Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

ĐƯỜNG ĐẾN TÂM LINH

ĐÔNG LA
ĐƯỜNG ĐẾN TÂM LINH

Từ khi viết về thế giới tâm linh, tôi bị “rơi mất một mảng” thiện cảm của độc giả. Nhiều người rất thích tôi viết chính luận nhưng lại không thích tôi viết về tâm linh. Ngược lại, tôi lại thấy viết về thế giới tâm linh là rất cần thiết. Bởi nó là nhận thức về cả một thế giới huyền bí, nhằm trả lời câu hỏi đã được đặt ra từ muôn đời, chúng ta từ đâu tới và chúng ta sẽ đi về đâu? Trước thực trạng nền văn minh vật chất phát triển kéo theo lối sống hưởng thụ, dẫn tới tình trạng đường đời, đường đạo ngược nhau, làm người ta càng ngày càng quên đi hoặc khó tin lời dạy của tiền nhân: “Sinh ký tử quy”. Người ta không biết rằng có khi con đường rộng thênh thang, phẳng lì lại dẫn tới vực thẳm; trái lại, con đường gập ghềnh, quanh co lại dẫn tới cõi tiên cảnh, bồng lai. Cô Vũ Thị Hòa hay nói với tôi, mỗi linh hồn khi lộn lại cõi trần làm người là để tu, để rũ bỏ nghiệp nặng cho linh hồn thanh nhẹ hơn, để khi về với nguồn cội sẽ siêu thoát lên những cõi thanh cao hơn. Tu ở đây là tu dưỡng, tu sửa, tu luyện. Tu dưỡng là việc bồi đắp nhân lành; tu sửa là bỏ đi những tham, sân, si; tu luyện là rèn luyện cả thể xác lẫn tinh thần. Với giới thiền sư, đạo sĩ người ta có những phương pháp luyện đạo và thiền định cụ thể.
Như vậy, nếu cả xã hội ai cũng hiểu được điều đó người ta sẽ sống vị tha chứ không phải vị ngã, cuộc sống sẽ thanh bình và tốt đẹp biết bao! Người ta sẽ biết sợ quả báo mà không dám làm những việc xấu, việc ác. Khi ấy, những người làm nghề điều tra tội phạm và xử án sẽ thất nghiệp. Đó chính là lý do đã khiến tôi bỏ ra nhiều tâm sức để viết về thế giới tâm linh.
Vậy mà đến tận giờ vẫn còn nhiều người không hiểu, cho là tôi mê mụ, hoang tưởng.
Là một tác giả cũng giống như làm dâu trăm họ, không ai có thể làm vừa lòng tất cả độc giả. Những người xấu, người ác tất phải ghét ta viết ra những điều tốt đẹp. Vì vậy tôi không bao giờ quan tâm đến thái độ của loại người này.
Lúc đầu tôi ngạc nhiên là không hiểu tại sao lại có những kẻ chống ngoại cảm điên cuồng đến thế, dù rất biết ngoại cảm cũng như mọi lĩnh vực trong xã hội, chắc chắn có chuyện lừa đảo. Nhưng với một lĩnh vực huyền bí, nhà nước đã tổ chức nghiên cứu, khảo nghiệm gần 20 năm, có nhiều thành quả, thì vơ đũa cả nắm, cho tất cả là lừa đảo là điều không đúng.
Tôi xin khẳng định một điều rằng, đến nay, khi tôi đã viết rất nhiều về cô Vũ Thị Hòa với đầy đủ lý lẽ, nhân chứng, vật chứng, việc chứng; những người đã đọc hết mà vẫn còn nghĩ xấu về cô thì đều là một lũ ngu dốt và lưu manh. Ngu dốt vì đọc mà không hiểu. Nếu tôi cố tình viết sai thì cũng bị hầu tòa rồi. Còn không hiểu lại đi nghĩ xấu và đổ tội cho người khác tất sẽ là lưu manh thôi!
