Thứ Ba, ngày 30 tháng 6 năm 2015

KHOA HỌC VÀ TÂM LINH TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ CẢM

     Hôm nay tôi thay đổi không khí viết nhiều về khoa học, cũng để cho mọi người thấy xem tôi từ ngày gặp và viết về cô Vũ Thị Hòa tôi có bị mê mụ đi không?
ĐÔNG LA
KHOA HỌC VÀ TÂM LINH
TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ CẢM
Với tôi bạn theo nghĩa đồng cảm, có thể chia sẻ được với nhau những nhận thức tâm đắc, nhất là về những tri thức cao sâu, là rất ít. Đã thế gần đây lại rơi rụng bớt nhưng may là lại có thêm bạn mới, một trong số đó chính là TS BS Lương Chí Thành. Hầu như tất cả các bài tôi viết trong các lĩnh vực từ chính trị xã hội, khoa học, triết học cho đến tâm linh, ông TS Thành đều đồng cảm với tôi cả. Vì vậy mấy lần ra Bắc gần đây tính sẽ gặp, có khi chỉ để nói về một điều mình mới ngộ ra được, nhưng rồi Phật Bà lại không cho đi đâu! Nên kỳ này thấy Thành nhắn tin vào công tác ở TPHCM “muốn tranh thủ đến thăm anh để trò truyện” tôi mừng lắm. Tôi tự tay làm vài món “dưa muối” đãi khách, đến giờ hẹn tôi gọi thì Thành mới xuống máy bay.


