Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

VỀ HƯỞNG PHÚC CHỨNG KIẾN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THỊ HIỆN


VỀ HƯỞNG PHÚC CHỨNG KIẾN

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THỊ HIỆN
Sau ngày vui, mọi người được cô Vũ Thị Hòa chúc phúc, ăn bữa cơm nhân phúc của cô vào ngày 8 Tết Ất Mùi vừa qua, hôm sau, tôi được chứng kiến trọn một ngày cô thị hiện như một Quán Thế Âm Bồ Tát cứu nhân độ thế.

Khi nói chuyện với mọi người cô Vũ Thị Hòa thường bảo phải “nói có đầu có đuôi” nên tôi cũng sẽ như vậy để chứng minh cho mọi người hiểu.

Trước hết tôi phải nói thêm về những người tham dự. Vì đông quá tôi không biết hết, gặp hết, nhưng những người tôi gặp không thể không nhắc đến trước hết là “Đoàn Tâm Đức Yên Bái”, bởi không có đoàn thì sẽ không có ngày chúc phúc của cô.

Cái tên Đoàn Tâm Đức chỉ là danh xưng của nhóm thiện nguyện không phải là tổ chức thuộc cơ quan, đoàn thể nào cả nên sẽ không chịu ràng buộc bởi các quy định của pháp luật đối với các cơ quan nhà nước, mọi việc của nhóm chỉ tuân theo pháp luật chung mà thôi. Người đầu tiên là anh Thu, quen biết cô trước khi cô “phát sáng”. Khi cô xuất hiện những khả năng siêu phàm, được trao sứ mệnh cứu nhân độ thế, cô đã rủ anh Thu và người chị dâu của chồng, như trên con tầu không số, “hành phương Nam”. Người giúp cô lộ phí đầu tiên chính là chị Lâm là người quen thân với cô ở Yên Bái. Khi vào Nam nhà đầu tiên cưu mang đoàn của cô là chị Loan, từ nhà chị Loan cô gặp gia đình và tìm giúp hài cốt của cha Đại tá Cao Thanh Hoa, mở đầu việc tìm hài cốt liệt sĩ ở Mây Tầu, Xuyên Mộc. Tiếp theo khi cô về Hóc Môn thì gặp Lịch, một chàng trai đã tốt nghiệp đại học, có tín tâm đã nguyện theo cô, rồi Trường là em rể Lịch, sau nữa là Lực, cháu ruột của anh rể Lịch, cũng nguyện đồng hành cùng cô, đi khắp các nơi giúp tìm mộ liệt sĩ và làm các công việc từ thiện khác.
(Bà Ba (mẹ Lịch), Lịch, anh Thu,

Đông La (lần đầu gặp cô Hòa tại nhà Đại tá Sử), cô Hòa)

Ngày vui cũng không thể không nhắc đến người thân của cô, tôi đã gặp anh Sửu và ba cô gái xinh xắn con của cô là Hiền, Hạnh, đều học ngành Y, còn cô út là Phương còn học phổ thông. Anh chàng con trai cô là Phúc tôi không được gặp vi phải vào Nam nhập học.

Tôi cũng được gặp hai người anh trai cô là anh Sậu, anh Hùng, và thấy có ba người chị gái của cô mà tôi chưa biết tên.

Còn Phật tử phía Bắc thân thiết nhất của cô tôi chỉ biết và gặp vợ chồng Hường, Việt là hàng xóm của cô ở Yên Bái; Huyền (chị Hường) và con cháu Huyền; TS Văn học Hà Lâm Anh; vợ chồng Trường “hói”; vợ chồng người anh của Trường hói; Hà Văn Tuấn và vợ là cô giáo Hiền.