Chỉ buồn là có những người quen, thậm chí có người từng thân thiết với tôi, họ hoàn toàn cảm tính, không tin là không tin, bất chấp thực tế thế nào. Trong khi cả triết học Mác lẫn khoa học, thực tiễn mới là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Thật buồn! Không phải cho tôi mà buồn cho họ. Vì với luật nhân quả, mỗi một ý nghĩ, hành động, lời nói sai, dù nhỏ, cũng cộng thêm nghiệp nặng rồi!
***
Đặc biệt trên không gian mạng tôi thấy có những người rất đồng quan điểm với tôi về nhiều chuyện, riêng về lĩnh vực tâm linh thì không. Như chủ trang Mõ Làng (tên facebook là Tâm Ngọc Lương). Mới đây khi Hường Thu Nguyễn đăng tấm hình tôi ngủ trên manh chiếu ở nền nhà cô Hòa trọ để chứng tỏ tôi viết bảo vệ cô Hòa không vì tiền, chỉ vì lẽ phải, “một cây viết thật đáng quý của Việt Nam”, không ngờ Mõ Làng lại xông vào tương cho tôi “một củ đậu”, cho đúng là tôi viết không vì tiền chỉ vì mê mụ thôi! Tôi đã đáp trả là: “Cái thằng Mõ Làng đánh “rận” thì hay mà về tâm linh thì ngu quá!” Khuya rồi lên lầu ngủ nhưng không sao ngủ được lại xuống mở máy, tôi thích nằm võng, vừa coi tivi vừa viết (chắc do nhớ “em” TU?) ở tầng trệt, viết tiếp: “Tu quả là khó, một thằng trâu, thằng lợn khen hay chê mình thì quan trọng gì mà vẫn cứ bực mình quá!” Cũng lạ, trên những trang xấu như của thằng Đại tá “Bòng Bưởi” bọn sâu bọ rắn rết ném đá, chửi tôi “như chó” nhưng tôi hoàn toàn không thấy gì, nhưng sao thằng Mõ Làng nó viết có một câu mà không sao chịu được. Tôi nhớ láng máng hình như thằng này cũng có lần comment không hay về tôi trên trang của thằng Giao. Thằng Giao này có tính xấu là nó không có trình độ và bản lĩnh để phản bác tôi trực diện, nó cứ đăng lại bài của tôi rồi để cho bọn núp danh, ném đá giấu mặt, sủa bậy!
Có thái độ với thằng Mõ làng như vậy phải chăng vì tôi có thiện cảm với nó? Vì người ta chỉ giận người mà ta quý, khi không phải với mình, chứ có ai lại đi giận tảng đá? Quả thật, trên “mặt trận” chống bọn quấy rối, hoàn toàn ngẫu nhiên, tôi và một số trang như Mõ làng, Tre làng, Bần cố nông,…, đã “hợp đồng tác chiến” rất ăn ý với nhau. Mới đây một “chiến hữu” rất thân với tôi là Võ Khánh Linh vào SG, tôi bảo mặt trận chống “rận” rơi rụng nhiều rồi, thấy chỉ còn Tre Làng, Mõ Làng và vài người nữa là còn giữ được phong độ.
Còn việc nói tôi mê tín cũng hoàn toàn vô lý như nói tôi là văn nô vậy. Tôi không theo đạo, không đi chùa, không đốt vàng mã… nhưng tôi vẫn viết về đạo Phật, về thế giới tâm linh; cũng như tôi không đảng viên, không công chức nhưng vẫn viết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Tất cả, tôi luôn viết vì lẽ phải mà thôi!