 (Từ phải qua: Đông La, Thành, chụp chung cùng các Phật tử đến thăm cô Hòa)
Tôi nhớ có lần Thành cho tôi là “xuất sắc” hay gì đó nên mời tôi tham gia thảo luận tại trang của một người bạn bàn về nét tương đồng giữa vật lý lý thuyết và Đạo Phật. Tôi vốn không thích tham gia thảo luận vì toàn bộ tâm lực tôi muốn dành cho việc viết về những điều tôi quan tâm. Nhưng có một điều tôi chú ý là giới trí thức nói chung khi trình bày những vấn đề tri thức ra đại chúng thường dở ở chỗ trình bầy một cách “sách vở quá”, nói với những người ngoài chuyên môn của mình lại dùng những ngôn ngữ khái niệm nên người ta tài thánh cũng không hiểu được. Như về vật lý lý thuyết lẽ ra người ta phải dùng ngôn ngữ của một nhà tư tưởng vật lý chứ không phải của nhà vật lý. Ngay Einstein cũng từng nói: “Nếu anh không thể giải thích một điều một cách đơn giản thì anh chưa hiểu điều đó đủ rõ”. (If you can't explain it simply, you don't understand it well enough).
Còn giữa khoa học và thế giới tâm linh nói chung và đạo Phật nói riêng giống nhau ở chỗ đều nói về những điều không nhìn thấy. Qua các hiện tượng trong tự nhiên, khoa học phân tích và làm thí nghiệm chứng minh. Còn thế giới tâm linh từ bao đời cũng đã xuất hiện những hiện tượng nên đã sinh ra các tín ngưỡng và các tôn giáo, trong đó có đạo Phật.
Có một điều xuyên suốt là nhận thức khoa học không phát triển tuyến tính, có những chỗ bị vấp, hiện thực mâu thuẫn với lý thuyết, các nhà khoa học lại phải tìm cách lý giải và thay đổi. Còn nhận thức về thế giới tâm linh vì vô hình nên các tín ngưỡng, các tôn giáo đã giải thích khác nhau, có cái tương đồng, có cái mâu thuẫn, nếu cứ cho mình chánh đạo người khác tà đạo là sinh ra đánh nhau.
Với Đạo Phật, nhận thức xuất phát từ tu luyện và giác ngộ của Đức Phật Thích Ca, các đệ tử ghi lại lời của Ngài thuyết pháp và giảng đạo thành ra kinh Phật. Sự nhận thức của ngài là trực tiếp bằng trí huệ, huệ nhãn và khả năng lục thông, khác với khoa học là giải thích các hiện tượng rồi làm các thí nghiệm chứng minh. Thú vị ở chỗ là sau hai thiên kỷ rưỡi, khoa học càng phát triển, có khả năng dõi con mắt vào tận cùng cấu tạo vật chất đồng thời cũng dõi con mắt đến tận đường biên của vũ trụ bao la, lại ngộ ra rằng những lời mơ hồ của Phật Tổ trong kinh sách là đúng.
Nét tương đồng thứ nhất giữa nhận thức khoa học và thế giới tâm linh nói chung đó là thường phải thay đổi. Khoa học từ các hiện tượng mâu thuẫn với lý thuyết người ta phải tìm cách giải thích và chứng minh, từ đó đã đưa ra những phát minh mới. Còn với thế giới tâm linh, với sự phát triển của nền văn minh, chính nhận thức từ khoa học đến triết học đã làm người ta thay đổi nhận thức về tâm linh, có khi phủ nhận luôn, nhưng rồi các hiện tượng tâm linh vẫn cứ xuất hiện buộc người ta phải thay đổi.
***
Với khoa học có hai sự thay đổi lớn nhất đã mở ra những chân trời mới của khoa học, đó là Thuyết Tương đối và Cơ học Lượng tử.
Về Thuyết Tương đối, tôi nhớ một lần có ông nhà văn hỏi tôi: “Thuyết Tương đối là gì?” Nếu trả lời theo sách tôi sẽ dễ dàng trả lời. Như về Thuyết Tương đối hẹp nó được dựa trên hai định đề: (1) các định luật vật lý là như nhau trong tất cả các hệ quy chiếu quán tính; và (2) tốc độ của ánh sáng trong chân không là không đổi.
Nhưng nói vậy với người không có chuyên môn thì gần như chưa nói gì. Thuộc bài chưa chắc nói cho người ta hiểu mà cái chính là phải hiểu bài. Vậy cần phải hiểu chính xác bản chất vấn đề và trả lời bằng ngôn ngữ đời thường mới giúp người ta hiểu được.
Tôi nói, bình thường luôn có phép cộng vận tốc, như ông đi dưới đất phải chậm hơn khi ông đi trên một con tầu, vì trên tầu vận tốc của ông được cộng thêm vận tốc con tầu, nhưng với ánh sáng thì không có phép cộng như thế vì vận tốc của nó luôn không đổi. Các nhà bác học cho điều này là vô lý nên đã tìm mọi cách để giải thích, đo đi đo lại, chỉ riêng có ông Einstein là đã cho vận tốc ánh sáng đúng là hằng số. Có điều nếu cho điều đó là đúng sẽ dẫn đến hậu quả xem chừng còn vô lý hơn là, đối với một hệ chuyển động thì không gian và thời gian bị co lại. Như một chiếc xe chạy thì chiếc xe sẽ bị ngắn lại và đồng hồ chạy trên xe cũng chậm lại. Nhưng chỉ nhận rõ với tốc độ cực nhanh mà thôi. Điều này đã được kiểm chứng đúng nên người ta mới bảo ông Einstein là thiên tài! Với Thuyết Tương đối rộng thì ông cho lực của chuyển động gia tốc cùng bản chất với trọng trường, mọi vật thể đều “uốn cong” cả không gian và thời gian quanh nó, khi lớn quá một giới hạn, lực sẽ lớn khủng khiếp, tự bóp nát chính mình trở thành lỗ đen vì hút luôn được cả ánh sáng. Cùng với những phát minh cơ bản khác nữa nên Einstein đã được nhân loại cho là nhà bác học vĩ đại nhất, nhưng cần phải hiểu, như vậy không có nghĩa là phát minh của ông là tri thức cao nhất và ông nói cái gì cũng đúng!
***
Về Cơ học lượng tử, khởi thủy từ sự vênh nhau giữa kết quả thực nghiệm đo năng lượng phát xạ của một vật đen được nung nóng được diễn tả bằng đồ thị sau:
            Như vậy khi bước sóng giảm dần, thực nghiệm cho thấy năng lượng phát xạ đạt cực đại rồi giảm dần xuống 0, ngược lại theo lý thuyết, năng lượng lại tiến đến vô cùng. Điều này vô lý như ta ở bên một bếp lò, năng lượng tỏa ra vô cùng sẽ thiêu cháy ta ngay vậy.
Rồi chính Max Planck đã cho năng lượng không phát xạ liên tục mà từng lượng nhỏ một (lượng tử), giá trị “gói” năng lượng cực tiểu bằng bước sóng ánh sáng nhân với một hằng số. Rồi ông đã “mò ra” một công thức tính năng lượng mà vật đen phát ra, khi bước sóng giảm đến mức độ nào đó, năng lượng giảm dần hoàn toàn khớp với thực nghiệm. Điều đó có nghĩa là với một nhiệt độ, năng lượng cực đại của một lượng tử chỉ có giới hạn. Như ta hơ lửa sơ sơ một thanh sắt nó không đỏ sáng lên được. Thú vị ở chỗ là cả Planck và các nhà khoa học đều không hiểu tại sao phát minh lại đúng và khớp với thực nghiệm như thế. Rồi từ viên gạch lượng tử đầu tiên này, khi nghiên cứu bản chất và các trạng thái của nó, cả một lý thuyết vĩ đại Cơ học Lượng tử đã hình thành, đạt được vô vàn kỳ tích trong nhận thức và ứng dụng trong đời sống.
***
Trở lại cái điều ông TSBS Thành bảo tôi tham gia thảo luận về sự tương đồng giữa vật lý lý thuyết và Đạo Phật.
Lại phải viện dẫn đến Einstein, ông nói: “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”. (Science without religion is lame, religion without science is blind). Về đạo Phật, ông cũng nói: "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism).
Dù vậy, không chỉ trên thế giới, ở nước ta hiện tại vẫn có những nhà khoa học phản bác trực tiếp hoặc gián tiếp Đạo Phật qua những ý kiến phủ nhận những hiện tượng tâm linh. Ông GS Nguyễn Lân Dũng từng nói trên tivi: “Chết là hết”; Ông Khải “ô zôn”: "cái gọi là ngoại cảm thì riêng tôi, tôi không bao giờ tin, nó chỉ là vớ vẩn mà thôi"; ông Bằng “tia đất” thì cho ngoại cảm là “lừa đảo”; còn ngoại cảm theo ông sư Thích Thanh Duệ, Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, Viện trưởng Phân Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, thì những người có khả năng ngoại cảm không phải theo đạo Phật nhưng khi hành nghề họ cảm thấy có liên quan nhiều đến đạo Phật nên họ “muốn kéo vào để gây thanh thế”; “Sau 49 ngày, phần hồn ấy sẽ được quyết định là đầu thai vào nơi này hay nơi khác. Khi thần thức của con người đã chuyển tiếp rồi thì nó không thể trở lại nói chuyện được với các nhà ngoại cảm nữa”.
Như vậy so với hiện tượng ngoại cảm xuất hiện chỉ trong gần 20 năm qua, những ý như trên là không đúng so với thực tế.
Nhưng bài này tôi không viết về cả những người phản bác lẫn  tin tưởng hiện tượng ngoại cảm mà theo tinh thần tỉnh tín chứ không mê tín, tôi viết về trường hợp những nhà khoa học vì quá tín ngưỡng đã gán ghép, theo tôi là khiên cưỡng, những nét tương đồng giữa đạo Phật và khoa học, giữa hiện tượng tâm linh với khoa học. Cũng để chứng minh với bạn đọc là dù tôi viết nhiều về tâm linh nhưng hoàn toàn không mê tín.
***
Như đã một lần viết, GS Viện sĩ Đào Vọng Đức, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý, cho các chiều phụ trong Lý thuyết Dây chính là trường vong mà các linh hồn tồn tại nên mắt thường không nhìn thấy. Các chiều phụ trong Lý thuyết Dây là các chiều nhỏ xíu (như không gian trong sợi tóc), với kích thước Planck, bị xoắn vặn lại nên không thể là không gian tồn tại của các linh hồn.
Đặc biệt GS Vật lý Thiên văn Trịnh Xuân Thuận nổi tiếng thế giới, cũng là một Phật tử, lại có những ý về mối tương quan giữa khoa học và Đạo Phật mà tôi thấy là có những điều còn chưa chuẩn.
Ông viết: “Phật giáo đưa ra quan điểm rằng vật thể hiện hữu … tuy nhiên hiện hữu này là thuần túy duyên khởi. Đây là cái mà Đức Phật gọi là Trung Đạo”.
Về khái niệm Trung đạo, Đức Phật khi nghĩ về người lên dây đàn, căng quá sẽ đứt, chùng quá không thành tiếng, chỉ vừa phải mới cho ra tiếng đàn tuyệt diệu, ngài đã ngộ ra con đường tu luyện đúng đắn là Trung đạo. Cũng như ngài đã bỏ con đường cực đoan mà ngài từng tu luyện theo phép khắc khổ. Trung đạo chính là nguyên lý cho mọi sự thành tựu nhưng Trung đạo không phải là Duyên khởi.
Phật Thế Tôn sau khi đạt chính đẳng giác (sa., pi.abhisambuddha), dưới gốc một cây bồ-đề ngồi kiết già bảy ngày quán chiếu Nguyên lý Duyên khởi. Duyên khởi cùng vói Vô ngã là hai giáo lí trụ cột của Phật giáo gồm có 12 yếu tố. Trong đó, Vô minh, sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống; Vô minh sinh Hành, hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý; Hành sinh Thức, làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định; Thức sinh Danh sắc là toàn bộ tâm lí và vật lí của một cơ thể do Ngũ uẩn tạo thành. Danh sắc sinh Lục căn là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu). Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc. Xúc sinh Thụ là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài. Thụ sinh Ái, tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh.  Ái sinh Thủ là điều cá nhân muốn chiếm lấy cho mình.
Với khoa học, GS Trịnh Xuân Thuận cũng có một ý về Duyên khởi:
 “Một ý niệm gây ấn tượng tương tự như duyên khởi của Phật giáo đó là khái niệm về tính “bất khả phân” hay “phi-cục-bộ” trong Cơ học lượng tử được khám phá qua một cuộc thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng do Einstein, Podolsky và Rosen (EPR) đưa ra vào năm 1935
Với hai cái photons tương tác này, ý niệm về “nơi này” và “chỗ kia” trở thành vô nghĩa bởi vì “nơi này” cũng chính là “chỗ kia”. Đó là những gì mà nhà vật lý gọi là “tính bất-khả-phân” hay “phi-cục-bộ” của không gian. Điều này cũng tương tự với ý niệm duyên sanh, duyên khởi của thế giới hiện tượng trong Phật giáo”.
Trước hết xin nói rõ thêm tí về vật lý, thí nghiệm EPR của nhóm Einstein nói trên dựa vào chính lý thuyết của Cơ học Lượng tử nhằm diễn tả câu chất vấn:Liệu sự mô tả thực tại vật lý bằng CHLT có thể xem là đầy đủ hay không?” (Can QM Description of Physical Reality Be Considered Complete?) Theo lý thuyết, một hạt photon có thể tách thành hai hạt chuyển động ngược chiều nhau, nếu xác định một đại lượng (như vận tốc chẳng hạn) ở hạt này thì cũng sẽ đồng thời xác định được vận tốc của hạt kia. Vì cũng theo lý thuyết, hai hạt có tính vướng víu (entangled) với nhau mà Einstein đã gọi là một tác động ma quái ở khoảng cách (spooky action at a distance). Đồng thời với phép đo vận tốc, ta cũng xác định động lượng của hạt kia cũng sẽ biết được động lượng của hạt này. Như vậy, ta đồng thời xác định được cả vận tốc và động lượng của một hạt, một điều làm sụp đổ Nguyên lý Bất định, trái tim của Cơ học Lượng tử. Còn cái tác động ma quái (spooky) cũng mâu thuẫn với Thuyết Tương đối cho không có gì chuyển động tức thời nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng.
Nhưng Cơ học Lượng tử cho rằng, không có thực (realism) hai hạt, mà hai hạt chỉ tồn tại khi ta thực hiện một phép đo mà Cơ học Lượng tử gọi là làm suy sụp hàm sóng; và đặc biệt hai hạt có trạng thái phi định xứ (nonlocality), tức cả hai là nhất thể, tuy hai mà là một, nên đo cái này cũng chính là đo cái kia, thí nghiệm tưởng tượng của nhóm Einsetin sẽ không thực hiện được. Nên quan điểm của Einstein và cộng sự về Cơ học Lượng tử là sai! Tiếc thay, về sau các thực nghiệm tinh xảo đã chứng tỏ đúng như vậy.
Như vậy việc hai hạt có trạng thái nhất thể không thể nói như GS Trịnh Xuân Thuận “ý niệm về “nơi này” và “chỗ kia” trở thành vô nghĩa bởi vì “nơi này” cũng chính là “chỗ kia””. Như một mặt tròn đồng nhất vẫn có chỗ này, chỗ kia; nhất thể một con trâu cũng phải có chỗ cái đầu, chỗ cái đuôi! Và tính phi định xứ (nonlocality), nhất thể cũng không phải “tương tự như duyên khởi của Phật giáo” như ý của GS Trịnh Xuân Thuận. Vì Duyên khởi nói về nhân quả, khởi từ cái duyên này sẽ sinh ra cái kia, rồi khởi từ cái “kia” lại sinh ra cái “kìa”, và cứ thế mãi chứ không nói về nhất thể!
***
Tiếp nữa, GS Trịnh Xuân Thuận viết:
Một thí nghiệm vật lý hấp dẫn và nổi tiếng khác cho thấy tính duyên khởi của hiện tượng không phải chỉ giới hạn trong thế giới của các hạt nhưng lan rộng ra đến cả toàn thể vũ trụ là thí nghiệm về quả lắc được thực hiện bởi nhà vật lý Léon Foucault vào năm 1851 tại điện Panthéon, Paris nhằm giải thích về việc Trái Đất quay. Tất cả chúng ta hầu như ai cũng đều biết đến đặc tính của quả lắc. Với thời gian trôi, phương hướng của quả lắc cũng thay đổi theo. Nếu ta bắt đầu cho nó lắc theo hướng bắc-nam, chỉ vài giờ sau nó sẽ lắc theo hướng đông-tây… Foucault nhận thức rằng, trong thực tế, cái quả lắc đã lắc cùng một hướng, chỉ có Trái Đất là đang quay”.
GS Trịnh Xuân Thuận viết: “cái quả lắc đã lắc cùng một hướng, chỉ có Trái Đất là đang quay” xem chừng không đúng đối với thí nghiệm trên. Vì Léon Foucault làm thí nghiệm con lắc chứng tỏ khi Trái Đất quay đã tạo một lực “văng” (khoa học gọi là Hiệu ứng Coriolis) làm mặt phẳng chuyển động của con lắc quay quanh trục của nó. Tại vĩ độ đi qua Paris, con lắc đã thực hiện một vòng quay thuận chiều kim đồng hồ sau 30 giờ:
Như vậy, trái đất quay làm con lắc chuyển động khác hướng chứ không “cùng một hướng” như ý GS Trịnh Xuân Thuận.
GS Trịnh Xuân Thuận tiếp:
Tuy nhiên vẫn còn một vấn đề nan giải mà mãi cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu được rõ ràng. Cái quả lắc của đồng hồ được thiết trí cố định trong một không gian, nhưng mà cố định tương ứng đối với cái gì? … Để tìm hiểu xem thiên thể nào đã điều khiển cái quả lắc của đồng hồ Foucault, việc giản dị là chúng ta đặt con lắc hướng về phía thiên thể đó. Nếu như thiên thể đó đang di động trong bầu trời, mà vẫn luôn luôn nằm ở trong hướng chỉ của con lắc, ta có thể kế luận rằng thiên thể đó là tác nhân chính trong sự vận hành của con lắc. Bây giờ chúng ta hãy để con lắc hướng về phía Mặt Trời. Sau một tháng, ngôi tinh cầu này đã chệch ra khỏi hướng của quả lắc 15 độ. Bây giờ chúng ta quay quả lắc về hướng ngôi sao gần nhất, Proxima Centauri, cách xa khoảng 4 năm ánh sáng. Ngôi sao này lưu lại trong hướng chỉ của quả lắc lâu hơn, …Và rồi chỉ có những thiên hà có khoảng cách lớn nhất, tọa lạc tận cùng bờ mép của vũ trụ mà chúng ta có thể biết được, cách xa ta đến hàng tỉ năm ánh sáng là không hề đi ra khỏi hướng chỉ của con lắc.
Kết luận mà chúng ta rút ra được từ thí nghiệm này rất mực đặc biệt: Hoạt động của con lắc đồng hồ Foucault không hề dựa vào thái dương hệ này mà là vào những giải thiên hà xa nhất, hay nói một cách đúng đắn hơn, vào toàn thể vũ trụ, điều này cho thấy rằng hầu như tất cả vật chất biểu kiến được tìm thấy trong những giải thiên hà xa xôi nhất mà không phải là những tinh tú gần ta. Như thế cái gì xảy ra ở đây, trên Trái Đất này, đều được quyết định bởi cả toàn thể vũ trụ bao la. Cái gì xuất hiện trên ngôi hành tinh nhỏ bé này đều nương tựa vào toàn thể cấu trúc của vũ trụ”.
Tôi thấy những ý trên không đúng với thực tế thí nghiệm Con lắc Foucault. Bởi sau 30 tiếng, Hiệu ứng Coriolis làm con lắc quay quanh trục 1 vòng đối với trái đất, Trái Đất lại tự quay quanh trục sau 24 giờ, rồi Trái Đất lại quanh quanh Mặt Trời 1 năm một vòng, làm sao “Bây giờ chúng ta hãy để con lắc hướng về phía Mặt Trời. Sau một tháng, ngôi tinh cầu này đã chệch ra khỏi hướng của quả lắc 15 độ”?
Rồi hướng dao động của con lắc thay đổi theo một mớ bòng bong như vậy, làm sao “chỉ có những thiên hà có khoảng cách lớn nhất, tọa lạc tận cùng bờ mép của vũ trụ … là không hề đi ra khỏi hướng chỉ của con lắc”? Để rồi ông GS Trịnh Xuân Thuận đưa ra cái kết luận siêu hình:
Hoạt động của con lắc đồng hồ Foucault không hề dựa vào thái dương hệ này mà là vào những giải thiên hà xa nhất, hay nói một cách đúng đắn hơn, vào toàn thể vũ trụ… cái gì xảy ra ở đây, trên Trái Đất này, đều được quyết định bởi cả toàn thể vũ trụ bao la”.
Thực tế, con lắc chịu tác động mạnh nhất bởi lực văng do sự quay của Trái Đất; theo quy luật về hấp dẫn, tác động mạnh kế tiếp phải là Thái Dương hệ rồi mới đến “vũ trụ bao la”.
Vì vậy những ý của GS Trịnh Xuân Thuận là không đúng với thực tế. Tôi cố gắng suy ngẫm những điều sâu xa hơn ông GS muốn bày tỏ mà ông không diễn đạt “sõi” nhưng chịu không sao thấy được điều gì cả. Vì thế từ con lắc Foucault ông viết “Một lần nữa, chúng ta lại đi đến một kết luận rất gần gũi với ý niệm về duyên khởi của Phật giáo: mỗi bộ phận đều chứa đựng cái toàn thể, và mỗi bộ phận đều nương tựa vào tất cả các bộ phận khác” lại không thỏa đáng!
***
Về con lắc Foucault, ông Phạm Việt Hưng, một giảng sư dạy toán đại học hình như ở Úc, trong bài Con lắc Foucault và Vũ trụ Nhất thể cũng viết:
Hơn mười năm trước, thật ngạc nhiên thú vị vô cùng khi tôi biết rằng con lắc Foucault có mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ vũ trụ. Thật tuyệt vời!
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng có một kỷ niệm thơ ấu tôi không bao giờ quên: đó là câu chuyện về con lắc Foucault mà thầy dạy Địa lý năm đầu cấp II của tôi là thầy Cang kể cho học trò nghe.
Đầu tiên thầy làm thí nghiệm: buộc một vật nặng vào một sợi dây, đầu kia của sợi dây buộc vào một chiếc thước kẻ, … và cho vật nặng dao động như một con lắc đồng hồ… rồi thầy nói:
- Các em nhìn đây, trong khi thước kẻ quay, con lắc vẫn dao động theo tư thế ban đầu, nó không chịu quay theo thước kẻ, thế có lạ không?
…Nhưng chuyện con lắc Foucault không dừng lại ở đó. Nó luôn bám theo tôi với một câu hỏi: tại sao con lắc giữ nguyên mặt phẳng dao động của nó?”
Nếu ông Phạm Việt Hưng “ngạc nhiên thú vị vô cùng” về câu chuyện trên thì tôi cũng “buồn cười vô cùng” vì không phải “con lắc giữ nguyên mặt phẳng dao động của nó?” như ông nghĩ mà mặt phẳng dao động của con lắc xoay tròn vì bị tác động bởi chuyển động quay của Trái Đất!
***
Thấy quá giờ hẹn, tôi gọi cho ông TS Thành bảo cơm canh nguội cả rồi, ông đến nhà tôi luôn đi rồi đi đâu thì đi.
Ông TS đến, vài câu xã giao xong tôi mời vào bàn luôn. Tôi nói ra cái điều tôi hay nghĩ đến:
-Khoa học đã khó các ông bác học nhiều khi lại cố trình bầy cho nó khó hơn. Như trong thí nghiệm hai khe, khi bắn từng điện tử một vẫn tạo sự giao thoa, theo tôi khi điện tử chuyển động sẽ tạo ra từ trường (dòng điện sinh từ trường mà), chính từ trường đó làm các điện tử chuyển động qua hai khe như sóng nên đã giao thoa. Vậy mà ông thì cho giao thoa do “sóng xác xuất” nhưng cái gì tạo ra xác xuất? Còn Phương pháp “lấy tổng theo mọi quỹ đạo” của Feynman, thực nghiệm đã xác nhận, nhưng diễn giải như ông Brian Greene trong cuốn Giai điệu dây và bản giao hưởng vũ trụ, mỗi electron “Có thể nó tiến tới khe bên trái, rồi đột ngột thay đổi hướng đi qua khe bên phải. Nó cũng có thể đi lui nhiều lần rồi cuối cùng mới đi qua khe bên trái. Có thể nó đi theo một hành trình dài tới tận thiên hà Andromeda trước khi trở về đi qua khe bên trái để tới màn huỳnh quang” theo tôi là cũng rắc rối hóa vấn đề.
Tôi định nói thêm nhiều nữa nhưng ăn uống ồn ào, rồi còn người này người kia thấy không hợp nên thôi.
Thế đấy, với một người “hâm” như tôi, nhiều khi mong gặp bạn bè chỉ để chia sẻ những điều như thế thôi, những điều rất ít người quan tâm, nhưng quả thật, với đa số, có muốn quan tâm cũng không được.
30-6-2015

