Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

TRẦN NGẪU HỒ: KHOA HỌC LÀ TỪ ĐÂU, VÀ Ở ĐÂU TRONG CUỘC SỐNG?

Để thay đổi không khí, hôm nay tôi đăng lá thư đặc biệt này:
TRẦN NGẪU HỒ
Thư gởi anh Đông la:
KHOA HỌC LÀ TỪ ĐÂU, VÀ Ở ĐÂU TRONG CUỘC SỐNG?

Thân thiện chào anh Đông La (ĐL),
Thưa anh ĐL tôi lại viết thơ gởi anh vì vài lý do, mà tôi liệt kê dưới đây:
1/ Tôi ngạc nhiên vì anh cho bài: “Lý giải những chuyện gọi hồn, ngoại cảm” xuất hiện nhanh chóng, mà trước đó tôi nghĩ vì nội dung của bài ấy đã có vẻ hơi khác những điều anh tin (đã tin tích cực từ trước) trước những hiện tượng gọi hồn của các nhà ngoại cảm, nên tôi cứ nghĩ chắc anh sẽ cho bài ấy “ngâm tôm” lâu lắm. Qua sự kiện này chứng tỏ anh là một nhà lý luận, duy lý và tôn trọng những ý kiến khác nhau.
2/ Anh viết:.. Về những vấn đề liên quan đến tôn giáo và tâm linh nói chung khi chưa có thực tế chứng tỏ và khoa học gián tiếp xác nhận thì tôi sẽ không có ý kiến cụ thể. Những lĩnh vực mà anh Trần Ngẫu Hồ quan tâm thuộc những vấn đề như vậy”…
Như vậy hiển nhiên anh đã đặt tiêu chí khoa học lên hẳn những giá trị khác, đây là quan tâm chính của tôi trong bức thư này gởi anh, đồng thời nó cũng là điều từ lâu tôi muốn nêu lên để bạn đọc quan tâm cùng nhau góp ý và định vị trí cho khoa học.
Vì có định được vị trí cho khoa học chúng ta mới không bị nhận xét sai về nó và không bị lẫn lộn nó sang những giá trị lãnh vực khác nữa. Ít nhất trong sự tổng quát của vấn đề.
4/ Còn vấn đề anh nói: “Tâm linh nói chung, khi chưa có thực tế chứng tỏ và khoa học gián tiếp xác nhận”. Thì tôi cần phải bàn với anh một chút.
Nhưng trước hết ta phải xem khoa học nằm ở đâu trong cõi thế giới này.
Bài trước tôi tạm vẽ thế giới (Vô minh) như một quả cầu hình bầu dục, có một vách ngăn ở giữa, phần trên ta gọi là vô minh dương, phần dưới là vô minh âm. Và cũng trong bài đó chúng ta đã biết sơ qua vô minh âm, lần này ta đi vào và khảo sát vô minh dương, được xem như đời sống đang tiếp diễn trước mắt chúng ta đây.
Theo tôi nghĩ, cõi thức vô minh dương này có 5 thế giới, 5lớp (Layer). Chứ không phải chỉ một mà thôi. Để tôi liệt kê, bạn đọc sẽ thấy rõ.
Thế giới thứ nhất, hay lớp thứ nhất, ta coi như đời sống với những cụ thể đang ở chung quanh ta, sơn hà, đại địa, nhà cửa, con người hữu vi đang ở trước mắt ta, mà khoa học gọi là thế giới vật chất hữu hình. Phật giáo gọi là sắc pháp, hay sắc tướng.
Tôi chịu mấy ông Phật giáo này ghê, chia chẻ rạch ròi, chẳng phải là những gì sờ mó được mới gọi là hữu vi, nhưng những gì nhỏ nhiệm như vi trần: họ gọi là cực lược sắc, mà xa xăm tù mù như hiện tượng còn gọi là cực hánh sắc, mà những sắc do ý thức vọng tưởng, hay do ý thức lãnh thọ mà có, hay do tu định mà hiện tướng như nước, lửa, thế giới cũng được gọi là sắc, tức là cũng thuộc hữu vi rồi. Ghê thật.