***
Tôi được đào tạo về khoa học tự nhiên, đi làm tại các viện và trung tâm nghiên cứu, rồi sinh sống bằng chính các kết quả nghiên cứu của chính mình, làm sao tôi có thể là một người mê tín, hoang tưởng? Mọi người cần phải hiểu tôi nghiên cứu thế giới tâm linh là cả một hành trình, chứ không phải hứng lên, bênh người này, vực người kia, tôi mới viết. Tư duy của tôi là tư duy mở, tôi luôn thu nhận tất cả những tri thức mới. Tôi không bao giờ kết luận những vấn đề mà tôi chưa hiểu cặn kẽ. Không như những “nhà khoa học” nhìn các vấn đề khuôn theo tri thức hạn hẹp của họ, bất chấp thực tế thế nào.
Chứng nghiệm về tâm linh đầu tiên của tôi là từ bé. Xóm tôi có ông Chật, vì gia đình là địa chủ nên có tiền được đi học, biết tiếng Pháp. Khi ông anh ông Chật bị bệnh sắp chết bảo ông Chật: “Sau này mày đi gọi hồn tao lên thì nói tiếng Pháp”. Cách quê tôi mấy cây số có bà “gọi dí” ở làng Chu Quan  hay Châu Quan gì đó rất hay. Sau khi ông anh chết, nhớ lời anh, ông Chật đã đi “gọi dí”. Từ một người nhà quê hoàn toàn không biết tiếng Pháp, “bà gọi dí” đã nói chuyện với ông Chật bằng tiếng Pháp. Như vậy chỉ có hồn ông anh ông Chật nhập vào, “bà gọi dí” mới nói được như vậy mà thôi. Đây là câu chuyện tôi chứng kiến hồi bé, khi mà hoàn toàn chưa có khái niệm ngoại cảm, tôi nhớ một cách tự nhiên chứ không phải nhớ để mà hôm nay ngồi viết. Câu chuyện nhỏ nhưng đã tác động vào tôi một cách vô thức khiến tôi chưa bao giờ phủ nhận thế giới tâm linh. Nhưng nó cũng không đủ để tôi hiểu biết, tin tưởng như hôm nay.
Trước đây vì học và làm nghiên cứu khoa học, tôi cũng không quan tâm đạo Phật, tôi không phủ nhận mà chỉ thấy những ông sư đầu trọc, chân đất, đi khất thực ngồ ngộ thôi. Cũng loáng thoáng nghĩ là sao họ lại khổ như thế? Chỉ khi viết về cuốn sách của Nguyễn Hữu Sơn tôi mới nghiên cứu về đạo Phật. Tôi có cái khả năng khiến cho những người quen biết tôi “sợ khiếp vía” là, có những lĩnh vực rất phức tạp, từ chỗ hoàn toàn không biết gì, nhưng nếu tôi quan tâm thì chỉ sau một thời gian ngắn, tôi biết hết ráo. Nhà thơ Anh Thơ, người khởi nguồn dẫn tôi vào con đường văn chương từng nhiều lần nói với tôi: “Cô chưa gặp ai thông minh như cháu bao giờ” có lẽ là vì thế. Đến với Đạo Phật tôi mới biết, thì ra chính thiền định đã giúp Đức Phật Tổ có khả năng thần thông (lục thông), nhìn xuyên không gian, thời gian, nhìn thấy cả các cõi, các kiếp… Nhưng tôi chưa tập thiền vì tôi chỉ muốn làm khoa học, chỉ muốn là nhà văn nổi tiếng thôi, tôi không muốn làm thần thánh. Mãi đến khi gặp lại thằng bạn tôi cùng học khoa Hóa, từ một thằng “sinh viên cá biệt”, nó đi xuất khẩu lao động bên Đức, không hiểu sao nó lại thành một GSTS luật. Nhưng điều tôi chú ý là nó kém tôi có một tuổi nhưng trông rất trẻ. Tôi hỏi bí quyết thì nó bảo là do tập thiền. Nó bảo nó có thể ngồi mấy tiếng, tay tỏa ra mùi thơm. Còn tôi thấy cơ thể cũng đã đến giai đoạn xuất hiện các bệnh thoái hóa rồi, mà thoái hóa là bệnh già, thuốc Tây không chữa được, chỉ có thể hạn chế, khống chế bằng Đông Y và luyện tập mà thôi. Vì thế mà tôi đã thử tập thiền. Nhưng tôi lại tập theo kiểu của tôi. Để “cho nó sướng”, không mỏi lưng, tôi khoanh chân đúng theo thế kiết già, mắt cá chân phải điểm đúng huyệt tam âm giao chân trái, nửa nằm nửa ngồi trong cái ghế phô-tơi gỗ, xem tivi. Tôi giữ tư thế đó đến khi hai bàn chân tê đi, máu tụ tím bầm, mới bỏ ra. Lúc đó hai bàn chân máu lưu thông trở lại đỏ hồng lên như ngâm chân nước nóng vậy.