ĐÔNG LA

Thứ Hai, ngày 29 tháng 6 năm 2015

BÁO VĂN NGHỆ TPHCM SỐ 359: MẶT NẠ NGUYÊN NGỌC

Báo Văn nghệ TPHCM số 359 đăng bài Mặt nạ Nguyên Ngọc của tôi. Trong các ý mà tôi phê phán, Nguyên Ngọc viết: “Còn chúng ta, hậu chiến cho ta nghĩ gì? Nếu vì một hậu chiến như thế này hôm nay, thì có đáng cho những hy sinh khủng khiếp như đã qua? Ta cũng phải từ hậu chiến mà nhìn lại chiến tranh”. Có lẽ điều này Nguyên Ngọc nói riêng đối với chính bản thần mình, chiến đấu để mong có chức này chức kia, giờ sai trái bị thất sủng mất hết thì sự hy sinh trong kháng chiến đúng là vô nghĩa.
Còn nói chung, chúng ta đã chiến đấu vì một nền độc lập và cuộc sống thanh bình, đó là điều lớn lao nhất và chúng ta đã đạt được, dù còn nhiều bài toán cần phải giải cho sự phát triển và sự ổn định của đất nước.
Khi đăng báo thường có biên tập, cắt gọt, tôi xin đăng lại nguyên văn bản thảo của tôi.
29-6-2015
ĐÔNG LA
ĐÔNG LA
MẶT NẠ NGUYÊN NGỌC
Phiên chất vấn và trả lời của Kỳ họp thứ chín QUỐC HỘI KHOÁ XIII vừa kết thúc vào ngày 13 tháng 6 năm 2015, cũng như mọi lần, dư luận đánh giá kỳ này tốt hơn kỳ trước. Nhưng quan trọng ở chỗ là thực tế sau này có diễn ra tốt hơn tương ứng hay không mới là quan trọng. Có nhiều câu hỏi và trả lời rất hay nhưng không hay ở chỗ là chúng đã lặp lại không chỉ một lần.

Bài này tôi chỉ nêu ra một sự băn khoăn là trên diễn đàn quốc hội chúng ta chỉ quan tâm đến chuyện cơm áo gạo tiền và an ninh lãnh thổ là chính còn vấn đề chính trị tư tưởng được thể hiện trong văn hóa nghệ thuật và đăng tải trên báo chí thì gần như không được quan tâm. Những vụ án kinh tế liên quan đến quan chức cao cấp như ông cựu Bộ trưởng Trần Xuân Giá, ông Dương Chí Dũng, v.v… thì rất được quan tâm, còn những sai trái có hệ thống, liên tục của những người như Nguyên Ngọc, Huệ Chi, Chu Hảo, Quang A, v.v... thì đã không được quan tâm trên diễn đàn quốc hội mà thực tế còn được dung túng. Như mới đây nhất TuanVietNam, 13/06/2015 01:00 GMT+7, thuộc VietNam.Net, lại đăng bài của Nguyên Ngọc: 'Chúng tôi đã được gỡ mặt nạ' có những điều sai trái. Trước đó VietNamNet cũng luôn là “đất dụng võ” của Nguyên Ngọc và những người tung hô Nguyên Ngọc. 
Lạ lùng ở chỗ gần đây Báo Văn nghệ TPHCM, số 353, 14-5, có đăng bài phê phán Nguyên Ngọc của Nhà Phê bình Nguyễn Văn Lưu, trước đó, số đặc biệt ngày 30-4-2015, báo cũng đăng bài của BS Nhà Văn Nguyễn Văn Thịnh phê phán Nguyên Ngọc, và trước nữa, báo cũng đăng nhiều bài của tôi phê phán những sai lầm một cách toàn diện của Nguyên Ngọc, từ tri thức, quan điểm lịch sử, văn chương đến chính trị tư tưởng. Tôi từng được nghe các lãnh đạo Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT Trung ương, thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, khen ngợi báo Văn Nghệ TPHCM ngay trên diễn đàn của một hội nghị; nhiều độc giả là cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp, và chiến sĩ thuộc ngành công an thường gọi điện thoại nói rất thích thú đọc những bài tôi viết về Nguyên Ngọc; đồng thời bên quân đội cũng có không ít độc giả như vậy. Để nói có sách mách có chứng, xin dẫn chứng một nhà báo quân đội, bạn facebook, từng chat với tôi, tôi xin tạm xóa các danh tính vì chưa xin phép họ, nếu Nguyên Ngọc kiện tôi bịa, tôi sẽ trưng ra, như thế này đây:

Như vậy, tại sao lại có tình trạng “ông chẳng bà chuộc” như vậy? Phải chăng nước ta đang đa Đảng? Bộ Thông tin và Truyền thông của ông Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đang cai quản cái “thằng” VietNamNet thuộc một Đảng và các ông Đinh Thế Huynh, trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, ông Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang và ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh lại thuộc một Đảng khác? Hay tất cả các vị cho chuyện chống phá của những người như Nguyên Ngọc là không quan trọng? Có điều những vụ án kinh tế có thể làm thiệt hại một phần của cải nhưng không thể làm sụp đổ nhà nước được, mà thực tế đã chứng minh, chính sự chống phá về tư tưởng mới là cái làm được điều đó. Liên Xô trước đây và Ucraina mới đây là những ví dụ cụ thể và sống động nhất!
***
Nguyên Ngọc đúng là trước sau như một, tiếp nối cái mạch quan điểm khi ca ngợi bằng được cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” cho chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc chỉ là “Nỗi buồn”; trong bài viết về Phạm Xuân Ẩn cũng trên VietNam.net, Nguyên Ngọc cho chúng ta trong chiến tranh đã nhìn sai về sự xâm lược, cho sự căm thù giặc là “không bình thường”; rồi cho dạy lịch sử không nên “bồi đắp chủ nghĩa yêu nước” nữa vì bị chính trị hóa! Không nên ca ngợi các Bà mẹ Việt Nam anh hùng quá vì sẽ đau lòng các bà mẹ lính VNCH; bài 'Chúng tôi đã được gỡ mặt nạ' là “Cuộc trò chuyện của chúng tôi với hai - kẻ - cựu - thù - hai - người - bạn - hai  -  nhà - văn - hoá”, Nguyên Ngọc và Thomas Vallely, trên TuanVietNam vào ngày 13/06/2015 nói trên, Nguyên Ngọc lại viết:
Trong cuốn sách rất hay “Nếu đi hết biển” của mình, đạo diễn Trần Văn Thủy có dẫn lời một nhà văn cựu chiến binh Mỹ, Wayne Karlin, nói rằng chiến tranh đắp lên khuôn mặt của người ở bên kia chiến tuyến một chiếc mặt nạ, chiếc mặt nạ hì hợm của kẻ thù. Để cho ta khinh bỉ, căm thù và tiêu diệt. Nhiệm vụ của văn học hôm nay là gỡ chiếc mặt nạ ấy ra, trả lại khuôn mặt người cho con người, để ta nhận ra khuôn mặt nguời của nhau”.
Mặt nạ là cái không thật nhưng nước ta bị xâm lược là sự thật, dân ta thịt xương tan nát, nhà cửa ruộng vườn tan hoang là sự thật,  những người gây ra những điều đau khổ đó cho chúng ta là người thật chứ không phải là những người đeo mặt nạ trong các trò chơi. Vì thế dân ta coi họ là kẻ thù cần phải tiêu diệt để bảo vệ người và nhà của mình là lẽ tự nhiên.
Tất nhiên về phía Mỹ, có nhiều người như Thomas Vallely với tâm sự: “Tôi phục vụ 13 tháng tại Việt Nam trong khoảng thời gian giữa 1969 và 1970… tôi - một thanh niên 19 tuổi - bước vào cuộc chiến mà hầu như không hiểu tí nào về hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản hay các giả định chiến lược có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh… Giống như nhiểu thanh niên trai trẻ thế hệ mình, tôi lớn lên với sự quyến rũ của dư âm Thế chiến II, cuộc chiến mà người Mỹ từ trước đến giờ luôn xem là “Cuộc chiến chính nghĩa” được tiến hành vì mục đích cao cả. Nhưng khi là một người lính thủy quân lục chiến đặt chân tới Quảng Nam, tôi thấy ngay rằng vai trò của Mỹ ở Việt Nam khác hoàn toàn. 
Khi tới Việt Nam … Trên thực tế, có thể nói là tôi đã học được hai điều. Thứ nhất, tôi  hiểu rằng Hoa Kỳ không thể thắng trong cuộc chiến này. Chiến thắng là điều không thể khi mà hỏa lực Mỹ giết hại quá nhiều dân thường vô tội”.
Như vậy chính nền văn học Mỹ cần lột mặt lạ cho những người lính tham chiến tại Việt Nam bị đeo vào còn chưa giác ngộ được như Thomas Vallely thôi. Còn dân Việt Nam chiến đấu giành lại nền độc lập là chính danh, chính nghĩa, đâu phải là chuyện ném đá giấu tay mà cần phải đeo mặt nạ! Riêng Nguyên Ngọc thì rất cần phải lột ngay cái mặt nạ cơ hội và tráo trở đấy!