Trước hết tôi muốn nói đến vài chuyện về cách đối nhân xử thế của cô. Trong bữa tiệc, ngày 8 tết, khi cô đến bàn tôi cụng ly bằng chai nước Lavie, ngoài chút nước dừa, là thực phẩm chính của cô:
Tôi nghĩ việc chính đã xong, tôi muốn theo xe BS Thành về trước, ở HN một ngày, để bạn bè chuyện trò trao đổi, nhất là về khả năng chữa bệnh và những khả năng siêu phàm khác của cô. Tôi nói với cô, cô đã trả lời bằng cách “một đi không trở lại” lập tức. Tôi lắc đầu lè lưỡi nói với Thành: “Không được cấp phép rồi”. Cô lo cho tôi ra chuyến này là ra với cô, vậy tôi hành xử như vậy là quá dở. Sau buổi tiệc, đến tối có chương trình văn nghệ, xong mọi người ngồi đầy sân nghe cô thuyết giảng, cô thường vạch ra những sai trái cả trong suy nghĩ lẫn hành động của Phật tử. Sức khỏe của cô cũng là chuyện siêu phàm, chúng tôi ăn uống no nê, nghỉ ngơi đầy đủ nhưng vẫn mệt không theo nổi cô chỉ với việc ngồi nghe cô nói thôi. Còn cô chỉ có vài chai nước Lavie, từ 10 giờ sáng, cô nói liên tục về hết người này đến người kia, chuyện này đến chuyện kia, đến tận 3 giờ đêm. Đêm ấy mấy người SG chúng tôi tính chuồn ra ngoài kiếm cái khách sạn ngủ cho thoải mái, cô biết, nói tất cả mọi người hết giường thì trải chiếu ngủ, quen nằm nệm ấm gối êm, ôm vợ đẹp, có một đêm mà không chịu được, người ta lán trại trong rừng, trường kỳ tìm mộ liệt sĩ thì sao. Mấy “thằng già” chúng tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, nhe răng cười trừ thôi. Trước cô, già trẻ lớn bé, học vấn cao thấp, đúng chỉ là những đứa trẻ. Hầu hết người có phúc quen thân với cô đều gọi cô là cô xưng con là vì thế. Cỏn tôi gọi cô xưng em thấy cũng thật đúng, cô đúng là một cô giáo của tôi về thế giới tâm linh và cả những sự ứng xử trong đời sống.

***

Hôm sau, tức mồng 9 tết, tôi đã chứng kiến trọn một ngày cô Vũ Thị Hòa thị hiện những khả năng như Quán Thế Âm Bồ Tát cứu nhân độ thế. Mỗi động tác của bàn tay, các ngón tay cô là có các công lực khác nhau. Cô nói cô từng chỉ cây điều làm nó héo, có những người ở Xuyên Mộc có mặt, đã chứng kiến. Với kẻ ác như Thu Uyên cô chỉ búng tay một cái là chết ngay. Nhưng tại sao cô không làm gì Thu Uyên vì tất cả chúng sanh đều là con của Phật, Thu Uyên là một đứa con hư, làm điều gì sai đã có luật nhân quả, cô không cần phải ra tay. Không như hồi trước có chuyện cô Chính là em ông Sửu chồng cô, mua một căn nhà của người hàng xóm là Phúc, nhưng anh này làm ăn vỡ nợ, đã cắm giấy chủ quyền nhà nên cô Chính đã nộp khá nhiều tiền rồi mà họ không chịu làm giấy tờ. Tay Phúc đã trốn đi, bàn với cô em là ủy quyền cho cô em cũng tên là Hòa đòi tiền tiếp. Chị Hòa này là giáo viên ở Dưới Thiên, Minh Quân, Trấn Yên, Yên Bái,  nói cô Chính nộp hết tiền mới lấy giấy tờ nhà được, còn phải nộp thêm tiền cho miếng đất dính liền còn chưa tính. Cô Chính mới gọi điện cho cô, cô thấy là lừa đảo rồi, đất lấn chiếm phạm pháp không dùng được sao đòi tiền. Cô mới gọi cho chị Hòa này, chị này mới bảo cô “Mày mà thần thánh, thày bà cái gì, mày mù à!” Cô tức quá mới búng tay một cái vào cái điện thoại và nói: “Chị này mù mắt”. Lúc đó khoảng 8 giờ sáng, đến chiều thì mắt chị ta bị lồi ra, đau đớn không chịu nổi, phải đi bác sĩ nhưng không sao chữa được. Bị như thế rồi chị ta mới biết cô là ai, sợ quá đã van lạy cô tha cho, cuối cùng thì cô cũng cho trở lại bình thường. Nhưng rồi cô nghĩ mình là Bồ Tát đi cứu độ chúng sinh, nếu người ta sai thì giảng giải cho người ta hiểu, không nên trừng phạt như vậy, nên từ đó cô không trừng phạt ai nữa. Còn giả sử công an có bắt cô thì khi còng tay cô, đánh vào người cô thì rồi con cái họ và chính bản thân họ chắc chắn sẽ bị nạn!