Cứ ngồi chơi như thế một thời gian, điều kỳ diệu thứ nhất đã xảy ra, những vết chai ở gót và mé trái bàn chân trái tôi, từ chỗ rất dầy và có nguy cơ dầy thêm lên, đã dần biến mất. Nó chuyển sang tụ ở chỗ “gân Asin” rồi bong ra như lớp vảy. Mé trái bàn tay trái tôi bị tê và cũng bị chai như dưới chân, cũng dần biến mất tiêu. Vậy chỉ do máu lưu thông tốt hơn, đến nuôi dưỡng tốt hơn nên mới làm mất đi những vết chai. Thực ra tôi mới chỉ ngồi thế kiết già thôi chưa thiền định gì cả mà đã có tác dụng như vậy rồi thì quả là kỳ diệu. Từ kết quả đó tôi thiền nghiêm túc hơn, nhắm mắt, tĩnh tâm. Một thời gian sau thì xuất hiện điều kỳ diệu thứ hai. Có lần tôi ngồi ở ghế phô-tơi, bắc chân chữ ngũ, thư giãn xem tivi, tôi thấy lòng bàn chân mình dần nóng lên (chỗ huyệt dũng tuyền), như có luồng xung điện chạy vào. Rồi thư giãn hơn nữa, tôi thấy xung điện vào khắp cơ thể, làm người mình căng lên như quả bóng, tôi như hòa tan vào thế giới xung quanh. Từ đó, tôi tập trung ý nghĩ ở đâu là ở đó nóng lên, lúc đó tôi mới hiểu, thì ra bên khí công người ta nói “ý ở đâu khí ở đó” là như thế. Khi xem sơ đồ kinh mạch trên cơ thể, tôi cũng có thể dùng ý nghĩ vẽ ra trên cơ thể mình, nó như một dây cao su nối bằng xung năng lượng làm cả đường kinh nóng lên. Chưa hết, điều kỳ diệu thứ ba còn tuyệt hơn. Một hôm nhắm mắt thiền, tôi thấy vị trí phía trên huyệt Ấn đường (giữa hai lông mày), tôi thấy có những chấm sao rất nhỏ, lúc lan ra, lúc xoay vòng, tỏa ra một thứ ánh sáng mầu xanh phớt tím rất đẹp, như mầu lửa bếp ga vậy. Có tài liệu gọi đó là khí quang.
Đọc kinh của cô Vũ Thị Hòa viết ở trạng thái cô thiền, xưng danh là Phật Bà, có viết về Huyền Quan Khiếu. Huyền là huyền diệu, quan là cửa khẩu, khiếu là lỗ nhỏ, chính là nơi cư ngụ của linh hồn. Linh hồn cũng chính là chân ngã, là bản tính do Thiên phú, nơi Phật gọi Phật tính. Linh hồn đó cũng chính là điểm linh quang. Điểm linh quang là một điểm sáng. Thái cực là một khối đại linh quang đã chia ra ban cho mỗi chân ngã một điểm tiểu linh quang, khi đầu thai sẽ thành người.