Nguyên Ngọc viết:
Vậy đó, giá trị của hòa bình. Trả lại những gì giản dị nhất của đời thường. Thật buồn và đau đớn, phải đổ biết bao nhiêu máu xương để có lại được điều giản dị này… Có lẽ nhân đây cũng xin nói luôn: Tôi muốn gọi ngày 30/4 giản dị thế này: Ngày Hòa bình. Không gì vĩ đại hơn đâu”. 
Nguyên Ngọc cần tỉnh táo và thôi lảm nhảm đi vì trước khi Pháp mang súng ống đến nước ta, nước ta đã có hòa bình; sau đó nếu Mỹ không can thiệp, nước ta tổng tuyển cử theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, chúng ta cũng đã có hòa bình. Tại sao Nguyên Ngọc lại rên rỉ sám hối làm như nước ta gây chiến vậy?
Chưa hết, khi chính Thomas Vallely chân thành tâm sự: “tôi - một thanh niên 19 tuổi - bước vào cuộc chiến mà hầu như không hiểu tí nào về hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản hay các giả định chiến lược có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh… cuộc chiến mà người Mỹ từ trước đến giờ luôn xem là “Cuộc chiến chính nghĩa” được tiến hành vì mục đích cao cả. Nhưng khi là một người lính thủy quân lục chiến đặt chân tới Quảng Nam, tôi thấy ngay rằng vai trò của Mỹ ở Việt Nam khác hoàn toàn… Chiến thắng là điều không thể khi mà hỏa lực Mỹ giết hại quá nhiều dân thường vô tội” thì Nguyên Ngọc lại cố biện hộ như thế này:
Tôi nghĩ, từ hậu chiến nhìn lại, chắc nhiều người Mỹ hiểu ra rằng chỉ đơn giản ra đi vì “nghĩa vụ công dân” như họ đã đơn giản ra đi”.
Còn phía ta, thái độ Nguyên Ngọc lại ngược lại:
Còn chúng ta, hậu chiến cho ta nghĩ gì? Nếu vì một hậu chiến như thế này hôm nay, thì có đáng cho những hy sinh khủng khiếp như đã qua? Ta cũng phải từ hậu chiến mà nhìn lại chiến tranh”.
Đây là một sự phóng đại và xuyên tạc. Nước ta quả còn nhiều tệ nạn, yếu kém và còn nhiều kẻ tôi cao, trí thấp, hoang tưởng, quấy rối như Nguyên Ngọc, nhưng cuộc sống hôm nay so với năm 1945 2 triệu người chết đói, 1975 tan hoang sau 20 năm bom đạn và chết chóc, thì đã là thiên đường rồi! Đừng vì sai lầm bị thất sủng "mất hết" mà cho mọi người cũng nghĩ như mình!
***
Với cái đầu đề 'Chúng tôi đã được gỡ mặt nạ', thật nực cười khi Nguyên Ngọc lại tự đồng hóa mình với người lính Mỹ, một biểu hiện của một cái đầu ngu xuẩn hay là một kẻ thất bại, cay cú, cố chấp, nói lấy được, biện minh cho tính cơ hội, tráo trở?
14-6-2015
ĐÔNG LA



Chủ Nhật, ngày 28 tháng 6 năm 2015

THƯ GỞI CON TRAI

Hôm nay nhà tôi có việc, tôi viết mấy chữ cho thằng con, thấy nếu bỏ đi mấy điều riêng tư còn mấy cái ý chung có thể chia sẻ được với mọi người về đời, về đạo và cả về cô Vũ Thị Hòa. Có thể còn có người nghĩ tôi viết về tâm linh, về cô Hòa vì mục đích gì đó, qua thư này sẽ biết tôi viết hoàn toàn là khách quan và thực tình, vì thư viết cho con không thể nói sai và không người cha nào muốn con mình sai đường, lạc lối.
Cũng xin giới thiệu chút về thằng con, nó cũng có suy nghĩ độc lập giống tôi, không phải thần đồng nhưng từng dư điểm đậu vào ngành CNTT Đại học Bách khoa TPHCM, giờ đã tốt nghiệp đại học tại một nước tiên tiến hàng đầu, nên tôi mà nói sai nó cũng không nghe.
28-6-2015
ĐÔNG LA
28-6-2015
Huy con!


Hôm nay, 13-5 âm lịch, là ngày giỗ ông nội con. Bữa trước mẹ con nói sắp tới chuyện về của con để xây mộ cho bà nội lại tùy theo công việc của con bên ấy. Ba đã gọi điện hỏi cô Hòa, cô bảo sớm muộn không quan trọng, con về mới là quan trọng, bác Đảo, ba và chú Mạnh đã lớn tuổi, con là người nối dõi, cuộc đời con mới là quan trọng nên những việc phúc đức phải để cho con làm. Vì vậy, con cứ lo cho công việc, yên ổn rồi thì sẽ về.
Các con còn trẻ, dù giỏi đến mấy nhưng có những việc không trải qua thì không ai biết được. Nhất là về thế giới tâm linh. Bản thân ba đầu óc khác người cũng vẫn phải như vậy. Từ một người chỉ tin vào khoa học tự nhiên ba đã phải thay đổi nhận thức rất nhiều khi nghiên cứu những hiện tượng tâm linh và nhất là đến khi được gặp và thân thiết với cô Hòa, xem và nghe người ta ghi hình và kể về những việc làm của cô, rồi ba trực tiếp chứng kiến luôn, trong đó có việc cô ấy chữa bệnh cho mẹ con và cái chuyện cô ấy ở tận ngoài Bắc mà lại nhìn thấy những việc ba làm tận trong Nam. Hôm qua, có ông Tiến sĩ Bác sĩ Lương Chí Thành làm việc trên Bộ Y tế, đi công tác ghé nhà mình chơi. Ông ấy là độc giả của ba, cũng quý ba nên đã làm quen trên facebook luongthanh.vinimi?, qua ba cũng đã được gặp và cũng rất bái phục cô Hòa. Ông ấy hỏi bệnh mẹ con và thấy mẹ con vẫn đi lại bình thường, bảo từng làm ở viện Lão khoa Trung Ương, mẹ con bị bệnh vậy mà vẫn được như vậy thì quá lạ lùng.
          Số phận đã xếp đặt thế nào đó để ba bảo vệ cô Hòa bởi những kẻ nhân danh công quyền muốn hãm hại cô ấy, vu khống tội cho cô ấy để che chắn tội lỗi của chính mình và trục lợi. Một việc rất khó nhưng ba đã làm được. Đến giờ thì đến cả bộ trưởng cũng có ông đã phải hỏi ý kiến cô ấy, mấy ông "cốp" cũng mời cô ấy lên gặp. Bây giờ những người ở bên cô nhiều, chứng kiến nhiều việc cô làm đều coi cô là Phật Bà, là Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện. Ba nghiên cứu về Đạo Phật cũng thấy đúng như vậy. Không chỉ có khả năng thần thánh nhìn xuyên không gian, thời gian, cô không đi học ngày nào nhưng lại viết kinh giảng đạo, viết cả chữ nho, bàn về Phật, về Lão, v.v… đến ba đây đọc cũng muốn vỡ cả cái đầu luôn!
          Ba nói không phải để con mê tín mà muốn con hiểu hơn về cuộc sống con người. Con người không phải chết là hết hoặc chết đi ai cũng như ai mà có luật nhân quả, cả đạo Thiên Chúa và đạo Phật đều nói đến. Tất cả những cái xấu từ hành động, ý nghĩ đến lời nói mà người ta từng làm đều sẽ bị quả báo, có thể ngay trong hiện kiếp hoặc ở kiếp sau. Cha ông ngàn đời xưa đã truyền lại là “sống gửi thác về”, nghĩa là sống chỉ là tạm, chết mới là trở về nguồn. Người làm điều ác và nhiều việc xấu khi chết sẽ bị đày đọa khổ sở ngàn ngàn kiếp. Vì vậy sống ai cũng muốn thành đạt sung sướng nhưng nếu hiểu điều đó thì không phải cứ giàu có sung sướng là tốt, nhất là lại tranh đoạt để được giàu có bằng những thủ đoạn xấu. Bề ngoài thấy có người rất sung sướng nhưng thực chất không ai được tất cả đâu. Có người may cái này lại không may cái khác, hoặc được cái này mất cái khác. Như con thấy mấy gia đình mà nhà mình rất biết đấy, người may mắn kiếm tiền thì khi có tiền vợ lại mất; người may mắn có quyền chức nhưng rồi con gái chết, rồi tháng sau vợ cũng chết luôn. Ông Vinh ở khu tập thể nhà mình đó, bọn ba thì tan tác còn ông ấy may mắn nhất, lên viện phó, có tiền xây nhà xong thì bị chết, đứa con gái tháng sau cũng chết theo luôn, v.v… Ngược lại có người vào đời không may nhưng rồi về sau họ lại sướng hơn. Vì vậy không ai muốn rắc rối nhưng không phải cứ gặp rắc rối là hỏng hết, nên sắp tới và sau này, nếu con có gặp rắc rối cũng coi là chuyện bình thường trong cuộc đời, cần phải có tâm lý vững vàng, biết vượt qua rắc rối, kể cả biết chấp nhận thất bại. Hạnh phúc là do cái tâm mình yên ổn, chứ hạnh phúc không phải chỉ là đạt được cái này cái kia, nếu như vậy thì suốt đời người ta sẽ bị nô lệ vào cái lòng tham để đạt được những cái ấy và sẽ luôn bị nó hành hạ khổ sở.
          Cuộc sống của mỗi người sướng khổ không chỉ tùy thuộc vào tài của mình mà còn phụ thuộc phúc đức của ông bà để lại, phụ thuộc cái nhân mình gieo ở kiếp trước. Bây giờ con đã trưởng thành, ba không ép con làm theo cái gì chỉ nói cho con hiểu để suy nghĩ và hành động cho đúng thôi.
          Ba