Ngồi nghe cô kể có ông Chắt, người từng nhờ cô tìm được hài cốt hai người chú ở Xuyên Mộc, từng nói với tôi nhìn thấy vầng hào quang từ tay cô chiếu xuống lòng huyệt mộ, từng nói “nghe đứa nào nói xấu cô Hòa tôi đập chết ngay”, ông từng xin cô cho ông tạc một tấm bia ghi khắc công ơn của cô, đã quỳ gối dâng tặng cô mà tôi có chứng kiến vì đúng vào hôm tôi theo cô đến nhà Thượng tá Châu ở Xuyên Mộc:


Ông đang về thăm quê ở Thái Nguyên, biết tin đã gọi điện hỏi

tôi rồi đã đến ngay Đồng Câu tham dự. Ông xin cô cho ông phụ họa một câu chuyện. Ông nói:

-Hôm đó cô đang chiêu hồn rất nhiều các liệt sĩ, có cả chú Kép nhà tôi cứ níu cô xin về đầu tiên nên bây giờ cô hay gọi tôi là chú Kép đấy, thì có một con dơi bự lắm cứ bay qua bay lại làm nhiễu, cô nhìn thấy các liệt sĩ về rất đông, cô mới điều khiển con dơi bay xuống ngồi xuống đất thì con dơi ngồi xuống đất, hai cánh nó vẫy vẫy như lạy cô, cô nói lên trên kia để cô nói chuyện, “im cho, im cho”, con dơi liền bay lên đậu trên cây bạch đàn, cứ đứng im suốt.

-Đấy là ông trực tiếp chứng kiến đấy hở?

-Cả đống đoàn người chứng kiến chứ không phải mình tôi, cả ông Trung tướng Triệu Xuân Hòa. Ông cứ về ông cứ đăng báo tôi là người dám nói đây. Những thằng này hôm ấy cũng có mặt hết ở đấy chứ đâu. Đông, ở đấy nó vui gì là vui trong rừng, đặc biệt không có cái xe nào hư, lủng ruột, lủng săm.

Ông còn kể, người ta lạ khi thấy cô nằm võng không cần đưa nhưng võng vẫn đung đưa, cô bảo do có nhiều liệt sĩ đưa cho cô, cô giơ tay bảo họ dừng là võng dừng ngay.
(Ông Chắt đang kể)
Thực ra với cô Hòa thì chuyện con dơi không có gì là kỳ lạ. Bởi khi thật cần thiết cô đã bắt một ít con rắn làm thuốc, khi ấy cô nói chuyện với các con rắn ở các cánh rừng, cô thấy con nào tu tốt, có thể chuyển kiếp thành người, nguyện hiến thân cứu người, nó sẽ vâng lời cô điều khiển từ xa, nằm im một chỗ cho người đến bắt về làm thuốc.

Khả năng nhìn xuyên không gian, thời gian của cô cũng thể hiện qua việc cô thường quán chiếu khắp nơi, khi thấy có chuyện không tốt, các Phật tử làm sai, cô sẽ gọi cảnh báo, nhắc nhở.

 Hôm lập bàn thờ tại nhà ông Ba ở Hóc Môn, cô gọi một cô bé lên, cô bảo khóc đi, khóc xong cô bảo con là con gái sao bỏ học, tụ tập làm những việc du côn, du đãng, có đúng không? Cô bé thú nhận đúng, lúc này bố mẹ mới biết con mình như thế và đã gởi gắm nơi cô giáo dưỡng. Chính là cô bé trong ảnh này đây:
Nếu ai sai trái nhiều, như đàn ông bài bạc, nghiện hút, đàn bà ngoại tình, tin cô nhưng còn sĩ diện, tự ái xấu hổ, nên tránh xa cô, vì gặp cô là cô “bổ vào mặt” ngay. Có người đi đánh bạc, chưa kịp chơi thì đã thấy vợ, được cô điện từ xa, đến “bắt sống”. Trai gái ngoại tình, cô còn làm phép không cho chốt cửa, cô báo cho chồng hoặc vợ đến cũng “bắt sống”! Tùy người, người biết hối cải cô giữ sĩ diện, nói riêng cho biết, còn người nào cứng đầu, phải huỵch toẹt làm mất mặt giữa đám đông mới sửa được, thì cô nói toạc ra ngay giữa đám đông.