Gần đây tôi có xuống ăn cơm nhà anh Duật, tiễn đoàn của Lịch về Bắc với cô, sau chuyến về SG dự một đám cưới. Lịch là một trong mấy người luôn đồng hành cùng cô đi làm tâm đức mấy năm nay. Tôi đã bỏ tập thiền, gần đây tôi lại tập luyện trở lại và thấy cần phải tập luyện một cách bài bản, nghiêm túc hơn. Cả phép luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần của đạo và tĩnh tâm của thiền. Đọc tài liệu về luân xa thì thấy Luân xa 6 chính là vị trí phía trên huyệt Ấn đường, liên quan đến tuyến tùng của bộ não. Người ta cho rằng, người tu luyện đắc đạo thì con mắt thứ ba mà nhà Phật gọi là huệ nhãn sẽ được khai mở. Nó chính là Huyền Quan Khiếu theo kinh sách của cô Hòa viết. Lịch kể cho tôi biết, hồi cô mới “phát sáng”, trên chỗ hai lông mày của cô giao nhau có hiện lên một vết đỏ, ảnh cô chụp đây:

 (Mắt Phật)

 Cô ngại mọi người biết nên thường lấy miếng vải quấn che đi. Như vậy theo kinh sách thì vết đỏ đó chính là hiện hình con mắt Phật của cô. Cô cũng nói cho mọi người biết hình dáng của cô rồi cũng sẽ dần khác đi. Quả thật, tôi vốn biết cô với hình dáng như cô thanh niên xung phong, nhìn ảnh cô sau này thấy khác quá, tôi phải hỏi ông Sử thì ông ấy bảo hai người chính là một. Nhiều người bảo nhìn cô có lúc thấy thần sắc cô đúng như Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện vậy. Chính vì thế người ta từ già chí trẻ đã gọi cô là “cô” xưng “con”. Bản thân tôi đây cũng đã chuyển cách xưng hô, đã gọi cô là “cô” và xưng “em” cho phải phép là vì thế.
Như vậy phải chăng khi thiền định tôi đã nhìn thấy điểm sáng mầu xanh lan tỏa tuyệt đẹp chính là tôi đã nhìn thấy điểm linh quang, nhìn thấy linh hồn của chính mình?!
Tôi nói chuyện với thằng bạn GS, nó bảo tôi như thế là “nhạy” đấy, chứ nó luyện rất nhiều, lại trước tôi rất lâu, nhưng chưa được như thế. Còn tôi thực ra ngồi thiền chơi chơi thôi, lúc có lúc không, sao lại được như thế? Cả cô Hòa, cả kinh sách cũng viết, con người đa phần vô minh, điểm linh quang đắm chìm trong ô trược nên bị che mờ, vì thế mà ngu muội trong nhận thức, sai lầm trong hành động. Còn tôi phải chăng tâm hồn tôi trong sáng, điểm linh quang ít bị che chắn, nên tôi thiền sơ sơ thôi đã thấy nó, và phải chăng vì thế mà tôi sáng dạ hơn người bình thường một tí chăng? Cụ thể kinh của cô viết:
Cái điểm linh quang rất quý báu các con không lo mà ngồi mà luyện cho tinh ba thì rất là uổng! Đời của các con chỉ là vinh diệu, an vui, đời đang thị đáng khinh mà các con mãi chôn mình trong vũng tanh hôi, ao nhơ bẩn, các con vì phong trần đưa đẩy, bởi mang xác thịt nặng nề khó bề xoay trở, điểm linh hồn các con nhập vào xác thịt bị hậu thiên che lấp, ngũ trược chặn đè, không tu luyện khó mong thoát ra cho khỏi (bởi mang xác thịt). Mà hễ mang xác thịt nặng nề này, tránh sao khỏi thất tình lục dục sai khiến! than ôi!
