh không lấy tiền. Nhưng ông lại muốn tôi đạt được một cái gì đó để làm vẻ vang dòng họ!
Từ Sài Gòn, tôi muốn bay ngay về với cha, nhưng không tiền, đành cắn răng ngồi trên con tầu ì ạch nặng nhọc. Tôi đã gặp lại cha khi người đã bị dìm sâu dưới một khoảnh đất nghĩa địa ngập ngụa bùn nước. Tôi đau đớn khóc và thầm nghĩ, ông còn khỏe lắm, mới 69 tuổi! Đêm đêm tôi không ngủ được. Trong ngôi nhà cổ hoang vu, mênh mông, giăng kín những dải vải trắng, từng đàn dơi bay phần phật phần phật và tiếng con mèo rền rĩ khóc! Tôi ân hận khôn nguôi vì chưa làm vui được tuổi già ông!
*
*   *
Sau giỗ đầu cha tôi, mọi chuyện hoàn toàn thay đổi. Tôi không cần đến viện viếc gì nữa vì tôi đã là một ông chủ. Tôi đã đến với nền kinh tế thị trường như một người lính ra trận. Tôi đã chiến đấu bằng tất cả trí tuệ, bằng cả nỗi đau. Tôi đã dấn thân vào một cuộc cạnh tranh vô tư, mà sự ngu dốt, ích kỷ, đố kỵ, gian manh không được bao cấp. Và, cuộc đời không còn thử thách nữa, tôi đã được trả công. Dường như mỗi bước đi của tôi trong công việc như có một sự dẫn dắt của thần linh, cái công việc mà tôi đã tự tạo ra được từ chính những công trình nghiên cứu của mình. Tôi cũng đã tạo ra được một thị trường rộng khắp nước. Nhờ nó, tôi đã giúp cho nhiều người có việc làm, có người trở nên giầu có. Vừa rồi tôi có về quê cải táng cha… Tôi đã xây mộ cha và ông nội theo kiểu nghĩa trang công giáo ở Long An, quê vợ tôi, mà ở quê chưa có, và làm một bữa tiệc đông vui có tới hàng ngàn người tham dự. Nhưng cha ơi! Ở nơi chín suối cha có biết chăng?
*
*   *
Giờ đây, khi đã trà dư tửu hậu, tôi bỗng lại nhớ đến văn chương, nhớ đến một thời gian khó và những kỷ niệm. Thì ra văn chương không phải là tất cả cũng không phải không là gì cả. Tôi phải trở lại với nó để tìm sự cân bằng. Không hiểu sao bây giờ, khi không còn một điều gì nữa khiến tôi phải lo lắng về miếng cơm, manh áo, nhưng trong lòng vẫn không một giây yên ổn. Phải chăng, lòng tham của con người cũng có sức hành hạ người ta, làm điêu đứng người ta, không kém những nỗi bất hạnh, tuyệt vọng?