Lớp sắc tướng này nằm ngay trên lằn ranh vô minh âm, và còn gọi là vô minh dương. Là cõi ta bà.
Trên lớp sắc tướng, vô minh dương này, lớp thứ 2, là một lằn gạch đứt quãng, ta gọi đó là lớp trừu tượng theo khoa học thuờng gọi, hay là lớp danh pháp theo như Phật giáo gọi. Danh pháp chẳng hẳn phải chỉ là tâm lý, mà danh là những gì có tên mà không có mặt, không hiện tướng, nhưng nó lại có trong đời sống, thí dụ như nỗi nhớ mong, như lòng ganh, ghét, như một âm mưu (lúc chưa hiện lộ), như lòng thương yêu chẳng hạn. Tất cả những gì kể ra mà không có hữu hình, không có mặt nhưng có trong đời sống thì đều là danh pháp được cả. Hoặc những từ như: “Tiếng sét ái tình”, “bánh vẽ”, “đòn gió”,  “cái ngã” “cái ta” “lông rùa” “sừng thỏ” … chẳng hạn, cũng gọi là một danh pháp được.
Thế nên trong văn chương, thơ ca là phương tiện để làm hiển lộ, làm rõ nghĩa, lôi kéo những trừu tượng trong danh pháp vào với hữu vi tối ưu hơn những phương tiện khác, nghĩa là nó làm rõ những trừu tượng để người đọc thấy rõ ý nghĩa, giá trị của danh pháp trừu tượng.
Nên những người sâu xa, sành điệu thường thích thơ là thế,  
Như vậy lớp trừu tượng này cũng là phi hữu, nhưng phi hữu gần sát như dính với hữu, không có nó không được.
Sắc pháp và danh pháp đều có 3 phần là: thể, tướng và dụng.
Thế giới thứ 3, là lớp lý, lớp thứ 3, lằn ranh nó với lớp trừu tượng mờ nhạt. Lý là những điều tự nhiên mà có, do sự có mặt của cái này, nên cái kia có mặt. Thí dụ như: Quả đất quay, thì tự nhiên có lực hút vào tâm nó, thế nên khi ta nhẩy lên cao thì ta rơi trở lại mặt đất. hoặc như khối lượng của ta nhỏ hơn (hoặc lớn hơn nhưng vẫn nhẹ hơn), nhẹ hơn khối lượng của nước thì ta nổi lên. Tỷ trọng của dầu nhẹ hơn nước nên cho dầu vào nước là tự động nó nổi lên. Tất cả những gì thuôc phạm vi này đều thuộc về thế giới của lý. Những lý nằm sát với trừu tượng hoặc hữu vi thì ta thấy rõ.
Khoa học chi phối, ảnh hưởng 3 lớp này một cách sâu sa, con người chúng ta có thể dùng khoa học để tìm hiểu, chứng minh phần lớn những gì thuôc ở ba lớp này.
Nhưng những lý nằm sâu hơn thì chúng ta không thấy và khoa học cũng không chứng minh đưọc nó, như lý luân hồi, như khả năng thần thông của một con người, khả năng đạt được một số công năng từ thiền định của con người, khả năng kiến tánh vô sanh, khả năng đắc đạo của con người. Khoa học không thể nào chứng minh một cơn thiền định, chụp hình cái thấy trong thiền định được. (Có thể sau này sẽ được?).
Nhưng khoa học từ đâu? Và nó ở đâu trong đời sống con người? Trả lời rành mạch được câu thứ nhất, thì câu thứ hai cũng rõ thôi.