***
Còn với hiện tượng ngoại cảm, giữa ngổn ngang tạp pí lù những thông tin khen chê trái ngược nhau, ngay từ đầu lúc chưa quen cô Hòa, cái tôi chú ý nhất là khả năng ngoại cảm có thật không? Nếu khả năng ngoại cảm có thật nghĩa là thế giới linh hồn có thật. Và rồi tôi nhận ra, với mỗi nhà ngoại cảm đều chứng tỏ cho tôi biết hoặc ít, hoặc nhiều, khả năng giao tiếp với cõi âm, với người chết của họ là có thật. Như ông Đỗ Bá Hiệp nói với người mẹ một người lính Mỹ đã chết khi tham chiến tại VN, ông nhìn thấy linh hồn con bà đi tập tễnh, buộc bà phải tin vì sự thật đúng là như thế. Ông Nguyễn Văn Liên tìm thấy mộ cố TBT Trần Phú tại Công viên Lê Thị Riêng, người em ruột, từng núp ở bụi cây chứng kiến người ta chôn anh mình, đã xác nhận ông Liên tìm đúng. Ông Nguyễn Văn Nhã và Phan Thị Bích Hằng, người Nam kẻ Bắc, đã chỉ cựu PTT Trần Phương tìm đến đúng vườn nhãn ở Hưng Yên chôn em ông, cô Khang, người nữ du kích trong đội du kích Hoàng Ngân anh hùng. Chi tiết làm GS Trần Phương tin Bích Hằng và làm tôi tin câu chuyện của ông kể lại chính là việc ông mang tấm ảnh ông Sơn là anh ông để thử Bích Hằng, nếu đúng linh hồn cô em ông về thì phải nhận ra người trong ảnh là ai. Nhưng ông chưa kịp thử thì Bích Hằng đã nói có người tên Sơn về cùng cô Khang rồi. Còn vô vàn chi tiết khác như thế nữa buộc tôi phải tin là có thế giới tâm linh, và với tôi chỉ cần như thế. Còn tất cả lĩnh vực ngoại cảm nói chung, đúng sai thế nào, ai tốt, ai xấu, ai vừa tốt vừa xấu, vừa đúng vừa sai, tham hay không, lừa đảo hay không, là công việc của công an, của pháp luật. Nhưng có người phạm pháp không có nghĩa tất cả là lừa đảo, là thế giới tâm linh không có thật; tôi tin cô Hòa là mê tín!
***
Tôi biết đến cô Hòa đầu tiên do báo Lao động viết cô lừa đảo. Khi tìm hiểu, xem những băng video mà Huỳnh Quốc Hồng “pốt” lên trên mạng, tôi thấy thì ra chính “cái cô này” mới đúng là nhà ngoại cảm giỏi nhất. Khi tìm liệt sĩ cô không cần nhang khói, cúng bái gì cả, như một cô thanh niên xung phong, mũ tai bèo (sau được biết do Trung tướng Triệu Xuân Hòa, đương chức Tư lệnh QK7, cấp), hai bàn tay cô ngửa lên như bắt quyết, hết bãi tranh, nương sắn, cả dưới gốc cây, cô tìm cả chục hài cốt liệt sĩ một lúc. Là một cựu chiến binh từng bó tăng chôn đồng đội, tôi càng tin cô hơn. Khi thấy Thu Uyên nói láo về cô trên VTV1, tôi đã viết bảo vệ cô là vì thế.