Ngay hôm mồng 9, có người phụ nữ cô bảo tội chị nặng lắm, ra ngoài cô nói riêng cho mà nghe. Khi những người cùng làng ra về, cô bảo người quen về hết rồi, cô nói luôn cho mọi người biết, chị không ngủ với một mà ngủ với hàng chục người đàn ông cơ, còn nạo thai nữa. Chị có nhận tội không? Người kia chỉ biết lạy lia lịa xin cô tha tội. Có bà cụ trông đẹp lão, vẻ phúc hậu, cô bảo trông bà đẹp đấy nhưng miệng bà hay chửi bới hàng xóm, đối xử con cái không công bằng, bà có nhận tội không? Bà cụ cũng cúi lạy cô lia lịa xin cô tha tội:
(Trong hình này có bà cụ và người phụ nữ nói trên)
Hết người này đến người kia, cô đều nói ra những điều chỉ họ biết, tất cả đều chắp tay cúi đầu thành kính trước cô, kể cả những người chị ruột của cô.
Đặc biệt ấn tượng nhất là việc cô cảnh báo tai ương và cô gia hộ để cứu nạn.

Sáng sớm mồng 9, tôi thấy một gia đình gồm người mẹ, vợ chồng anh con trai và đứa cháu nội còn nhỏ, ăn mặc đàng hoàng, nghiêm trang, đeo băng tang là miếng nhựa đen gài trước ngực. Bà mẹ sốt ruột hỏi giờ cô tiếp khách. Không ai có thể trả lời được. Tôi hỏi nhà chị có chuyện về tâm linh phải không, chị phải đợi cô, cũng là thể hiện sự kiên trì của chị đấy. Sau đó tôi được biết gia đình đó, người chồng, cũng là ông nội chở hai cháu đi chơi bị đụng xe, mình ông nội chết còn hai đứa cháu may mắn thoát được. Gia đình này có họ hàng với ông thông gia của ông Phó Văn Tư chủ nhà cô Hòa trọ. Được biết cô chúc phúc mồng 8 thì lên chơi thôi.  Không ngờ cô trông thấy người con trai nói là sẽ gặp họa nặng, tin cô thì hôm sau lên gặp cô cô nói cho mà nghe. Đến tận trưa hôm sau, tức mồng 9, cô mới ra gặp. Cô nói người cha đã chết vào ngày phản phúc, bại nhân nên làm hại con cháu, anh con trai rồi đứa cháu nội cũng sẽ chết, cũng may gia đình có phúc gặp được cô, nếu tin cô, cô sẽ cứu được. Còn không tin thì tùy cô không cần gì cả. Có người có duyên gặp cô nhưng không hưởng phúc vì không tin cô. Cô nói ngay gia đình cô cũng “dao sắc không gọt được chuôi”, cách đây mới có mấy hôm, có đứa cháu rể con chị ruột cô, cô cảnh báo sẽ chết đuối, nghe cô sẽ thoát, nhưng không nghe nên đã chết. Hai mẹ con ngồi nghe mà khiếp vía, xin cô cứu mạng. Cô nói phải nghe theo lời của cô dặn, rồi cô gia hộ cho mười mấy chai nước. Sau khi cô gia hộ, công lực cô như truyền hết vào những chai nước, cô bị mất tiếng hoàn toàn, trông thần sắc như không còn chút sinh lực nào:




Cô phải tĩnh tâm ngồi thiền để nạp năng lượng một lúc mới hồi sức lại. Còn hình ở dưới chính là ông Đảm đang cầu cứu cô:
Cô nói ông Đảm có đứa con trai là sĩ quan quân đội, từng yêu một cô nhưng trục trặc, giờ yêu cô khác. Đứa con sẽ bị giết vì ghen tuông, bị vùi xác nên công an cũng không tìm thấy đâu, lại phải đến nhờ cô thôi. Bây giờ muốn cứu nó bác phải bảo nó đến đây, nhưng đừng nói ra, nó sẽ bảo là cô huyên thuyên sẽ thêm tội đấy, đến đây cô nói ra bí mật của nó nó mới tin, nó mới nghe cô chỉ cho nó thoát nạn.