Theo tôi, khoa học xuất hiện vào đời sống con người từ rất sớm, trước triết học và dĩ nhiên trước các tôn giáo đa thần xa lắm. Nó xuất hiện gần như đồng thời với thức người được thành lập, nghĩa là nó xuất hiện khi cộng đồng người, mà đại diện là cái gia đình đầu tiên giữa một người đàn ông\ và hai người đàn bà “ký giấy hôn thú” sống chung với nhau, theo khoa học di truyền thì tổng số nhân loại hơn 7 tỷ ngày nay đều phát xuất từ cái gia đình đầu tiên này.
Sao họ biết? Họ biết vì họ đi tìm nguồn gốc DNA từ các cộng đồng nhân loại. Tôi không đi sâu vào chuyên môn này vì sẽ đi xa chủ đề mà tôi muốn nêu hôm nay.
Sự phải đối mặt để giải quyết những khó khăn chung quanh mình đã bắt đầu cho thức người khi cái gia đình đầu tiên đó được thành lập.
Tôi phân tách rõ trong tác phẩm: “Tuyên Ngôn Về Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang” (TNVTTVT.TBB) nơi chương 7: Nguồn gốc của Thức.
Bạn đọc có thể tìm hiểu tác phẩm này qua sự liên lạc với địa chỉ: thetrangvutru@yahoo.com
Thức người (thức thứ 6, ý thức, trong duy thức hoc) từ đây lớn dần, theo nhau từng những sự kiện lớn nhỏ xuất hiện, giải quyết hết chuyện này thì chuyện khác lại xuất hiện, điều mà Phật Giáo gọi là vì cái này có nên cái kia có, lâu dần theo thời gian tâm sinh diệt theo đó được hình thành trở thành lớn, vững mạnh. Thức từ tâm sinh diệt, tâm sinh diệt từ thức cả hai đắp đổi cho nhau.
Thế nên khoa học, kỹ thuật cũng khởi đầu từ thức, tức tâm sinh diệt mà ra. Sau này gọi là trí khôn, kiến thức cũng chỉ khởi đầu từ những sinh diệt sơ khai này. Những dụng cụ bằng đá, trở thành những vũ khí thời đồ đá, qua sự suy nghĩ từ thức.
Nên duy thức kết luận: “Ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức”, là một kết luận sâu xa, chính xác. Điều mà chúng ta có thể kiển chứng được từ những biến đổi từ thành quả của nó từ những lớp trước đó trong đời sống.
Câu hỏi khoa học từ đâu, như vậy đã được trả lời, khoa học là từ thức của con người, tức từ tâm sinh diệt mà ra.
Thế nên nó ở vị trí rất quan trọng trong đời sống. Chính nó đẩy đời sống đi lên, con người không thể xem thường nó, bỏ qua nó.
Thế giới thứ 4 hay lớp thứ 4, là lớp khoa học thiền định, hay còn gọi là thiền tánh không của Phật Giáo. Tất cả những công phu tu tập từ thiền định sâu dầy hay cạn sẽ đưa hành giả vào các cõi giới cao hơn. Các cõi trời dục giới, hay các cõi trời vô sắc giới. Thế nên câu 3 cõi duy tâm là nghĩa này: Cõi trời dục giới, cõi trời vô sắc giới, và cõi đại định vô sanh, cũng đều do tâm huân tu mà thành.
Lớp này cao hơn lớp thứ 3, muốn hiểu và vào lớp này phải dùng sức huân tu từ thiền định, tức phải có trí tuệ từ thiền định, phải có thần thông, nên gọi lớp này là lớp của thần thông lúc còn mang thân xác hữu hình cũng đúng.
Những người có sức huân tu thiền định, có được một số trí tuệ từ thiền định có khả năng thần thông, câu thông được với cõi vô minh âm, nhìn xuyên suốt dưới mấy thước đất như trường hợp cô Hòa, khoa học không can thiệp và giải thích đuợc, vì khoa học chỉ có trí từ thức, chứ khoa học không có trí (tuệ) từ thiền định. Nên khoa học không vào được sâu hơn những hiện tuợng phi hữu như luân hồi, như các hiện tượng của thần thông.