Rồi khi gặp cô, gặp những người chịu ơn cô, tôi đã tìm hiểu, đã được nghe kể, được trực tiếp chứng kiến. Tôi đã đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, rồi cuối cùng không ngạc nhiên gì nữa, vì đối chiếu với kinh sách, tôi thấy cô đúng là Phật Bà thị hiện. Bởi chỉ có là Phật, cô mới có khả năng lục thông, nhìn xuyên không gian thời gian, nhìn thấy cả cõi âm, điều khiển được dã thú, nói chuyện được với cây cối, cô mới viết ra những câu chữ mà chỉ thần thánh mới viết được, v.v… Cô đã tự nhiên thể hiện những khả năng siêu phàm đó qua hàng mấy trăm vụ việc, đã có đến hàng ngàn người chứng kiến, từ cựu UVTƯ Đảng, tướng lĩnh, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu ngoại cảm, đến thường dân. Tôi chỉ kể lại vài chuyện mà chính tôi đây là nhân chứng.
***
Lúc đầu quả thực tôi chưa có ý muốn gặp cô nhưng bà xã tôi tự dưng đi lại lại khó khăn, bác sĩ trưởng khoa ở BV Thống Nhất bảo phải mổ ngay, nếu không sẽ bị liệt. Vì thế tôi mới có ý định gặp và thử hỏi cô xem sao. Không ngờ cô bảo “Anh yên tâm, em sẽ chữa cho chị khỏi mà”. Đến giờ bà xã tôi không mổ, chỉ uống thuốc của cô, nhưng không bị liệt như tay bác sĩ nói mà vẫn đi lại bình thường, chỉ có đi ra ngoài đường thì vẫn ngại.
Còn chuyện cô nhìn xuyên lòng đất thì tôi có chứng kiếm một lần. Tôi đã trực tiếp phỏng vấn hai ông bà và cô con cái một gia đình ở Hóc Môn. Cô bảo dưới nền nhà đó có mộ nên gia đình hay gặp rắc rối. Ông chủ nhà không tin, tự nhiên đào cả cái nền gạch bông lên thì lại càng không muốn. Nhưng rồi thằng con trai đi vắt sữa bò bị tai nạn suýt chết, lần khác uống rượu về cầm dao chém em trai đúng như cô cảnh báo. Lúc đó ông chủ nhà mới sợ quá xin cô đến giúp, đào nền nhà lấy mộ lên. Ông cũng tin cô sái cổ khi cô nói đúng chuyện vườn nhà ông ngày trước từng chôn hũ vàng, làm thành nải chuối và con cóc, nhưng không biết để mất vào tay người trong xóm. Trước khi đào mộ, bà chủ nhà cũng xác nhận bà thường bị hồn ma một cô gái hiện lên trêu chọc, nhưng bà sợ ảnh hưởng nên vẫn giấu. Cô nói đó là một cô gái người Tầu, họ Quách, xác bó chiếu chôn hơn một 100 năm nên không còn gì, chỉ còn một chiếc đĩa nhỏ, khi chôn người ta đã để ở gót chân cô gái theo tục lệ gì đó, đào đúng 2,7m sẽ thấy. Hôm ấy tôi cùng khoảng vài chục người thức trắng chứng kiến đào mộ. Đào từ khoảng 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm không xong phải dừng lại, đến giờ đầu ngày sau mới được đào tiếp, nên phải đến khoảng 4 giờ mới xong, lấy lên cái đĩa ở góc hốc chân tường đúng như hình cô vẽ trước.
Còn chuyện cô nhìn xuyên không gian thì đó là việc cô từ Hà Nội nhưng lại biết chính xác những việc tôi làm tại Sài Gòn. Kỳ lạ hơn, thằng con tôi ở nước ngoài phải qua một việc mà chính tôi cũng chưa biết cụ thể, tôi phải hỏi vợ tôi, thì mấy phút sau, từ Hà Nội cô gọi vào nói cả đêm qua cô thiền để gia hộ cho thằng con tôi. Thật kỳ lạ còn hơn cả kỳ lạ! Đây là việc của chính tôi nên không thể sai được, chỉ khi tôi bịa đặt thì mới sai mà thôi, có điều tôi không bịa chuyện để làm cái gì cả.
