Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

LÊ HIẾU ĐẰNG “ĐẰNG ĐẰNG SÁT KHÍ”!



ĐÔNG LA
LÊ HIẾU ĐẰNG “ĐẰNG ĐẰNG SÁT KHÍ”!


Hiện trên mạng lại có vụ nóng sốt, lan truyền lá thư “LÊ HIẾU ĐẰNG TUYÊN BỐ TỪ BỎ ĐẢNG CỘNG SẢN”:
 Lê Hiếu Đằng đã “thay máu” chống phá Đảng, chống phá thể chế, lẽ ra phải bị khai trừ Đảng từ lâu, để hôm nay ông ta không thể dùng chút sức tàn, lực kiệt cuối cùng diễn trò hề.

Lý do ra khỏi Đảng trong “Lời tuyên bố” trên thực ra Lê Hiếu Đằng từng viết cụ thể trong bài Ai biến chất chính trị và ai là người tự diễn biến? từng được đăng trên trang Bauxite của “chiến hữu” Huệ Chi rồi được phát tán khắp các trang web đen vào năm 2012.
Tôi thấy có điều thú vị, một số người mà cái tên như vận vào cuộc đời họ. Với Lê Hiếu Đằng thì thái độ của ông ta trong các bài viết đúng là “đằng đằng sát khí”:
Trong những năm gần đây, các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam thường nhắc nhở, cảnh báo cái gọi là “mất phẩm chất chính trị và tự diễn biến” của một số đảng viên trong Đảng. Nhưng 37 năm đã qua, sau ngày 30.4.1975, chúng ta thấy những gì đã diễn ra trên đất nước Việt Nam chúng ta?
   Trả lời câu hỏi này thì sẽ lộ ra kẻ nào, đảng viên nào là biến chất chính trị và kẻ nào, đảng viên nào là người tự diễn biến, phản bội lại mục tiêu ban đầu của cuộc cách mạng… Vấn đề này phải được tranh luận một cách công khai, minh bạch, nghiêm túc chứ không thể nói theo cách hàm hồ, cả vú lấp miệng em được”.
   Theo ông ta chính những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay mới là “tự diễn biến”. Thể hiện cụ thể trong việc bảo vệ “độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ” và “Con thuyền Việt Nam đang bị lái chệch hướng”!

I- Về vấn đề “độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ

Lê Hiếu Đằng qua chính sách đối với Trung Quốc của nhà nước ta, đã viết:
“ông bạn vàng, môi hở răng lạnh” từ phương Bắc” gây ra “chiến tranh biên giới, đánh chiếm hải đảo, giết chóc, bắt bớ, đánh đập, giam cầm, ngư dân, gây biết bao đau thương, tang tóc cho đồng bào, chiến sĩ chúng ta”  “đã làm nhân dân cả nước bất bình, phẫn nộ nên đã nổ ra các cuộc biểu tình yêu nước ở Hà Nội, TP. HCM”, nhưng lại bị chính quyền “đàn áp dã man, vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do của công dân đã được ghi trong Hiến pháp”. Ngược lại, đối với Trung Quốc các vị lãnh đạo lại “nhu nhược”.       Trong Thư gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam,  ông  ta viết: “Trong vòng đối thoại thường niên về quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc gần đây, ông Nguyễn Chí Vịnh – thứ trưởng Bộ Quốc phòng … đã có những phát biểu mà nhiều người… cho rằng vượt thẩm quyền… gây phẫn nộ trong những nhân sĩ, trí thức và đông đảo nhân dân… ông Vịnh đã thông báo cho phía Trung Quốc “Chủ trương kiên quyết xử lí vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam…” . Ông Vịnh nhân danh ai, nhân danh cái gì mà đã hạ mình để làm vui lòng nhà cầm quyền Trung Quốc… Ông Nguyễn Chí Vịnh lấy quyền gì mà cam kết một cách nhục nhã với nhà cầm quyền Trung Quốc như vậy?... Hành động và lời nói của ông Vịnh đã xúc phạm nghiêm trọng đến lòng tự tôn và danh dự của cả một dân tộc”.