***

Một lần nữa tôi lại phải nói cho mọi người hiểu, tôi không phải Đảng viên, không phải công chức, bị bao bất công thiệt thòi, nhưng tôi vẫn viết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, vì là người hiểu biết, với sứ mệnh người cầm bút, tôi phải bảo vệ cái tốt nhất có thể có với thực trạng Việt Nam.

Cũng như lần đầu viết về cô Hòa, tôi hoàn toàn không quen cô, tôi viết chỉ để bảo vệ lẽ phải, nay quen thân rồi thì chỉ viết ra sự thật, không phải là kết hợp với cô mở công ty, viết quảng cáo để kinh doanh trục lợi. Nếu là quảng cáo thì cô Hòa phải luôn mở rộng quan hệ với mọi người để liên kết làm ăn. Nhưng sự thực cô không làm ăn gì cả, Trời Phật ban cho cô phép mầu, không cần kinh doanh nhưng vẫn có tiền làm từ thiện. Nên cô không cần liên hệ với ai, có lúc cô cắt hết điện thoại, chỉ liên lạc với tôi và Hiền là con cả cô mà thôi. Còn bình thường, đệ tử thân thiết gọi cho cô cũng khó, nhưng có việc thì cô sẽ chủ động gọi.

Dù vậy, viết ra sự thật cô là ai, người chưa hiểu cô vẫn thật khó tin. Nhất là những người có chút học vấn, có cái nhìn khuôn theo tri thức hạn hẹp của họ về khoa học và triết học. Hôm qua, khi tôi đã về Sài Gòn, cô lại gọi:

-Anh Đông La, em buồn quá, nhiều người cứ bảo chỉ tin vào khoa học chứ không tin vào cô. Anh cũng làm khoa học nên nói ra điều này em ngại quá.

-Cô cứ nói, em đã có lần viết ông Einstein là nhà bác học giỏi nhất loài người mà còn tin Đạo Phật cơ mà.

-Vậy anh phải viết ra cho cô câu này, cứ bảo cô Hòa nói, Tạo Hóa sinh ra con người, rồi con người mới làm ra khoa học, nhưng có nhiều cái khoa học cũng không biết, không làm nổi.

-Đúng quá cô ạ. Nhưng có chuyện gì mà cô phải buồn vậy?

-Chuyện là cái Loan em cái Phương đấy. Nó lấy chồng mà không có con, đến các bác sĩ và thuốc men đủ kiểu cũng không có. Nó mới xin em, em mới gieo phúc cho nó đậu thai. Nhưng chồng nó cứ bảo đậu thai là theo khoa học, không tin em. Như vậy em thấy gia đình nhà đó không xứng đáng được hưởng phúc nên em đã lấy lại, nó sảy thai rồi. Rồi hai vợ chồng cứ đổ lỗi cho nhau, cãi qua cãi lại. Em bực mình quá!

Trong giới khoa học, không ít người tin có thế giới tâm linh, ngược lại cũng có không ít người, giỗ tết vẫn cúng kiếng, khấn vái như bổ củi, nhưng vẫn lớn tiếng phủ nhận thế giới tâm linh, cho chết là hết, không có luật nhân quả, có nghĩa là họ không tin Đạo Phật. Trong khi Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất, đã nói: “Nếu có bất cứ một tôn giáo nào đó có thể đương đầu được với những nhu cầu của khoa học hiện đại thì nó sẽ là Phật Giáo”. (If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism). Trong khi thực tế, với thế giới hữu hình, nhiều cái khoa học còn bó tay. Như nhận thức nền tảng về thế giới khách quan còn có sự không tương thích giữa Thuyết Tương đối rộng và Cơ học Lượng tử. Về y học, nhiều bệnh nan y, cả nền y học còn bó tay. Ngược lại, lại có những trường hợp y học bó tay nhưng lại khỏi bệnh như được uống thuốc tiên, mà một trong những người hiếm hoi có thuốc tiên đó chính là cô Vũ Thị Hòa. Bằng khả năng đặc biệt cô đã cứu giúp không ít người khỏi ung thư, khỏi thoái hóa khớp. Nhà bác học giỏi nhất cũng không thể nhìn xuyên qua được tờ giấy, còn cô, với con mắt thiên nhãn thông, cô có thể nhìn xuyên được cả không gian thời gian, xuyên trong lòng đất. Gần đây những vụ máy bay rơi ở Lào, việc giàn khoan Trung Quốc, máy bay rơi ở Bình Chánh, v.v.. cô đều báo trước, đều có những người chứng kiến cô nói.