Thứ Tư, ngày 24 tháng 6 năm 2015

THAM LUẬN CỦA ĐÔNG LA: SÂU LẮNG VÀ MỀM MẠI NHỮNG TRANG THƠ CỦA NỮ THI NHÂN VIỆT NAM

Sáng nay, 24-6-2015, tôi đi tham dự cuộc hội thảo về tác phẩm của các nhà văn nữ VN do Ban Nhà văn Nữ của Hội Nhà Văn VN tổ chức. Hôm chị Trần Thị Thắng gọi quả thật tôi ngại quá, nói với vợ:
-Mẹ kiếp, cái lúc còn hăng máu muốn chứng tỏ thì không ai mời, giờ chẳng cần gì thì hết nơi này mời nơi kia mời, xem chừng "cái thời của tôi" nó đến rồi chăng?
Tôi đi lấy hai cuốn sách. Tôi vốn chỉ viết theo cảm hứng, không viết theo đơn đặt hàng, rất may thơ của các chị làm cho tôi có cảm hứng viết được. Cuộc hội thảo được tổ chức tại 81 Trần Quốc Thảo. Nơi đây trước kia có một biệt thự kiểu Pháp với khuôn viên rất rộng, phía góc phải dưới tán cây cổ thụ um tùm, một cái quán rộng được mở. Các văn nghệ sĩ của TPHCM thường tập trung tại đây; còn tôi cả thời thanh xuân cũng la cà tại đây mà người đối ẩm với tôi chính là anh Hoài Anh. Anh Hoài Anh vốn làm ở Báo Văn nghệ TPHCM nên tôi đã mang thư cô Anh Thơ giới thiệu tôi đến đưa cho anh bài thơ đầu tiên. Khi bài được đăng tôi đến lấy nhuận bút, người ta bảo anh Hoài Anh cần gặp tôi, một tình bạn vong niên mấy chục năm với anh bắt đầu từ đấy. Giờ anh đã mất, khung cảnh xưa cũng không còn, một khu nhà hiện đại được xây dựng làm trụ sở các hội văn nghệ; mỗi lần đến lĩnh nhuận bút tại báo Văn nghệ cũng đóng tại đây, tôi luôn nhớ đến anh Hoài Anh.
Cuộc hội thảo làm nhờ tại phòng họp của Hội Nhà Văn TPHCM đóng ở tầng 4. Tôi đến thấy các chị đang tíu tít chụp ảnh, nghe thấy tiếng ai đó “Đông La đệ tử Chế Lan Viên đấy”.  Trong giới văn chương , uy tín của Chế Lan Viên được coi như một giáo chủ, ông chết từ năm 1989, giờ đã có con đường mang tên ông, số phận đã ưu ái cho tôi được thân thiết với ông giai đoạn cuối đến tận giây phút cuối cùng của đời ông. Chính anh Hoài Anh hiểu rõ mối quan hệ này nên từng viết tôi chính là người được Chế Lan Viên “giao lại bí quyết tâm truyền”. Tiếng ai đó gọi tôi vào chụp ảnh “Vào chụp luôn đi Đông La”. Tôi ngần ngừ thì ai đó đưa máy bảo tôi bấm hộ.
            Cuộc hội thảo nhỏ gọn, thân tình, ấm áp (là do thời tiết nóng, khu nhà hiện đại thế mà phòng họp không lắp máy lạnh). Chủ trì là Ban Nhà Văn Nữ do Nhà Văn Trần Thị Trường là trưởng ban, cái bà hay xuất hiện trên truyền hình, ở Giai điệu tự hào và các cuộc trò truyện, và Nhà Thơ Trần Thị Thắng:
 
(Chị Trần Thị Trường cầm sách, bên phải là chị Trần Thị Thắng)
Giới thiệu khách khứa có Nhà Phê bình Lê Quang Trang (chồng chị Trần Thị Thắng) là Phó Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, có ông tân Chủ tịch Hội Nhà Văn TPHCM Trần Văn Tuấn, mấy nhà văn lão thành. Tôi tranh thủ nhẩm bài tránh đọc bị vấp:
            Vào cuộc, tôi bất ngờ khi nghe Nhà văn Trần Thị Trường nói:
            -Xin mời Nhà Phê bình Đông La đọc tham luận.
            -Tôi á? Tôi đầu tiên á?
            -Đúng vậy!
            Tôi đứng dậy:
            -Vậy thì tôi xin đọc. Trước hết tôi xin cảm ơn chị Trần Thị Thắng, nếu chị không mời thì tôi không được có mặt tai đây. Nhưng thú thực lúc đầu tôi ngại lắm. Nhưng rồi đọc thơ các chị hay quá nên tôi lại rất muốn đến.
            Tôi vốn không quảng giao, môi mép kém, hình như do ý nghĩ tôi nó nằm tận đáy óc, không như nhiều người ý nghĩ họ nằm ngay miệng lưỡi nên họ nói tía lia được, nhưng lúc cần tôi cũng biết nịnh đầm. Hình như ai cũng thích nghe những lời hay hơn lời dở, mà như các cụ nói “mắt con trai tai con gái”, nên tôi thấy cần phải làm các chị êm tai một câu như thế!
            Rồi tôi đọc tham luận, sau đó mấy người cũng đọc, có người thì “nói vo”. Tôi thấy nữ thi sĩ Đặng Nguyệt Anh sang chỗ tôi nói: “Mấy chục năm ở đây mà hôm nay mới gặp em. Không ngờ em lại đồng cảm với bài thơ của chị như vậy”. Rồi chính chị cũng đọc tham luận.
           Chị nói có ý làm mọi người cười vui là người phụ nữ lúc nào cũng đẹp, lúc bị chồng hành hạ cũng đẹp, kể cả phụ nữ ngoại tình cũng đẹp. Chị nói về Nhà thơ Nguyễn Thị Mai năm 1990 từng chở hai con nhỏ sau xe và bộ đồ cắt tóc đi cắt tóc dạo kiếm sống. Tôi nghe mà rất bái phục và đi hỏi thì không ngờ cái bà hình như là đẹp nhất cái cuộc hội thảo này lại chính là Nguyễn Thị Mai. Ngồi cách tôi mấy người là Nhà thơ nổi tiếng Phan Thị Thanh Nhàn. Thấy ghế trống tôi sang bên chị nói: “Em gặp chị đã 30 năm nên chị không nhớ đâu”/ “Đúng là chị lớn tuổi rồi không nhớ. Cảm ơn em có nhắc tới chị”/ “Em gặp chị ở nhà cô Anh Thơ đấy”.
Đến trưa, công việc xong, mọi người “liên hoan”, có bia bọt đàng hoàng.
Một nữ thi sĩ tôi không quen đối diện tôi khi ăn nói: “Bài của anh giá trị lắm, em mượn của các chị photo được một bản đây này”. Tôi hỏi thì được biết là Trúc Thuyên, một cô giáo dạy văn. Nhà Văn Trần Thị Trường cũng đến tận chỗ tôi nói: “Cảm ơn nhà phê bình đã rất nhiệt tình với chị em chúng tôi nhé”. Nhà thơ Trần Thị Thắng: “Cảm ơn em nhé. Sau này có việc chị lại nhờ em nhé”. Rồi đi loanh quanh tôi gặp Nguyễn Thị Mai: “Tôi bái phục cái chuyện bà cắt tóc đấy. Bà biết không hình như bà đẹp nhất ở đây đấy”/ “Tôi cũng hay đọc anh viết đấy. Rất thích lý lẽ anh chặt chẽ, thái độ anh rõ ràng”/ “Bà đọc ở đâu?”/ “Trên mạng thiếu gì!” Trong cuộc hội thảo cũng có nhà thơ Vương Trọng. Anh chính là người biên tập và cho đăng bài thơ Tổ quốc-nửa bàn chân dính bùn và máu của tôi trên TC Văn nghệ Quân đội và được tặng thưởng của tạp chí năm 1998, có lần vào TPHCM anh đã tìm gặp tôi, hôm nay anh em gặp lại nhau cũng rất mừng rỡ.
Còn sau đây là nguyên văn bài tôi tham luận:
 ĐÔNG LA
SÂU LẮNG VÀ MỀM MẠI NHỮNG TRANG THƠ
CỦA NỮ THI NHÂN VIỆT NAM