Rồi trong THƯ NGỎ GỬI ÔNG ĐINH THẾ HUYNH  ông ta lại viết:
Tôi đợi một tuần qua để cơn giận dữ, lòng phẫn nộ và khinh miệt của tôi lắng xuống để ngồi bình tĩnh viết thư này cho ông để kịch liệt lên án và phê phán cách thức và nội dung đưa tin sai sự thật… một cách trắng trợn của TTXVN về các cuộc biểu tình tuần hành của nhân dân TP Hà Nội và nhân dân TP Sài Gòn – Hồ Chí Minh, mà xét đến cùng là trách nhiệm của ông với tư cách người lãnh đạo cao nhất của bộ máy thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà nước hiện nay”.
Trước ông Lê Hiếu Đằng, ông Tống Văn Công, nguyên TBT Báo Lao động, cũng đã phê phán đường lối ngoại giao của các vị lãnh đạo Việt Nam khi coi Trung Quốc là “Đồng minh”, mà theo ông ta, cần phải coi Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm khi viết: “Chúng ta đã từng gọi một cách chính xác “bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm”.
Trong bài tranh luận với Tống Văn Công, tôi đã viết mấy ý cũng có thể dùng để phản bác ý của ông Đằng nói trên:
 “Tham vọng bành trướng bá quyền vốn không chỉ là “đặc sản” của riêng người Tàu mà là bản tính chung của cái giống người. Kẻ có sức mạnh dễ sinh tham lam. Nhưng thật may, sau bao cuộc chiến đẫm máu, đã dẫn tới xu hướng của thời đại: đối thoại thay cho đối đầu, nước ta cũng đã thực hiện thành công chính sách ngoại giao đa phương, vì thế việc coi “Trung Quốc là kẻ thù” đúng là nói ngược! Nó cũng trái với lời dậy tiền nhân trong các cách ứng xử: “bán anh em xa mua láng giềng gần”; “Hận thù nên cởi chứ không nên buộc”. Với tư tưởng “thêm thù bớt bạn” bất kể ta là ai, lực ta như thế nào, tuơng lai dẫn ta đến đâu, thực sự là nguy hiểm!”
Tôi cũng viết: “nhiều khi chiến tranh xảy ra không chỉ do kẻ gây hấn mà còn vì phía bị gây hấn không khéo hóa giải, trái lại còn rơi vào cái bẫy khiêu chiến, tích cực “hợp tác” cho chiến tranh xảy ra!”
 Nhìn lại cuộc chiến Biên giới 1979, trong nhiều nguyên nhân có nguyên nhân chính là chúng ta đã không khéo hóa giải những căng thẳng. Chúng ta đã thẳng thừng từ chối vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, ngược lại ngày 3/11/1978, ta lại ký với Liên Xô Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, mà điều 6 là nhằm vào Trung Quốc khi viết: “Việt Nam và Liên Xô sẽ “tham vấn nhau ngay lập tức” nếu một trong hai nước “bị tấn công hoặc đe dọa tấn công … nhằm loại bỏ mối đe dọa đó”. Đại hội lần IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm và gần cận nhất”. Thêm vào đó vấn đề Hoa kiều cũng khiến căng thẳng leo thang, đã khiến Bắc Kinh nổi giận. Từng viện trợ cho Việt Nam trên 20 tỷ đô la, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác trong suốt hơn hai mươi năm, họ đã cho chúng ta là kẻ "vô ơn"! Từ đó, họ đã cắt Viện trợ và kí kết một Hiệp ước Quân sự với Khmer Đỏ, xúi Khmer Đỏ xâm lược VN. Ngày 13 tháng 12 năm 1978, với quy mô lớn, Khmer Đỏ đã tiến công xâm lược Việt Nam. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, quân ta đã phản công. Chưa đầy một tháng đã giành thắng lợi. Trước tình trạng đó, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học".  5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, với chiến thuật dùng biển lửa và biển người. Quân Việt Nam dày dạn trận mạc hơn đã đánh trả quyết liệt. Đến ngày 5 tháng 3 năm 1979, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Phía ta cũng tuyên bố thể hiện "thiện chí hòa bình", “Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân”. Như vậy thực chất TQ đã bị thất bại, mục đích chính của họ muốn buộc quân ta phải rút quân để bảo vệ bọn diệt chủng Pôn Pốt đã không thực hiện được. Chúng ta đã chiến thắng nhưng cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của. Các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Nó còn mở ra tiếp theo hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc ta phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy.