Tôi đã xem được một màn trình diễn trên youtube (nếu tìm chắc vẫn còn): Ba ông physict người Đức veston, cà vạt đứng há hốc mồm, chứng kiến trước một ông fakir (đạo sư) người Ấn Độ, chỉ dùng một cái kèn, thổi trước một rổ dây thừng lớn trước mặt. Cuộn dây từ từ đứng vươn thẳng lên không, giống như một con rắn lớn. Rồi đứng thẳng như một khúc cây.
Một lát sau đó, ông đảo đảo cái kèn, ra hiệu cho một chú bé khoảng 10 tuổi leo lên cái dây thừng đó, chú ta leo lên khoảng 5 thước cao, uốn éo một lúc, rồi từ từ leo xuống. ông Fakir ngưng thổi kèn, sợi dây thừng rớt xuống như người ta rút đi cái lực của nó vậy. Rõ ràng khả năng thần thông của ông fakir này đã không chịu ảnh hưởng của vật lý (tức lớp thứ 3) rồi.
Ba ông physict chứ tất cả các ông physict cũng đều chịu thua thôi. Vì các ông dùng thức, tâm sinh diệt, mà tìm hiểu, trong khi khả năng của ông fakir là từ sức huân tu từ thiền định (một loại thiền của môn phái của ông ta) mà thành. Làm sao mà các ông physict hiểu nổi? Thế nên đi vào các lớp (thế giới) này mà dùng khoa học của con người để đặt chuẩn mực là vô nghĩa, là không theo đúng với giá trị của nó.
Lớp thứ 5 là lớp đại định vô sanh, tức vũ trụ đại định, tức bản thể, tức niết bàn, nơi chư Phật, chư tổ Thiền tông, và của cả những chúng sinh đã đạt được đại định vô sanh vào ngự trị. Như vậy vũ trụ đại định , hay niết bàn vô sanh, hay đại định vô sanh nó là thuộc phi hữu nhưng thực hữu. Thực hữu vì ai ai cũng có thể thực hiện việc đi vào nó trong hiện đời, bằng những phương pháp thực tiễn của Phật Pháp.
Muốn vào được cõi này phải có định vô sanh, kiến tánh vô sanh, (tức đi, đứng, nằm, ngồi đều không rời trạng thái thiền định) và sau cùng là đại định vô sanh, tức tâm rỗng lặng thường xuyên, tâm này đồng bản thể với vũ trụ đại định, vũ trụ trước big bang xảy ra.
Lớp thứ 5 ở ngoài, ra khỏi vô minh, và như vậy các cõi trời cũng vẫn còn trong vô minh dầu rất mờ nhạt.
Các thế hệ chúng ta đều được biết Einstein đã cất công đi tìm một lý luận để nối kết tất cả các lý luận mà người ta gọi là trường thống nhất, nhưng ông ta đã thất bại. Làm sao mà tìm được sự thống nhất khi đang trong sinh diệt? Mọi sự trong sinh diệt đều trôi lăn, cái mà ta gọi là hiện tại cũng đang trôi thành cái dĩ vãng, dù chỉ một sát na cũng đã khác rồi.
Không biết sau này người ta có thể tìm ra một sự thống nhất không? Nhưng trong TNVTTVTTBB tôi đã lý luận để giới thiệu sự thống nhất đó, nhưng đúng nhất, thì tôi chỉ làm rõ, giới thiệu một cách của Phật Giáo để đi vào sự thống nhất: Đó là thiền tánh không, còn có thể gọi là khoa học thiền định cũng đúng.
Trong từng con người đều có thể thực hiện đại định vô sanh, để đi vào vũ trụ đại định, vào cái bản thể vĩnh cửu, mà căn bản của nó là từ thiền định. Nên trong một nghĩa nào đó thì giá trị của thiền là giá trị của bản thể vô sanh.