Cầm trên tay hai cuốn sách nặng trĩu “Phái đẹp cuộc đời và cây bút” in tuyển tập thơ, văn của các nhà văn nữ Việt Nam, vì thời gian chỉ có mấy ngày, nên tôi thấy chỉ có thể viết được về phần thơ thôi. Đơn giản là vì thơ ít chữ nhưng lại khó viết, nhất lại là thơ của phái nữ, với thiên tính nhạy cảm, ý nhị và tinh tế…
Vốn là một cán bộ ở một viện nghiên cứu số phận đưa đẩy tôi đến với văn chương, như mắc thói quen nghề nghiệp, tôi đã đến với văn chương không chỉ bằng cảm tính mà bằng cả lý tính, nên về thơ tôi đã luôn đặt câu hỏi “Thế nào là thơ hay?”. Tôi đã tìm câu trả lời từ Chế Lan Viên. Một nhà thơ tài năng hàng đầu và thông thái như Chế Lan Viên, câu thơ như thế nào ông sẽ cho là hay? Trong bài “Nói chuyện thơ đầu xuân” trong cuốn tiểu luận của ông Nghĩ cạnh dòng thơ (Nxb. Văn Học, 1981), Chế Lan Viên đã chọn hai câu của Xuân Diệu: “Ngày hóa bếp hồng em chụm thổi/ Đêm thành lụa tuyết để em thêu” để khen là “văn chương tuyệt vời đẹp đẽ”. Đúng là cách dùng ngôn ngữ hình ảnh tuyệt vời, chỉ một nhà thơ giàu trí tưởng tượng cỡ Xuân Diệu mới có thể viết ra được như thế. Nhưng Chế Lan Viên cũng thích những câu thơ rất thực, không có một chút tưởng tượng nào cả, tôi không nhớ ông nói trực tiếp với tôi hay viết trong một cuốn sách nào đó hai câu: “Tay trồng cây cửu lý hương/ Ba năm hai lá người thương gội đầu”. Như vậy hai câu này hay ở cái ý chứ không phải ở ngôn ngữ. Chàng trai phải yêu cô gái đến như thế nào mới kỳ công bỏ ra cả 3 năm trồng cây để lấy được chỉ có hai cái lá thôi cho người yêu. Còn với ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên, tôi từng nói thẳng với ông: “Cháu rất thích cái câu này của chú: “Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi”; lấy cánh cò thực đắp đã là lạ rồi còn cánh cò trong câu thơ của chú lại ở tận trong lời ru cơ”. Ông có vẻ khoái chí nói với tôi: “Con Thắm, con Thắm đó”, ý là ông viết về Thắm, cô con gái của ông.
Từ vốn liếng ban đầu đó, đến nay tôi viết cả đã in và chưa in đến vài ngàn trang phê bình rồi, vậy mà hôm nay vẫn cảm thấy bối rối trước những trang thơ của những nữ thi nhân Việt Nam. Biết là thơ chọn bài nào cũng có cái hay nhưng viết phê bình không ai có thể viết hết ra được, nên tôi chỉ có thể viết đôi dòng cảm nhận về những bài thơ, những câu thơ gây cho tôi ấn tượng nhất mà thôi. Để khách quan tôi sẽ bắt chước vòng giấu mặt của cuộc thi hát trên truyền hình, đọc thơ trước rồi mới xem tên tác giả sau.
Nhà thơ Bùi Kim Anh, tác giả đầu tiên của cuốn sách, có bài lục bát “Gánh buồn đem bán chợ vui”. Bài thơ có phong vị ca dao, có chút kịch tính, chị viết về nỗi buồn nhưng lại có nét vui, hóm hỉnh, hài hước. Hai câu kết:
Gánh buồn đem bán chợ vui
Những tưởng ế lại lời ơi là lời
Đọc thật thú vị, nhà thơ thật tinh tế khi chỉ ra trong chuyện tình cảm có những điều phi lý mà có lý. Nỗi buồn của con người, nếu có sự đồng cảm, sẻ chia của người thân, của bạn bè, nó sẽ được hóa giải. Nhà thơ dễ dàng “bán” đi được nỗi buồn của mình và cái “lời ơi là lời” chính là sự vui lây niềm vui của mọi người, nhận được tình cảm của mọi người.
Một nhà phê bình để thẩm định toàn diện và khách quan một bài thơ người ta phải vượt lên trên cảm tính cá nhân, phải thẩm định bằng cả nền tảng tri thức và cái khó hơn là sự trải nghiệm. Nữ thi sĩ Đặng Nguyệt Anh có bài “Rừng Miền Đông và con gái tôi”. Với những người chưa từng trải qua những năm tháng gian khổ và ác liệt trong chiến trường thật khó mà đồng cảm được một cách sâu sắc với tác giả. Tên bài thơ xem chừng chả có thơ mộng gì hết, nhưng tôi với tư cách một người cũng có một năm ở chiến trường thì thật xúc động khi đọc bài thơ. Ngày nay, nhất là ở các đô thị, các bà mẹ trẻ sinh nở được chăm sóc “đến tận răng”, nhưng với Đặng Nguyệt Anh thì:
          Rừng Miền Đông
          Là nơi chôn nhau cắt rốn của con
Dù vậy không thiếu niềm vui và sự rạng rỡ chào đón một sinh linh mới chào đời:
          Chọn một bình minh mùa hạ
          Con ra đời
          Sáng nay tiếng chim rừng ríu rít
          Nắng chan hòa mặt đất
          Trời xanh hơn mọi ngày
          Bố con mừng cuống quit
          Mọi người trong cứ đều vui
Nhưng:
          Lần đầu tiên làm mẹ
          Nâng niu con trên tay
          Hạnh phúc tràn nước mắt
          Mẹ lo ngày mai sao đây?
Người mẹ trẻ làm sao không lo cho được khi “Con thì bé bỏng quá chừng!/ nhà lại không phên, không vách/ xung quanh con rất nhiều thế lực”.
Chữ “thế lực” đọc thấy vui mà thật hay, bởi với người mẹ trẻ thì tất cả những gì có thể gây hại cho con, dù to, dù nhỏ, đều là “thế lực” như kẻ thù cả:
          Mẹ sợ con rắn độc
          Mẹ lo con kiến bọ nhọt
          Con rết rừng to hơn ngón chân
          Con bò cạp sao mà ác thế
Lũ ve, lũ vắt, muỗi rừng…
Đêm nay
Trời không trăng không sao
Biết đâu lũ biệt kích
Biết đâu giặc lại đi càn
Mẹ sợ cơn mưa rừng
Mẹ thương con đang sốt
Tắc kè bò trên mái trung quân làm mẹ hoảng hốt
Con sóc rung cây mẹ cũng giật mình
          Đọc những câu thơ mà muốn khóc lên được. Bài thơ Đặng Nguyệt Anh làm 5/1974 nghĩa là tôi cũng có mặt nơi chị sinh con được 5 tháng, có thể rất gần nữa vì tôi ở Ban Quân huấn, thuộc Quân khu bộ, Quân khu Miền Đông. Bài thơ thực tế chỉ như những trang nhật ký riêng tư nhưng nó lại mang tính biểu tượng nhân văn lớn lao. Thì ra chúng ta đã kiên trì chiến đấu không chỉ bằng gian khổ mà bằng cả tình yêu, trong ác liệt không chỉ có chết chóc mà sự sống vẫn sinh sôi.
          Nữ thi sĩ Võ Thị Kim Liên có bài thơ “Trái tim người mẹ” có kết cấu và tình tiết như một truyện ngắn. Bài thơ kể về câu chuyện có một người mẹ có con trai là liệt sĩ:
                   Ngày anh đi tuổi vừa tròn mười tám
                   Mũ tai bèo vời vợi vành trăng
                   Bảy mươi tuổi mắt mờ chân chậm
                   Khóc chồng con tận đáy đắng cay
Giờ đây mẹ rất mừng khi nhận lại hài cốt của đứa con tưởng đã thất lạc nhưng:
          Chợt mẹ thốt lên run rẩy:
          -Sao lại mười ngón tay?
Bởi:
          Thằng Út chặt dừa mất ngón cái
          Bây giờ mẹ vẫn còn đau!
          Nghĩa là người mẹ nhận được bộ hài cốt không phải của con mình.
Tưởng được gặp lại con hóa ra lại không phải, giống như mẹ lại mất con một lần nữa, nỗi đau lại nhân đôi. Nhưng rồi lòng vị tha, lòng nhân từ, tình người đã hóa giải tất cả:
                   Nắng sông Tiền buổi ấy xiêu xiêu
                   Phù sa đỏ đôi bờ mịn mát
                   Nén hương thơm và hoa trái ngọt
                   Cho đứa con không tên thành Út quê nhà!
Và rồi nữ thi sĩ đã nhận ra tấm lòng bao la của một người mẹ, một người mẹ cụ thể nhưng cũng mang dáng vóc của một người mẹ Việt Nam, những Bà mẹ Việt Nam anh hùng:
                   Tôi sững lặng trước trái tim người mẹ
                   -Thằng Út nào cũng máu thịt sinh ra!
          Có một bài thơ tên là “Nhẫn cỏ”:
Ngón gầy nhẫn cỏ tôi mang
Ấm như có ngón tay chàng chạm tay
          Trong muôn vàn sắc thái của tình cảm, có loại tình cảm chỉ biết cho đi mà không cần phải nhận về, lấy hạnh phúc của người mình yêu làm hạnh phúc của mình:
Đã từng yêu rất thiết tha
Vẫn chưa ai khiến lệ sa nghẹn ngào
Dẫu chàng biệt tích nơi nao
Dẫu chàng êm ấm ngọt ngào vợ con…
Đây là tình cảm vị tha chứ không phải vị ngã, ngược với tình yêu ích kỷ. Đây cũng chính là phẩm chất của con người mà Đạo Phật răn dậy người ta tu sửa, cần phải bỏ đi cái chấp ngã mà hướng đến. Nếu đạt được cái tâm thế ấy, người ta sẽ trở thành giầu có nhất trên đời bởi họ coi sự giầu có của thiên hạ là của mình; họ sẽ hạnh phúc nhất vì họ coi hạnh phúc của thiên hạ là của mình. Khi ấy, chiếc nhẫn cỏ cũng hóa thành nhẫn kim cương. Nhưng ai mà lại làm được bài thơ “đẳng cấp” như vậy? Tôi tra tên thì hóa ra của nữ thi sĩ lừng danh Phan Thị Thanh Nhàn. Tôi hơi bị dị ứng với những người quá nổi tiếng vì người ta được nói đến quá nhiều, nên họ không còn gì để mà khám phá nữa. Nhưng với Phan Thị Thanh Nhàn tôi đã lầm. Hai câu thơ như nỗi khao khát của một nửa nhân loại đối với lũ đàn ông hư đốn, một điều không hay ho gì nhưng tiếc là lại là sự thật:
Ước gì yêu được một người
Để đêm không vỡ để ngày chẳng nghiêng
Ước gì cười nói vô tư
Đếm niềm vui của từng giờ bay ngang
                                              (Bài Ước gì)