***
Nguyễn Thúy Huyền, một Phật tử thân thiết của cô Hòa ở Lục Yên, Yên Bái, người từng chứng kiến và quay một số hình ảnh cô thể hiện khả năng siêu phàm đưa lên facebook của mình, mới điện cho tôi bảo:
- Hoàng Anh Sướng mới viết một cuốn sách về ông Thích Nhất Hạnh, bảo ông ấy là Phật sống, anh vào xem sao nhé!
Thiền sư Thích Nhất Hạnh nổi tiếng tầm thế giới nên tôi cũng biết tên từ lâu, nhưng quả thực chưa đọc ông viết, chưa nghe ông nói lần nào. Mãi vừa rồi ông BS Thành có nhắc đến tôi trong một comment dưới bài viết của một ông bác sĩ khác viết về ông Thích Nhất Hạnh. Tôi mới thử nghe một video Thiền sư Thích Nhất Hạnh giảng, thấy ông giỏi cả tiếng Hán, tiếng Anh. Với người thường thì nghe ông giảng sẽ rất hay, ông nói chậm rãi, kỹ càng nên dễ hiểu. Nhưng với tôi thì đều là những điều thông thường tôi đã biết cả, nếu tóm lại bài ông giảng thì chỉ cần gạch đầu dòng mấy cái là đủ. Nếu chỉ viết sách và giảng dạy như thế thì dù đức độ của ông có cao đến mấy thì vẫn là người phàm thôi chứ không thể là Phật được. Còn thực tế ông có những khả năng siêu phàm khác nữa thì tôi chưa được biết. Cũng như một lần tôi nói chuyện với Nguyễn Quang Thiều về cô Hòa, Thiều bảo có tin vào thần thánh, nhưng không tin là thần thánh lại ngự nơi một người như cô Hòa. Rồi Thiều khoe từng được tiếp và phỏng vấn Phật sống là Đức Pháp vương ở Butan, từng mấy lần sang thăm nước ta. Tôi tìm hiểu thì biết ngài Pháp vương này cũng viết sách, giảng đạo, đã kêu gọi và tổ chức, rồi tự mình tham gia luôn việc nhặt rác, giữ gìn môi trường sống, nghĩa là cũng chỉ làm những công việc phàm trần thôi. Còn ngài có khả năng siêu phàm gì nữa không thì tôi cũng không được biết.
Nói chung người đời dễ tin vào danh xưng của đời phàm nhiều hơn, người càng nổi tiếng thì người ta càng dễ tin. Nhưng trong thực tế, các quy luật khoa học cao siêu thường ẩn trong các hiện tượng tự nhiên, cũng như thần thánh có khi lại ẩn trong dáng dấp người thường. Chỉ có người thông thái, minh triết, mới nhìn xuyên qua được lớp vỏ bọc, mới phân biệt được đâu là hồng ngọc, đâu là hạt nhựa.
Theo lời Thúy Huyền tôi tìm hiểu thì ra ông Nhà thơ Trần Đăng Khoa ca ngợi Thiền sư Thích Nhất Hạnh “như Phật sống” chứ không phải “là Phật sống”. Điều này cũng bình thường thôi vì trong văn chương người ta cũng hay ví von những người có đạo đức cao cả là thần, là Phật. Còn tôi khi viết về cô Vũ Thị Hòa, bằng tất cả những gì tôi chứng kiến và hiểu về cô, so với những hiểu biết của tôi về Đạo Phật, thì tôi cho rằng cô là Phật Bà thật chứ không phải ví von văn chương.
Những người ngu muội cố tình không tin thì không nói làm gì, còn những người khách quan, vì chủ kiến mà không tin, nếu bác bỏ xin hãy viết bài gởi cho tôi, tôi sẽ đăng ngay và sẽ trả lời. Còn không chịu tìm hiểu mà cứ phán bậy, xúc phạm thần thánh, là sẽ bị tội nặng đó!
          4-4-2015
          ĐÔNG LA