Nhân việc đầu xuân cô Vũ Thị Hòa giảng đạo trên facebook: Thị Hòa Vũ, tôi xin đăng lại bài này:
Khi
ông Nguyên Ngọc TUYÊN BỐ VẬN ĐỘNG
THÀNH LẬP VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM, về cái
danh này tôi chợt nghĩ đến cuốn “Ngọc
sắc Tâm kinh” của nữ thánh Vũ Thị Hòa mà tôi đang đọc.
Nói qua chút về cái danh “nữ thánh”
mà tôi tạm gọi này của cô. Trước kia tôi còn để trong ngoặc kép, nghĩa là đệ
tử bái phục đã coi cô như thế, còn bây giờ thì tôi thấy cô là thánh thật thì
tôi quẳng luôn cái ngoặc kép ấy đi. Có mấy người góp ý cho tôi là đừng ca ngợi
cô quá sợ dư luận và cũng sẽ hại cô. Tôi trả lời là tôi thấy cô là thánh thì
gọi là thánh chứ ca ngợi cái gì. Cũng như kẻ ác thì tôi nói là ác, là quỷ
cái, dù là GS Viện sĩ mà dốt thì tôi cũng nói là dốt. Xã hội dân chủ, nhà
nước pháp quyền phải nói sự thật, lẽ phải, nếu sai là bị kiện đi tù! Còn cô
là thánh thì cô tất hiểu tôi chỉ nói ra sự thật. Có điều chính phần người
phàm, cô Vũ Thị Hòa ở Yên Bái vẫn thường gọi tôi là anh xưng em đấy, cũng bảo
cô không thích tôi gọi cô như thế. Cái chính là cô sợ người ta không hiểu,
người ta lại nói sai, nói bậy sẽ lại tạo nghiệp nặng. Tôi trả lời cô là tôi
là người hiểu sự thật mà nói sai thì chính tôi sẽ bị tội. Nên tôi không thể
nói sai. Tôi không cầu gì, cô không cầu gì từ chuyện đó thì không có gì mà
ngại cả. Còn tôi đã viết hàng chục bài chứng minh khả năng thần thánh của cô,
mà gần đây nhất chính là cô đã nói đúng về vụ máy bay bị mất tích đang chấn
động cả thế giới. Chỉ có là thánh mới có con mắt thần như thế. Vậy mà người
ta vẫn không hiểu, cứ nghĩ về cô với lý lẽ phàm trần, cứ nhìn cô bằng con mắt
thịt phàm trần, thì kệ người ta thôi.
Tôi đã nghĩ về việc cầu danh của ông
Nguyên Ngọc qua việc lập hội văn đoàn độc lập khi đọc chương cô Hòa bàn về
Quân tử và Tiểu nhân trong cuốn “Ngọc
sắc Tâm kinh”. Xin nhớ cô Vũ Thị Hòa chỉ mới biết đọc, biết viết, nhưng
để viết được cuốn kinh này thì phải có tâm trí minh triết của một bậc hiền
triết mới có thể viết ra được, và để hiểu thấu nó thì không biết cái nước
Việt Nam này có mấy người hiểu được, bởi trong đó chất chứa những tinh túy
của tư tưởng phương Đông và cả các pháp tu mầu nhiệm, viết ra từ cõi thánh
chứ không phải về cõi thánh. Cô viết:
“Người quân tử trốn cái danh mà cái
danh càng rạng tỏ, càng chịu lép với thế mà thế vẫn tôn sùng, còn đứa tiểu
nhân càng chuộng cái danh mà danh càng nhơ nhớp, càng kiêu với thế mà thế vẫn
thị khinh. Như vậy mà bởi cớ sao, hạnh quân tử lại ít người làm còn thói tiểu
nhân lại nhiều người học. Ôi thật buồn cho nhân loại biết bao! Buồn…!”