            Là người ai cũng có mẹ, ai cũng lo sợ cái cảnh “Mẹ già như chuối chín cây”, tôi cũng đã phải đau khổ trải qua cái ngày mất mẹ, tôi đã viết lại toàn bộ những gì diễn ra trong đám tang mẹ tôi thành một truyện ngắn, đăng lên đã lấy được không ít nước mắt của bạn đọc, nhất là những người phụ nữ. Con trai mất mẹ đã thế, con gái hiểu mẹ hơn, đồng cảm với mẹ hơn vì cùng có sự trải nghiệm làm mẹ, chắc chắn sự đau khổ của con gái mất mẹ sẽ sâu sắc và thấm thía hơn nhiều. Nữ thi sĩ Phạm Dạ Thủy trong bài Mẹ ơi viết về nỗi đau mất mẹ:
Cho con một cuộc đời hoa
Mẹ giành phận lá úa già tháng năm
Mẹ đau bao nỗi đau thầm
Mẹ vui theo mỗi bước chân con về
Bây giờ mẹ bỏ lại quê
Mảnh vườn đầy gió bộn bề nhớ thương
Bây giờ chiều với mình con
Đơn côi với khúc sông buồn mồ côi
Mẹ về với đất với trời
Buồn vui gởi lại cho đời, mẹ ơi!
Đoàn tụ là một điều thuộc về hạnh phúc của con người nhưng con người trong cuộc sống lại luôn phải chia ly. Chế Lan Viên đã viết hai câu thơ bất tử: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Nữ thi sĩ Tôn Nữ Thu Thủy cũng có bài thơ viết về sự chia ly, chia ly với cha mẹ, với gia đình, với cố đô, thành phố quê hương. Vì tâm trạng chia ly mà chị thấy mưa đã làm “nhòa mắt” cả biển, đến núi non cũng đứng lại “ôm ghì lòng đau”:
Mưa gần ướt đẫm bàn tay
Mưa xa nhòa mắt biển ngày ra đi
Dốc đèo cao mãi chia ly
Núi non đứng lại ôm ghì lòng đau
Hạt nào rơi xuống vườn sau
Rung trong sân trước một mầu xanh xanh
Mái nhà cha mẹ thôi đành
Xa xăm ở giữa nội thành xa xăm
                                              (Bài Mưa qua Hải Vân)

          Khi có thiên hướng viết lý luận phê bình, tôi không chỉ đọc những tác phẩm của các nhà lý luận phê bình mà còn, như đã viết ở trên, tôi đọc những trang phê bình của Chế Lan Viên. Các nhà lý luận phê bình có thể rất bài bản nhưng đọc các nhà sáng tác viết phê bình, nhất là cỡ Chế Lan Viên, ta sẽ biết được cái “bí kíp” làm nghề của họ. Chế Lan Viên cho những câu thơ chân thực, tự nhiên cũng có thể hay, nhưng chúng phải là những viên ngọc kết tinh từ môi trường thấm đẫm sự sống; ngược lại có những câu thơ hay do sự sáng tạo độc đáo từ thiên tư, từ năng khiếu của nhà thơ. Những câu thơ này thường giàu hình ảnh từ trí tưởng tượng của nhà thơ. Vi Thùy Linh là nữ nhà thơ trẻ có nhiều cố gắng bứt phá ra khỏi khuôn khổ cũ. Câu thơ “Cài then tiếng khóc em bằng đôi môi anh” là một ví dụ. Có điều tôi bất ngờ trong tập thơ nữ này là không phải cứ trẻ thì mới “quậy” mà nữ thi sĩ Phi Tuyết Ba, người có thể làm mẹ Vi Thùy Linh được, cũng có bài thơ “Người đàn bà ngồi vá bóng đêm” với ngôn ngữ rất độc đáo, sáng tạo, giàu hình ảnh, thể hiện sâu sắc nhất thân phận của người phụ nữ:
Người đàn bà ngồi vá bóng đêm
Chiếc kim trên tay
Chị vá lại đời mình
Vá lại bóng đêm đã hai mươi năm
Rách từng mảnh trống
Những mũi kim cứ vụng về vá víu
Sợi chỉ trên tay rối bời
Đêm chẳng lành hơn
Chỉ có miếng vá nỗi đau này
Chồng lên miếng vá nỗi đau kia
Ngày một dày thêm
Hai mươi năm chị khâu nhẫn nại.
Bộ ngực là bảo vật mà Tạo hóa tạo cho người phụ nữ để nuôi con, đồng thời bộ ngực trinh nữ cũng là biểu tượng của sắc đẹp. Từ bao đời, các nghệ sĩ thuộc các lĩnh vực nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc cả Đông Tây, kim cổ trên thế giới đã say mê diễn tả nó mà dường như còn chưa thỏa và có lẽ mãi mãi còn như thế. Chính tôi đây cũng từng viết:
Nhớ buổi chiều năm nao em làm ta lấm áo
Em đã đền nụ cười sáng cả chiều quê
Bộ ngực trinh nguyên đã rung lên dưới lớp áo mờ
Còn nữ thi sĩ Ánh Tuyết đã viết:
Gió bỡn cợt hất tung vạt áo
Em gái má ửng hồng, làm cỏ lúa
Ngực căng tròn, môi mọng như hoa
Riêng mình, nữ thi sĩ cũng rất mạnh bạo, hiện đại thể hiện bản năng dục tính một cách đầy tinh tế, ý nhị:
Lẽ nào chưa hết đàn bà
Bồi hồi ngực áo… làn da phập phồng
Ngại ngùng…e ấp… điệu đàng
Hình như… ta vẫn còn đang đàn bà
Bài viết có lẽ đã quá dài đối với một cuộc hội thảo, còn bao hạt ngọc thi nữ nữa mà tôi không thể nói ra, đành đổ lỗi cho thời gian vậy. Xin chúc các chị, các em trẻ mãi không già, đẹp mãi theo thời gian, làm mãi những vần thơ hay. Xin cảm ơn sự lắng nghe của mọi người!
19-6-2015

ĐÔNG LA