Khi nào các vọng tưởng vắng lặng thì trạng thái thiền xuất hiện, ở lâu trong trạng thái này thì vào định. Vào định quen thuộc, ở lâu trong trạng thái định đó là đại định, phối hợp với kiến tánh vô sanh (trạng thái rỗng lặng hồn nhiên vô sanh lúc đối cảnh trong đi đứng nằm ngồi) thì gọi là đại định vô sanh.
Đây là trạng thái giải thoát, trạng thái của niết bàn hữu dư trạng thái đồng bản thể với vũ trụ đại định. Trạng thái của vũ trụ lúc trước Big Bang xảy ra.
Vì sao thiền tánh không lại là cách sau cùng thống nhất con người lại với nhau? Vì trong thiền ấy có 4 đặc tính là: thường, lạc, ngã, và tịnh. Dầu chỉ nhập được vào thiền ấy 05 phút thì ta cũng có những đặc tính đó trong người.
Thường là sự không thay đổi trạng huống của ta trong đó, sẽ khiến ta không còn thấy cuộc sống như vội vã, chụp giựt, phải vội vã đem lợi lộc vào cho mình, bất chấp nhân quả, bất chấp chung quanh, việc xả rác, chen lấn và nhiều thái độ tiêu cực khác với cuộc sống cũng vì sự muốn lợi cho mình vì không thấy cái thường này có sẵn trong con người mình.
Lạc là sự khinh an, sung sướng trong thanh dịu, nhẹ nhàng có cái lạc này sẽ gột đi bớt những phiền trược, những cái ác trong con người. Khi trong định sẽ có cái lạc này luôn luôn hiện diện trong ta.
Ngã là sự hiện hữu với sự luôn luôn có biết sâu sắc, trí tuệ, còn gọi là ngã vô sanh.
Tịnh là lòng bi mẫn thật sự, tình thương không có sự tư lợi, mà thương thật sự, còn gọi là đại bi, thương mọi đau khổ chung quanh, thương cả thiên nhiên bị tàn hủy, chứ chẳng phải chỉ thương thân mình, thân nhân, con cái của mình mà thôi.
Với 04 đặc tính này, thì thiền mới là phương cách đem con người lại với nhau, nên nó mới có thể là con đường, cách thức thống nhất đuợc. Thấy được những giá trị của thiền mới thấy được vai trò thống nhất của nó, đem con người lại cùng với nhau, không nghi kỵ nhau, chống báng nhau, nên sẽ dễ dàng cùng nhau làm việc cộng đồng. Dường như ở Nhật người ta có áp dụng thiền vào chương trình giáo dục?.
Khoa học gia có trí tuệ từ thiền định, thì mới thấu rõ được những phuơng trình của mình có kết nối được với những phương trình khác hay chăng? Các vị lãnh đạo có trí tuệ từ thiền định mới làm họ thương dân, thương nước với lòng từ bi thật sự, họ sẽ cần mẫn với nhiệm vụ, sẽ không còn mơ màng tới tham nhũng, mánh mung tư lợi nữa.
Thế nên trong nhà thiền có câu: “tri không không giác hữu” tức là: “biết không rồi biết có” là vậy.
Giá trị của thiền là cái dễ nhất có thể đem áp dụng cho mọi con người, không cần phải thông minh quán thế gì cả, mà ngay một người ít thông minh cũng có thể áp dụng được. Thế nên thiền là phương pháp thống nhất con người lại với nhau. Quý đọc giả có đồng ý với tôi không?
Từ trí tuệ của thiền định, hợp với kiến tánh vô sanh để thực hiện đại định vô sanh để sau cùng vào vũ trụ đại định, cũng là niết bàn vô dư vĩnh cửu, bất diệt.

 TRẦN NGẪU HỒ