Với khoa học, chỉ với hiện tượng phát xạ của vật đen khi nung nóng, kết quả lý thuyết không khớp với thực nghiệm, Cơ học lượng tử đã ra đời; hiện tượng không có phép cộng của vận tốc ánh sáng (nghĩa là vận tốc ánh sáng là hằng số), Thuyết Tương đối hẹp cũng đã ra đời; đó chính là hai cột trụ chính của khoa học hiện đại. Tiếc là trình độ xã hội chúng ta còn thấp, những người có trách nhiệm và những lĩnh vực liên quan không có người thông thái như Planck, như Einstein, nên những hiện tượng chứng tỏ khả năng siêu phàm của cô Vũ Thị Hòa rất nhiều, to lù lù như trái núi, họ vẫn không thấy gì cả. Lẽ ra nhà nước phải lập ra một viện nghiên cứu riêng về hiện tượng cô Vũ Thị Hòa. Giáo hội Phật giáo Việt Nam nếu hiểu sâu sắc về  Đạo Phật đã phải tìm về với cô, biết ứng xử phải phép với cô, tiếc là họ cũng không thấy gì cả. Cũng như những người Do Thái thờ Thiên Chúa từng không tin Chúa Giê Su là Đấng Cứu Thế vì ngài chỉ sinh ra từ gia đình người thợ mộc, trong một máng cỏ. Cũng như tôi tâm sự với một người bạn rất thân, rất nổi tiếng, về cô Vũ Thị Hòa, ông bạn tin có thế giới tâm linh nhưng không tin thần thánh lại ngự nơi một người từng mò cua bắt ốc như cô, trong khi cũng ông bạn này lại rất tin Đức Pháp Vương Nêpan là Phật sống từng thăm nước ta. Như vậy ông bạn tôi không căn cứ vào khả năng thực tế mà tin vào những danh xưng của đời phàm phong tặng hơn. Có ông sư là chức sắc của giáo hội viết một bài về hiện tượng ngoại cảm rất buồn cười, vừa hiểu rất ít về hiện tượng đó và cũng hiểu sai cả Đạo Phật. Tôi định viết một bài từ lâu mà vẫn chưa có duyên viết được.

Cũng hôm qua, quá lạ lùng khi cô Hòa gọi cho tôi:

-Anh Đông La ơi, những việc em làm cũng đúng theo Chủ nghĩa Mác-Lê Nin đấy nhé, vì nó đúng là duy vật thực chứng.

-Cô nói duy vật thực chứng cũng rất hay, nhưng theo sách vở người ta gọi là duy vật biện chứng.

-Anh thấy nhé cái gì em cũng thực cả, nhìn thực, nói thực, làm thực, mọi cái đều đúng thực, vậy là thực chứng còn gì. Chính những người có trách nhiệm để chuyện đồng cốt, bói toán, đốt tiền, hàng mã tràn lan, chuyện đi chùa rải tiền lẻ, nhét tiền vào tay tượng Phật, tất cả chẳng có gì chứng thực cả mới là duy tâm anh ạ. Anh viết ra cho cô nhé!

Về triết học, cũng có không ít người từng mang triết học duy vật Mác xít ra phê phán các hiện tượng tâm linh, người ta trích dẫn câu nói của Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Câu nói của Mác hoàn toàn đúng với lịch sử thực hành tôn giáo và tín ngưỡng của loài người, bởi có rất nhiều sự mê mụ. Đã có những cuộc thánh chiến trên quy mô thế giới xảy ra, còn hiện tại vẫn không ngưng nghỉ những sự xung đột vì tôn giáo. Tất cả chỉ vì sự mê tín, mà sự mê tín xuất phát từ việc thế giới tâm linh không nhìn thấy được bằng con mắt phàm trần, kể cả những thiết bị tối tân nhất của khoa học, người ta đã hiểu về thế giới tâm linh khác nhau, ai cũng cho mình đúng,  xúc phạm niềm tin của nhau, nên đã “uýnh” nhau! Vì vậy lấy một câu của Mác để phê phán nhận thức khách quan về thế giới tâm linh là thái độ của những con mọt sách, biến học thuyết của Mác thành ao tù, trong khi học thuyết của Mác về vận động và phát triển có quy luật “Phủ định của phủ định”, có quy luật “Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là là nguồn gốc của sự vận động và phát triển”. Nghĩa là thực chất họ không hiểu về Mác.