Nhắc lại cuộc chiến như vậy để thấy rằng chiến tranh là điều tối kỵ. Nếu ai đã đọc những ý của ông Vũ khoan về ngoại giao nói chung và việc ứng xử với Trung Quốc nói riêng thì sẽ hiểu và thấy các vị lãnh đạo nước ta đã xử lý rất đúng và rất khéo léo. Nhưng ta thử xem ông Nguyễn Chí Vịnh đã làm gì mà để ông Lê Hiếu Đằng cho là: “vượt quyền”, “gây phẫn nộ”, “cam kết một cách nhục nhã với nhà cầm quyền Trung Quốc”, “làm thương tổn lòng tự trọng dân tộc, xấu hổ với bạn bè năm châu”…
Đúng là ông Nguyễn Chí Vịnh trong cuộc “đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung cấp thứ trưởng lần hai ở Bắc Kinh” đã thông báo với phía Trung Quốc rằng Việt Nam sẽ  “kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam”, và dứt khoát “không để sự việc tái diễn
Về các cuộc biểu tình đó, ngay sau khi Người phát ngôn Bộ Ngoại giao ta lên tiếng phản đối Trung Quốc, những cuộc biểu tình xảy ra sẽ tạo được một sự cộng hưởng tuyệt vời để tỏ rõ ý chí của dân tộc, hậu thuẫn cho các nhà ngoại giao hóa giải mâu thuẫn. Có điều, như các cụ thường dạy “già néo đứt dây”. Khi những cuộc biểu tình đã trở thành quá khích, kéo dài đến mấy tháng trời, đã thực sự gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sản xuất. Hơn nữa đã có những chứng cớ chứng tỏ có sự kích động của thế lực thù địch, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia. Vì thế chính quyền mới vận động, thuyết phục giải tán biểu tình. Như vậy, với tư cách của nhà ngoại giao, đại diện cho Bộ Quốc phòng VN, ông Vịnh hoàn toàn có quyền trình bày quan điểm của nhà nước ta đối với TQ, chứ hoàn toàn không phải ý của riêng ông ta. Ông Lê Hiếu Đằng cũng cần phải biết, ta và TQ đang có những rắc rối và hai bên đang giải quyết chứ cả hai phía đều chưa tuyên bố chiến tranh. Nên trong quá trình hóa giải mâu thuẫn thì mọi lời nói trong đàm phán cần phải biến những chuyện to thành nhỏ, từ nhỏ thành không có gì. Vì thế, chuyện ông Vịnh hoặc Thông Tấn xã VN gọi “biểu tình” là “tụ tập” là rất khéo léo và hoàn toàn phù hợp. Hơn nữa, ông Vịnh không chỉ có “nhu” như vậy mà ông cũng có “cương” khi ông tuyên bố: “Việt Nam luôn coi trọng “quan hệ đại cục” với Trung Quốc và mong muốn hai bên tìm được giải pháp “cùng thắng”. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là luật pháp quốc tế”, và “Việt Nam không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền”. Đặc biệt trong bài “Đoàn kết là phải tôn trọng lẫn nhau, về vụ tàu hải giám Trung Quốc gây hấn với tàu khảo sát địa chấn của PetroVietnam, BBC đã có cuộc phỏng vấn tướng Vịnh:
“BBC: Thưa ông, gần đây trên các diễn đàn của người Việt có nhiều ý kiến chỉ trích rằng Chính phủ Việt Nam chưa có được phản ứng mạnh mẽ tương thích với các hành động gây hấn tàu bè, ngư dân và hoạt động dầu khí của Việt Nam. Ông nghĩ thế nào về các chỉ trích này?
  Tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Tôi cho là các chỉ trích ấy xuất phát từ tấm lòng đối với đất nước, nhưng cũng có một phần vì thiếu thông tin. Vấn đề là có đạt được mục đích của mình hay không chứ không phải cứng rắn như thế nào. Mục đích chính của Việt Nam là hòa bình, ổn định và chủ quyền lãnh thổ. Chỉ cần làm đủ để đạt được những điều đó.Thí dụ vụ tàu Bình Minh 02, sự việc hết sức nghiêm trọng, nhưng Việt Nam xử lý rất ôn hòa, bình tĩnh, phát biểu rất cương quyết nhưng thái độ rất xây dựng. Đây là vụ việc Trung Quốc sử dụng bạo lực đối với tàu của Việt Nam. Việt Nam không sử dụng bạo lực để đáp trả, nhưng kết quả là như thế nào? Tàu Bình Minh 02 vẫn tiếp tục hoạt động như cũ trong vùng biển của Việt Nam… Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì quan trọng nhất là xây dựng được sự đoàn kết với các nước có tranh chấp. Nhưng đoàn kết là phải tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng luật pháp quốc tế. Các mối quan hệ cũng phải công khai minh bạch. Tôi nghĩ đây là chủ trương đúng đắn”.
 Bản thân tôi qua những lời đồn thổi từng rất e ngại khi ông Vịnh được giao những trọng trách. Nhưng rồi qua những chuyến công du của tướng Vịnh, đối thoại với các đối tác về những vấn đề rất nan giải và phức tạp; qua những cuộc phỏng vấn, cụ thể là cuộc vừa dẫn ở trên; đã khiến tôi rất yên tâm và tin tưởng ông sẽ làm tốt được trọng trách rất nặng nề mà Đảng và Nhân dân đã giao cho ông: Lĩnh vực ngoại giao quốc phòng.
Chuyện ông Lê Hiếu Đằng thấy “phẫn nộ”, rồi “nhục nhã” trước những hành động ngoại giao của ông Vịnh thì tôi thấy cũng đúng thôi. Có điều nó chỉ đúng với phạm vi nhỏ hẹp của thái độ ứng xử cá nhân vặt vãnh trong đời thường. Với những người có suy nghĩ thâm sâu của một nhà tư tưởng hoặc những người có tầm nhìn xa trông rộng mang tính chiến lược về những vấn đề trọng đại liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc, không ai lại có thái độ hời hợt, bốc đồng như vậy. Ông Đằng cũng nên hiểu, là người ai cũng có cái sĩ diện, ông Vịnh chắc cũng không sung sướng gì khi phải mềm mỏng với phía Trung Quốc, vì vậy việc ông phải nhún nhường như vậy phải được coi như là một sự hy sinh vì đại cục; cũng như ông Lê Thanh Nghị hồi kháng chiến trước đây, chắc ông ấy cũng không sung sướng gì, khi hàng năm phải “vác rá” đi xin viện trợ khắp nơi cho đất nước. Còn chỉ cần biểu tình mà làm TQ sợ, chỉ cần biểu tình mà cứu được đất nước thì tôi cũng sẽ vận động, không chỉ cả nhà mà cả họ nhà tôi, cũng sẽ tham gia biểu tình với các vị. Tiếc là thực tế không phải như vậy, những cuộc biểu tình quá khích không chỉ gây mất trật tự công cộng mà còn làm khó cho công việc hóa giải mâu thuẫn. Thật tiếc cho nhiều người tham gia biểu tình, họ không biết hành động yêu nước của họ đã bị lợi dụng bởi những thế lực mà trong đó có những người mang danh “cán bộ CM lão thành,  trí thức, văn nghệ sĩ”, mà như ông Vũ Khoan nói, chỉ “vì những tính toán riêng”. Chúng ta hãy coi lại ông Phó Thủ tướng nói về lòng yêu nước chân chính: “Lãnh đạo mà có được người dân nhiệt tình yêu nước thì còn gì hơn! Chỉ có điều cách thể hiện lòng yêu nước sao cho có lợi nhất cho đất nước. Những người thể hiện lòng yêu nước cao đẹp nhất là các chiến sỹ ở hải đảo không quản ngại gian nan, giữ vững chủ quyền. Tôi vô cùng khâm phục họ, nhất là các chiến sỹ ở những điểm DK nhỏ xíu giữa biển khơi mênh mông, sóng bão bịt bùng mà vẫn kiên định. Tôi cứ trộm nghĩ phong tặng danh hiệu Anh hùng cho tất cả những người đó cũng xứng đáng!”