Thật thú vị trong cuốn kinh của cô
Hòa, cô đã bàn rất sâu về Đạo, trong khi chính tôi đây cũng đã viết về Đạo
trước khi gặp cô gần chục năm. Trong bài phản bác GS Hoàng Ngọc Hiến, tôi đã
chỉ ra những ý sai của ông, kể cả Lê Quý Đôn cũng có ý sai. Với tư duy tiểu
nông sẽ có nhiều người cho tôi là hỗn, dám viết Lê Quý Đôn sai. Nhưng với
tinh thần khoa học, Einstein cũng sai thì Lê Quý Đôn có sai cũng là lẽ
thường. Tôi đã dùng tư duy khoa học hiện đại nhìn về cõi tư tưởng mông lung
huyền bí phương Đông, rất mong các đệ tử của cô Hòa đọc cho cô nghe, để cô, với
con mắt từ cõi đó, xem tôi viết ra sao?
|
VÔ
VÀ HỮU
(TRAO
ĐỔI VỚI GIÁO SƯ HOÀNG NGỌC HIẾN)
(Trích)
Trong bài Về vô và hữu/ chủ
toàn và chủ biệt (Văn nghệ, số 39, ngày 30-9-2006) của GS. Hoàng
Ngọc Hiến trao đổi với Nhà văn Văn Chinh có nhiều điểm cần phải bàn.
Trước hết, Hoàng Ngọc Hiến có một quan niệm khá mâu thuẫn về khái niệm vô
và hữu của Lão Tử: “vô tức là hữu (mà) vô cũng khác hữu”.
Để giải thích sự mâu thuẫn trên, Hoàng Ngọc Hiến viết: “vô tức là hữu vì cả vô
và hữu đều là thực tại”. Điều này cũng vô lý, bởi như vậy tôi có thể nói:
không khí là con bò vì cả không khí và con bò đều là vật chất. Ngay một vật như
tấm huân chương cũng không thể nói mặt trái là mặt phải vì cả hai
cùng là tấm huân chương được! Có thể nói GS. Hoàng Ngọc Hiến cũng là “fan”
(như cách nói của ông) của cụ Cao Xuân Huy. Nhưng theo cụ Cao, tiêu chuẩn của
chân lý là: nếu A là A thì A không phải là phi A (Cao Xuân Huy: Tư
tưởng phương Đông - gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn học, H., tr.78).
Như vậy, Hoàng Ngọc Hiến đã vi phạm tiêu chuẩn trên, đã cho A là phi A
rồi!
Hoàng Ngọc Hiến lập luận tiếp: “vô
khác hữu vì vô là thực tại“chưa phân hóa” còn hữu là thực tại đã hiển hiện”
thì tôi e rằng viết vậy ông đã hiểu sai tư tưởng của Lão Tử.
Liên quan đến hai khái niệm “vô” và “hữu”, Lão Tử viết: “Vô danh thiên địa
chi thỉ; hữu danh vạn vật chi mẫu”, tôi dịch: Cái không gọi được thành tên
(cái vô) là nguồn gốc của trời đất; cái gọi được thành tên (cái hữu) là mẹ của
vạn vật; rồi: “Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” nghĩa là: Vạn
vật trong thiên hạ sinh từ có, có sinh từ không; rồi
nữa: “Hữu vô tương sinh”: có không sinh ra
lẫn nhau. Như vậy, theo Lão Tử, cái vô không phải là thực tại “chưa
phân hóa” và cái hữu không phải là “thực tại đã hiển hiện”
như ý Hoàng Ngọc Hiến mà cả hai đều chưa phải là thực tại, vô và hữu
tương sinh, vô sinh ra hữu rồi chính hữu mới sinh ra “thiên
hạ vạn vật”, tức “thực tại đã hiển hiện”.
Trước đây vì khoa học chưa phát triển, các nhà nghiên cứu thường luận bàn về Đạo
Đức kinh như bàn về một tác phẩm thi ca có tính hàm súc như thơ tượng trưng
vậy, vì “ý tại ngôn ngoại” tất dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Bây giờ chúng
ta thử khảo sát tư tưởng Lão Tử theo ánh sáng của khoa học hiện đại, xem tư
tưởng của Ngài sẽ ứng với những nguyên lý nào của khoa học, nghĩa là xem nó có
gì có lý, có giá trị thực tiễn hay không, hay chỉ có giá trị về mặt văn hóa?