Còn tôi thực chất tôi chỉ là một nhà nghiên cứu, đến nay tôi vẫn không theo một tôn giáo, một tín ngưỡng nào cả. Vì tôi thấy nếu theo người ta tất phải tôn thờ, ngưỡng mộ nên sẽ giảm đi tính khách quan của nhận thức. Vì vậy tôi viết về cô Vũ Thị Hòa là viết về sự thật, viết về Đạo Phật là viết về sự thật cách hiểu hoàn toàn khách quan của tôi. Vậy thôi!

Như vậy, nếu hiểu Đạo Phật, với những khả năng cô Vũ Thị Hòa thị hiện, sẽ hiểu được rằng cô như Phật Bà, như Quán Thế Âm Bồ Tát giáng trần, cứu nhân độ thế. Bởi chỉ có Phật, chỉ có Bồ Tát mới có khả năng lục thông như thế. Đã có tới hàng ngàn người chứng kiến: Thiên nhãn thông (nhìn qua khoảng cách, chướng ngại); Thiên Nhĩ Thông (nghe được âm thanh từ xa); Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)… của cô. Những khả năng đó cô đã thể hiện trong rất nhiều vụ việc, từ tìm mộ liệt sĩ, cảnh báo tai ương, đi nhặt của “phù du”, đến việc hàng đêm cô quán chiếu khắp nơi, thấy từ xa những việc làm sai trái của Phật tử để rồi cô nhắc nhở, răn dạy, thậm chí mắng mỏ. Nhiều lần tôi chứng kiến những vị to đầu, cô chỉ hơn con cái của họ vài tuổi, kể cả đại tá đại tiếc, bị cô “bổ cho vào mặt”, vẫn phải cúi đầu chắp tay chịu trận.

Cô đã nhiều lần nói với Phật tử mình là ai, nhưng khi tôi nói sẽ viết lên cô vẫn ngại vì không ít người sẽ không tin, nói bậy, họ sẽ bị tội. Tôi nói với cô rằng tôi có sứ mệnh của một người cầm bút thấy mà không dám nói ra sự thật, giúp cho mọi người giác ngộ, thực hành đúng đạo làm người, thì chính tôi phải tội. Còn tôi đã viết hết lý, hết lẽ, trưng ra đủ nhân chứng, vật chứng, việc chứng mà họ vẫn không tin và nói bậy thì họ rất đáng bị tội thôi!

Còn tôi thấy hiện tượng cô Vũ Thị Hòa xuất hiện là trường hợp duy nhất trong toàn bộ lịch sử loài người. Đến Phật Tổ trước khi giác ngộ ngài tu luyện theo phương pháp kham khổ, ngày ăn mấy hạt đậu, đến nỗi sờ da bụng chạm xương sống, rung tay thì lông rụng ra, ngài nghĩ mình tu sai đường rồi, bởi chết đi rồi thì còn đâu mà giác ngộ, nên ngài đã ăn uống lại bình thường, và chính thiền định mới giúp ngài giác ngộ chứ không phải chuyện ăn uống. Còn cô Vũ Thị Hòa đã mấy năm nay không ăn gì cả, chỉ uống chút nước dừa và nước Lavie, càng ngày cô càng uống nước dừa ít đi. Nhưng sức của cô thì trai tráng lội suối trèo đèo theo cô cũng mệt. Còn tôi không ít lần chỉ ngồi nghe cô nói thôi cũng mệt không chịu nổi. Cô nói cô “ăn” bằng thiền là chính, khi ấy năng lượng của vũ trụ sẽ được nạp vào cô.

Và hôm nay, một lần nữa, hoàn toàn khách quan, tôi viết ra sự thật về cô Vũ Thị Hòa như một Đấng Cứu Thế đang hiển hiện ngay giữa chúng ta. Cảm ơn Thượng Đế đã cho cô giáng trần tại đất nước Việt Nam đã có quá nhiều khổ đau và còn nhiều vô minh này!

3-3-2015

(13-1-Ất Mùi)

ĐÔNG LA