 II- vấn đề “Con thuyền Việt Nam đang bị lái chệch hướng”
Lê Hiếu Đằng viết:
 “Thực tiễn cho chúng ta thấy là trong 37 năm qua, từ 30.4.1975 đến nay, các quyền tự do, dân chủ được qui định trong Hiến pháp 1946 đã bị tước đoạt toàn bộ. Nhà nước dân chủ cộng hòa đã bị thay thế bằng một nhà nước toàn trị, độc đoán. Tinh thần tiến bộ của “Tuyên ngôn độc lập” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên đọc tại Ba Đình lịch sử với cam kết đem lại “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” cho đất nước và cho nhân dân đã gần như bị lãng quên, nếu không nói là đã bị phản bội. Thành quả cách mạng đã bị đánh tráo. Các quyền cơ bản của người dân như tự do báo chí, tự do biểu tình, đình công, tự do lập hội… đều bị ngăn cấm hoặc xâm phạm thô bạo như đàn áp các cuộc biểu tình ở TP. HCM, ở Hà Nội”.
  Viết vậy Lê Hiếu Đằng đã cho sự lãnh đạo của Đảng là sự cai trị. Mà chỉ có kẻ thù của thể chế mới xuyên tạc bản chất sự lãnh đạo của Đảng như thế mà thôi!  Bàn về tự do dân chủ của một xã hội là khó, nó cũng có tính tương đối như thuyết tương đối của Einstein vậy. Nếu không gian, thời gian theo thuyết tương đối tùy thuộc sự chuyển động của hệ quy chiếu thì tự do dân chủ cũng tùy thuộc vào trình độ của một xã hội. Như bầu cử bên Mỹ, họ đấu nhau rất dữ, nhưng bầu xong rồi thì thôi, nhưng ở Thái Lan, bầu bán xong rồi, biểu tình vẫn cứ diễn ra. Ở Hà Lan, mại dâm là một nghề được luật pháp công nhận và được tự do sử dụng những chất gây nghiện, với những nước lạc hậu mà cũng như vậy thì không biết xã hội của họ sẽ dẫn tới đâu? Với nước ta, trình độ xã hội chưa cao, với một lịch sử bị xâu xé, nên việc lấy hình mẫu dân chủ tự do ở một nước nào đó để so sánh rồi phê phán thì không thỏa đáng. Riêng tôi thấy, những quyền cơ bản nhất là quyền sống và mưu cầu hạnh phúc thì chẳng có ai bị nhà nước ngăn cấm cả. Cả xã hội ta đang đua nhau làm giàu, đua nhau khoe của, ở TP HCM tôi thấy những khu dân cư mới mọc lên như nấm, khiến biên giới sắp dính vào các tỉnh lân cận rồi. Có chăng, chỉ có tự do nói bậy, viết bậy, quấy rối, làm càn là bị ngăn cản mà thôi! Với trình độ xã hội đến GSTS, Nhà văn, Nhà thơ, và đủ các loại nhà khác nữa, khi thể hiện chính kiến còn loạn xà ngầu thì không biết với quy mô toàn xã hội sẽ như thế nào?  Tôi thấy có nhiều việc, như  vấn đề Trung Quốc chẳng hạn, đã trở thành những cái cớ cho nhiều vị nhân danh đủ thứ để công kích các nhà lãnh đạo, vì “những tính toán riêng” như ông Vũ Khoan nói chứ chẳng phải vì dân, vì nước. Có người hành động giống như sự giải tỏa những uất ức do nhiều tham vọng không đạt được, từng phải kìm nén trong suốt cuộc đời công chức, giờ hưu rồi không sợ gì nữa mới xổ toẹt hết cả ra! Lê Hiếu Đằng chính là người như thế! Có điều mạnh miệng phê phán lãnh đạo không có nghĩa là mình có tài hơn họ, cũng như tự do ngôn luận lại đồng thời tự do bộc lộ cái tâm tối, cái trí thấp của chính mình!