Theo tôi, nếu coi năng lượng là “vô”, vật chất là “hữu” thì thực tiễn
khoa học hoàn toàn khớp với tư tưởng Lão Tử trong các mệnh đề nổi tiếng của
Ngài đã bàn như: “Vô danh thiên địa chi thỉ; hữu danh vạn vật chi mẫu”,
“Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô”; “hữu vô tương sinh”;
vì Năng lượng đúng là không hình dạng và là “gốc” của Trời Đất;
Vật chất đúng là có hình dạng và là “mẹ” của vạn vật, và theo
công thức E = mc2 của Einstein, năng lượng và vật chất
đúng là “hữu vô tương sinh”!
Vậy cũng có thể nói theo tinh
thần triết học cổ phương Đông, vô và hữu trong mệnh đề “hữu
sinh ư vô” của Lão Tử chính là hai mặt đối lập nhưng tồn tại thống nhất tạo
thành Đạo, cái bản thể của Vũ trụ.
Vậy mệnh đề: “vô tức là hữu (mà) vô cũng khác hữu)” của Hoàng Ngọc Hiến
cần phải viết cho đúng với tư tưởng Lão Tử: “vô khác hữu, là hai mặt đối lập
nhưng tồn tại thống nhất của Đạo”.
Trong phần nghiên cứu về Lê Quý
Đôn, GS. Cao Xuân Huy đã trích câu: “Thái cực là một, nó là một khí hỗn
nguyên… khép lại là vô, mở ra là hữu, qua rồi là vô, đang đến là hữu,
thấu xưa đến nay… Như thế mà (Lão Tử - ĐL chú) bảo rằng “hữu sinh ư vô”
(cái hữu là từ cái vô mà sinh ra) thì có được không?” (Sđd, tr.186-187) và
đánh giá rất cao: “Lê Quý Đôn có một vũ trụ luận rất đặc sắc”. Và cụ kết
luận, Lê Quý Đôn đã “bác truất” cái tư tưởng “hữu sinh ư vô” của
Lão Tử.
Đây cũng chính là vấn đề phân
tích và tranh luận giữa Hoàng Ngọc Hiến và Văn Chinh. Theo Hoàng Ngọc Hiến, Văn
Chinh đã sai khi hiểu chữ sinh ở trên là đẻ ra rồi gán cho
Lê Quý Đôn cũng hiểu như mình nên ngài mới “bác truất” cái mệnh đề trên
của Lão Tử. Hoàng Ngọc Hiến cho rằng chữ sinh đó cần phải hiểu là “chuyển
trạng thái” như trong những từ “sinh bệnh”, “sinh loạn”.
Đạo Đức Kinh của
Lão Tử vừa là bản thề luận (luận về cái cơ bản nhất tạo nên vũ trụ: Đạo
là bản thể, Đức là bản tính của Đạo) vừa là triết lý xã hội (Đạo đức sống của
con người). Nhưng những câu bàn về vô và hữu nói trên, ngài bàn
về bản thể luận. Vì thế hiểu chữ sinh là đẻ ra như Văn Chinh là
không sai. Nếu hiểu chữ đẻ ra không chỉ đơn giản là một động từ chỉ quả
trứng chui từ trong bụng gà ra mà nó là kết quả của cả một quá trình chuyển hóa
vô cùng tinh vi trong cơ thể động vật từ không đến có của tế bào sinh dục, thì
sự đẻ ra theo cách hiểu của Văn Chinh có khác gì sự chuyển trạng thái
của Hoàng Ngọc Hiến, nếu không muốn nói nó còn linh diệu hơn, vì nó là quá
trình chuyển từ không đến có, còn “sinh loạn”, “sinh
bệnh” của Hoàng Ngọc Hiến là những quá trình từ cái có này đến cái có
khác. Vì vậy, câu phê phán Văn Chinh của Hoàng Ngọc Hiến: “Trong mệnh đề của
Lão Tử hữu sinh ư vô không có chuyện vô đẻ ra hữu mà chỉ có sự chuyển trạng
thái vô sang trạng thái hữu” là vô nghĩa, và Văn Chinh cho Lê Quý Đôn bác
truất mệnh đề hữu sinh ư vô vì cho vô không thể sinh hữu là có
lý, không có gì là gán ghép cả. Bởi thực sự Lê Quý Đôn đã hiểu khác Lão Tử. Lão
Tử cho vô và hữu là hai mặt đối lập có thể tương sinh của
Thái Cực, tức Thái Cực không chỉ là vô hoặc hữu mà còn có trạng
thái chuyển hóa giữa vô và hữu, là cả vô và hữu;
còn Lê Quý Đôn cho vô và hữu là hai trạng thái đóng hoặc mở
không tương sinh của Thái Cực, nghĩa là Thái Cực chỉ có đóng
là vô hoặc mở là hữu mà thôi.