        TPHCM
Viết nhân ngày giỗ thứ 5 của cha 13-5-1995
Avatar
Anonymous • 2 năm trước
Bài thơ về mẹ của bạn làm mình ứa nước mắt đấy.Còn qua câu chuyện đời bạn mình thấy bạn là người có tài,chắc là thông minh nữa.Bạn làm gì nữa đi,đừng thỏa mãn với cuộc đời sớm nhé.Mong được nghe đến bạn nhiều lần nữa.
Avatar
ĐÔNG LA • 2 năm trước
Bạn đúng là người có tâm và hiểu biết. Cảm ơn bạn.
Avatar
Giuse Lê Thắng • 2 năm trước
Rất xúc động bác ĐL ạ. Người ta thường nói "nghiệp văn chương", với bác có lẽ văn chương đã vận vào rồi và như là cái nghiệp với đầy đủ ý nghĩa của nó. Bác đã từng là người giàu có nhưng lại không mãi chạy theo tham vọng giàu có mà lại đi tìm sự cân bằng trong đời sống cá nhân và mối tương đồng xã hội quả là khác biệt, hiếm có.
Hiểu về con người, hoàn cảnh của bác ắt sẽ có nhiều người yêu mến hơn. Thậm chí những kẻ mà bác thường gọi là rắn rết, tai trâu...cũng sẽ phải ngộ ra cái sự phi lý khi họ vào nhà bác để phá phách, "phun nọc độc", nếu...
Như bác luôn tâm niệm về linh sản mà người cha của bác để lại là “Mình làm đúng thì không sợ thằng nào hết”. Bác đã làm đúng, thậm chí rất đúng, nhưng...
Sự thật như thuốc đắng, tuy giã tật nhưng khó uống, những góp ý của bác đều trên cơ sở những viện dẫn chứng minh khoa học và tri thức, người đồng cảm khi chia sẻ sẽ có thể vỗ đùi một cách vô thức mà buột miệng la lên rằng "Hay! có lý!"... nhưng những kẻ bị bác phê phán thì lại khác. Họ sẽ "không đau vì quá đau" mà tìm mọi cách để trả thù, không đủ tri thức để trả thù thì họ sẽ trả thù vặt như bác thấy: "phun nọc độc" vào nhà bác, giá như trong cách nói của bác...
Tôi vẫn có niềm tin rằng kẻ cướp của giết người vẫn có cơ hội hoàn lương nếu cho họ cơ hội để ăn năn, hối cải. Tất nhiên chúng ta còn phải xem thái độ của họ có thiện chí, thiệt tâm không đã...
Những cái từ dừng lại ở trên: "nếu", "nhưng" hay "giá như" là những từ dùng để bày tỏ sự nuối tiếc về cái đã qua, sự nóng nảy đôi khi làm hỏng đi những điều lớn lao hơn mà mình khó nhọc chắt chiu... Hy vọng, bác ĐL sẽ kìm chế được như bác từng chiêm nghiệm cuộc đời mình, kiểm soát được như kiểm soát chính hơi thở của mình... thì tốt biết bao!
Vài lời tri giao với bác.
Giuse Lê Thắng
Avatar
ĐÔNG LA • 2 năm trước
Đọc mấy chữ của bạn mà tôi đang khóc đấy
Avatar
ĐÔNG LA • 2 năm trước
Cái truyện này thì tôi hoàn toàn là tôi. Bạn thấy đấy, bây giờ mấy nhà sư cũng chất vấn ở Quốc hội thì tôi với nghiệp viết lách làm sao yên về đủ thứ chuyện. Còn tiệc quê tôi đơn giản nhưng đông lắm, xếp mâm kín sân mấy nhà hàng xóm. Mới lại hồi ấy mới đổi đời cũng bốc, và chưa làm gì được cho cha mình cái gì thì chỉ muốn làm cho ông vui bằng cách ấy thôi. Cảm ơn bạn đã đồng cảm với tôi.
Avatar
TT • 2 năm trước
Truyện đọc hay!

Anh Đông La sửa lại 2 chỗ lỗi đánh máy nhé:
1. "Bởi người ta sinh ra trên đời luôn mang trong mình máu của (máu) cha ông,"
2. "Cháu ạ, nếu cháu được (gặo) ông Chế"

Vì anh viết giống như kiểu hồi ký, nên cho em hỏi không biết nhân vật Tôi trong truyện này có phải là chính Anh không?

Đoạn kết của truyện nhân vật Tôi có làm bữa tiệc ngàn người tham dự. Có cần thiết phải làm tiệc lớn thế không Anh? :). Giản dị mới là sâu sắc mà.

Và một người đã trải qua bao gian nan như thế thì lòng cũng nên được yên ổn chứ nhỉ? :). Cho dù phải đấu tranh với cái xấu mà lòng mình vẫn cứ yên ổn được. Vì yên ổn hay không cũng là do mình thôi mà Anh.
Avatar
Lamda • 2 năm trước

Thực ra với cuộc đời phải chịu những thăng trầm khá cay đắng vì cái "nghiệp hư danh văn chương" này chính Đông La phải là người ghét chế độ này mới phải chứ nhỉ? Thế mà anh lại không, ngược lại còn ca ngợi. Phải chăng chính trí tuệ và bản lĩnh đã giúp ĐL đứng vững cũng đồng thời giúp anh nhận biết và phân biệt được đâu là lẽ phải cần hướng tới.