 Riêng những điều mà ông Lê Hiếu Đằng đã viết này:
  “Sự phân hóa sâu sắc giàu nghèo, sự xuống cấp, tha hóa của đạo đức xã hội … Họ đặt lợi ích của Đảng mà thực chất là lợi ích của cá nhân, của gia đình các nhóm lợi ích lên trên lợi ích của quần chúng, của xã hội, lên trên sự tồn vong của đất nước”.
 Tiếc là lại có thật trong xã hội VN hôm nay, cái sự thật mà chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh báo là “nguy cơ tồn vong của chế độ”. Có điều, cả những người yêu chế độ lẫn những người chống chế độ đều thấy nhưng cách giải quyết thì ngược nhau.
 Những người chống chế độ, từ những mầm mống bất ổn đó, muốn kích động thành bạo loạn, muốn xảy ra một cuộc cách mạng mầu sắc như mấy nước Đông Âu; hoặc viển vông hơn, họ mơ tưởng đến một sự can thiệp quân sự của nước ngoài, như Irắc, Lybie chẳng hạn. Có điều dân Việt mình lại không như dân mấy nước trên dễ dàng chịu khuất phục. Còn Mỹ, Pháp bây giờ cũng đã là bạn, họ đã rút ra được những bài học “cay đắng” sẽ chẳng bao giờ dại dột đi theo vết xe đổ cũ; chỉ giả sử có một lực lượng “từ trên trời rơi xuống” giúp một ông “Ngô Đình Diệm” mới nào đó “phục quốc”, tụ tập những đồng bào vẫn còn mặc cảm “mất nước” của VNCH, những lực lượng “đổi mới” như Nguyên Ngọc, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Bùi Tín; những “trí thức” như Huệ Chi, Chu Hảo, Quang A; những công dân “yêu nước” như Minh Hằng, Thục Vy, Đoan Trang, Phương Uyên, v.v… thì nước ta chắc lại phải bước lại những bước đi của lịch sử, lại bắt đầu như năm 1954. Rồi sẽ lại đầu rơi máu chảy, sẽ lại “Toàn thắng”; sẽ lại “Đấu tranh dân chủ” nữa… Có lẽ nào đất nước này mãi mãi quanh quẩn trong vũng lầy của bùn và máu đó?
  Còn những người có lương tri nói chung ai cũng muốn Đảng, Nhà nước cần xác định đúng thực trạng yếu kém và đưa ra được những giải pháp phù hợp để khắc phục những tệ nạn đó, giữ gìn đất nước ổn định và phát triển.