Trong phần cuối bài viết, Hoàng
Ngọc Hiến cố gắng chứng minh hai tư tưởng của Lão Tử và Lê Quý Đôn vốn ngược
nhau nhưng đều đúng, nghĩa là lại làm cho A là phi A; với Lão Tử ông
cho: “Sự chuyển từ trạng thái “vô” sang trạng thái “hữu” là kết quả của sự
biến hóa thiên hình vạn trạng của thực tại”; với Lê Quý Đôn ông cho: “Chuyển
hóa vô - hữu được thực hiện qua tương tác giữa những quá trình… Lê Quý Đôn đã
tạo ra một toàn cảnh hoành tráng tuyệt vời về vũ trụ biến hóa khôn cùng, thiên
hình vạn trạng”.
Như đã phân tích, chữ sinh
nghĩa là sinh đẻ hay là quá trình chuyển hóa cũng không có gì
khác nhau. Vậy Hoàng Ngọc Hiến viết như trên là ngược với ý Lê Quý Đôn khi Ngài
viết: có thể nói hữu mà sinh từ vô được sao! Hoàng Ngọc Hiến cũng cho
rằng có sự bác truất ý Lão Tử của Lê Quý Đôn là do cách hiểu về vô và hữu
của Lê Quý Đôn khác với cách hiểu của Lão Tử. Cái vô của Lê Quý Đôn là
cái “vô tương đối” (kết thúc quá trình hữu hạn) còn cái vô của
Lão Tử là cái “vô tuyệt đối” (bản thủy) (nên viết là bản thể hoặc
bản chất khởi thủy thì đúng hơn – ĐL chú). Sự giải thích này cũng không có
lý bởi đã cho hai cái không thể sinh ra (hoặc chuyển thành) nhau thì dù là
“tuyệt đối” hay “tương đối” cũng không thể được. Hoàng Ngọc Hiến còn cho Lê Quý
Đôn bác truất là do đã “ngỡ ngàng trước mệnh đề của Lão Tử”, và ông còn
đắc ý tự hỏi, liệu Lê Quý Đôn có ngờ được rằng hơn hai thế kỷ sau hôm nay ông
nghi ngờ sự hiểu biết của ngài không. Điều này tôi thấy cho một người như Lê
Quý Đôn mà không hiểu Dịch, Đạo là vô lý; hơn nữa, khi không hiểu thì Lê Quý
Đôn không thể tự tin đưa ra phát kiến riêng của mình được. Tóm lại, sự thực thế
nào hãy để nguyên như thế, sự thực đã có một sự bác truất của Lê Quý Đôn đối
với tư tưởng Lão Tử, nghĩa là đã có một cái là A, một cái là phi A. Vậy cái nào
A, cái nào phi A? Điều này không thể trả lời cụ thể được, vì khoa học hiện đại
không thể kiểm chứng những lời mơ hồ đầy tính tư biện của các ngài nói riêng và
tư tưởng phương Đông cổ đại nói chung. Riêng tôi, như đã cho cái vô là năng
lượng, cái hữu là vật chất như trên và liên tưởng một cách tương đối tới
những quá trình biến đổi của mọi sự vật và hiện tuợng trong thế giới, ta thấy
tư tưởng Lão Tử có tính bao quát hơn Lê Quý Đôn…
TP Hồ
Chí Minh,
8-10-2006.
Viết
thêm 27-4-2009.
(Đã đăng trên
http://hoinhavanvietnam.vn/News.asp? cat=&scat=36&id=1322).