Còn để thỏa lòng “yêu nước” của Lê Hiếu Đằng và nhiều vị, tôi thiết tha đề nghị nhà nước thành lập một Mặt trận chống Tàu, suy tôn tướng Vĩnh làm tư lệnh, ông Đằng làm chính ủy, ông Huệ Chi, người từng phát hiện ra điều thâm sâu cả thế giới không ai biết: Einstein học trò của Lão Tử, sẽ làm quân sư chắc chắn sẽ giỏi hơn Gia Cát Lượng nhiều; ông Chu Hảo, Quang A sẽ phụ trách quân giới. Ngày xưa ông Trần Đại Nghĩa mới là kỹ sư còn chế tạo được vũ khí làm Pháp khiếp vía, các ông này là GS, TS chắc phải làm được vũ khí hùng mạnh hơn nhiều. Để mặt trận tươi mát cho Minh Hằng, Thục Vy, Phương Uyên,… làm những nữ ủy viên, phụ trách việc gào thét cho quân địch ù tai mà chết. Mặt trận sẽ tụ tập con, cháu, chắt, chít của các vị, cùng các chiến sĩ biểu tình, các chiến sĩ hải ngoại thường chê các vị lãnh đạo hèn nhát v.v… Trận đầu sẽ giành lại Hoàng Sa. Sau đó sẽ thừa thắng chiếm luôn TQ cho gọn. Rồi tiện thể chiếm luôn Nga Xô để biên giới ta giáp các nước dân chủ Tây Âu văn minh. Thế là không còn phải lo gì nữa. Còn tôi, cha từng đánh Điện Biên, chú chết ở Điện Biên, anh ruột chết ở Mậu Thân 68, bản thân xuýt chết ở chiến dịch HCM 1975, giờ có hai đứa con khá xinh và học khá giỏi; tôi xin nhường hết lòng yêu nước cho các vị. Tôi sợ chiến tranh lắm rồi, không muốn đứa con trai lại phải đào hầm, xây chốt, đánh địch; không muốn đứa con gái lại thanh niên xung phong đắp đường nữa!
***
Việc hôm nay Lê Hiếu Đằng đưa ra “Tuyên bố” ra khỏi Đảng như là một lẽ tất yếu sau một chuỗi những hành động phản trắc. Trong bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh, khi tổng kết cuộc đời với 45 tuổi Đảng, Lê Hiếu Đằng đã muốn“thanh toán”, “tính sổ” lại tất cả”. Lê Hiếu Đằng đã bộc lộ cái nhân cách tầm thường, những tính toán xôi thịt qua ngôn ngữ của con buôn. Vốn luôn to giọng phê phán, “đằng đằng sát khí” chê trách, thách thức các vị có trọng trách trong thể chế, nhưng “Đảng chủ” Lê Hiếu Đằng lại lờ đi nhân cách của chính mình. Tôi đã viết về Lê Hiếu Đằng trong bài đăng trên Báo Văn Nghệ TPHCM gần đây, Lê Hiếu Đằng cũng như các vị “nhân sĩ trí thức” hãnh tiến luôn to mồm chống chế độ, hãy từ bỏ trước đi đã tất cả tài sản, lương hưu, danh vị do phục vụ chế độ mà có. Kỳ này Lê Hiếu Đằng “trả thẻ Đảng” thì trả luôn mọi thứ cho tiện. Nhưng một người tham lam, tiểu nhân như ông ta thì sao mà có hành động quân tử được.
Một bạn đọc thân quen đã cung cấp cho tôi một thông tin rất “hay” như thế này:
Nguyễn Hướng Dương là một em khuyết tật ở chân. 12 năm qua em làm giám đốc Thư viện sách nói dành cho người mù. Lê Hiếu Đằng được đưa về làm chủ tịch quản lý quỹ từ thiện xây dựng chương trình thư viện sách nói này. LHĐ lợi dụng chương trình này để nhận nguồn tài trợ, nhưng đã sử dụng tài chánh bất minh, lèm nhèm, cướp công sức của em Nguyễn Hướng Dương. LHĐ dùng thời gian làm từ thiện thì ít mà làm chính trị biểu tình thì nhiếu. Ban quản trị phải yêu cầu, năn nỉ LHĐ đừng có lợi dụng chức vụ quỹ từ thiện để làm chính trị nũa, và xin ông hãy thôi chức này, nhưng LHĐ vẫn ngoan cố không chịu. Mất mấy tháng trời đấu tranh, LHĐ mới chịu ký giấy rời khỏi chức vụ này khi phải vào bệnh viện”.
Thật vui khi Lê Hiếu Đằng tưởng mặt mình chưa đủ đen, nên vụ “Tuyên bố” lần này, ông ta lại bôi đen thêm gương mặt mình!
7-12-2013