Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2022

LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU (Về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức)

 ĐÔNG LA

LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU (Về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức)

Cách đây trên 10 năm, người đọc trang DongLa blog của tôi rất nhiều, mà bài được đọc nhiều nhất chính là bài LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU (Về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức). Nhưng rồi không hiểu “ta” hay “địch” đã chặn, chỉ còn ai biết thủ thuật mới vào đọc được.

Hồi đó, bạn Nguyễn Thanh Tùng, chủ trang Đôi mắt blog, nay nickname facebook là Đạo sĩ chăn gà, đã báo và gởi cho tôi cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, nên tôi đã viết một loạt bài. Tôi đã viết: “Lịch sử cần phải được viết bởi sự minh triết để có thể bao quát thấu suốt, viết ra được bản chất sâu xa nhất của các sự kiện, để đời sau rút ra được những bài học bổ ích. Trong khi đó Bên thắng cuộc lại được viết bằng một cái tâm tối, trí thấp. Theo tôi, đây là cuốn sách rất nguy hiểm, người có thành kiến, người ít hiểu biết, và nhất là lớp trẻ rất dễ bị dẫn dắt để hiểu sai lịch sử! Với những Chỉ thị về việc “Nói và viết những vấn đề liên quan đến lịch sử và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”, chắc chắn Huy Đức đã phạm pháp".

Nếu pháp luật cũng nghiêm như đối với bà Phương Hằng hôm nay thì Huy Đức đã bị “tóm” từ lâu rồi.
Những ngày hôm nay lại đang ồn ào về chuyện học sử, vậy hôm nay “giải trí cuối tuần” tôi xin đăng lại một bài về lịch sử. Bài viết có rất nhiều thảo luận, xin đăng vài cái thú vị, mà giờ coi lại không ngờ một phụ nữ ghê gớm là chủ blog Beo, nhà báo Hồ Thu Hồng, cũng thích cái bài này.
21-5-2022
ĐÔNG LA
LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU
(Về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức)
Trong bài ben-thang-cuoc-vi-sao-toi-viet?, Huy Đức viết:
“Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ”; “Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh, nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách”; “Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc”.
Những sự thật quan trọng liên quan đến vận mệnh của đất nước ai cũng muốn biết, có điều những chuyện con con liên quan đến chính bản thân ta đây còn bị xiên xẹo tùm lum thì những sự thật lớn lao đâu dễ biết được.
Theo triết học, có cái tận mắt ta nhìn thấy cứ tưởng là sự thật nhưng lại không phải, bởi nó là hiện tượng chứ không phải bản chất. Như than chì và kim cương, người không biết cứ tưởng là hai chất khác nhau, nhưng thực chất chúng lại cùng là các bon. Có những chuyện người thật việc thật vẫn không phải là sự thật bởi chúng chỉ là những mẩu của sự thật mà thôi. Trong khi đó với tôi, sự thật cũng vẫn chưa phải là lịch sử, không phải cái sự thật nào cũng là lịch sử, bởi với mênh mông sự thật trong đời sống thì lịch sử nào chứa cho đủ?
Vậy lịch sử là gì?
Có lẽ chỉ sự thật nào có thể trở thành văn hóa, những sự thật chủ chốt, bao quát, có thể nói lên được bản chất của vấn đề, giúp cho hậu thế những bài học bổ ích thì sẽ thành lịch sử. Tất nhiên không chỉ có những bài học về sự thành công mà có cả những bài học về sự thất bại. Vì vậy những từ “minh triết”, “hiền minh” là đúng nhất dùng để chỉ những phẩm chất cần phải có của một nhà viết sử. Người ta cần phải thấu suốt hết mọi lẽ, với tấm lòng thiện đức, thì mới có thể viết được sử.
Còn Huy Đức cũng có tham vọng viết sử thì có cái gì?
Đó là một chú bé sau giải phóng bị lóa mắt bởi: “Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe … Những chiếc máy Akai, radio cassettes”. Từ đó thấy: “Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi”.
Tôi khi ấy gần như thuộc lớp bộ đội sau cùng, cũng kịp trực tiếp tham gia chiến dịch HCM. Từ rừng về tôi cũng thấy SG to đẹp, nhưng có lẽ tôi là số rất ít bộ đội không đi lùng mua khung xe đạp, búp bê, radio cassettes, mà cái mong ước lớn nhất của tôi lúc ấy là được về thăm nhà và được vào đại học, chỉ thế thôi!
Huy Đức, đến tận 1983 mới “có một năm huấn luyện ở Sài Gòn… Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh””, để rồi với cách nhìn ấy đã viết nên cuốn sách: “Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc”.
Đó thực sự là cách nghĩ từ một cái nhìn thiển cận. Và với cách nhìn ấy, cái nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu như thế thì sẽ viết được cái gì?
Trước khi phân tích cụ thể, ta thử xem qua dư luận về cuốn sách của Huy Đức.
Thật kỳ lạ cả phía “ta” lẫn “địch” đều có người chê Huy Đức dữ dội thì có nhóm nhỏ “xuất thân việt cộng” nhưng đang làm thuê cho những ông chủ thuộc “thế giới tự do” thì rất ca ngợi cách nhìn lộn ngược của Huy Đức.
Trong bài ĐỌC “BÊN THẮNG CUỘC” CỦA HUY ĐỨC Posted on 10.12.2012 by nguyentrongtao , ông GS TRẦN HỮU DŨNG, con Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nguyên là bác sĩ riêng của Bác Tôn, một người đang dạy học bên Mỹ, viết:
“Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là quyển sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975 mà tôi được biết… Cuốn sách đầy ắp những thông tin mà tôi chưa từng đọc được trong bất cứ sách báo nào đã xuất bản. Huy Đức là một trong số rất ít (có thể đếm trên ngón một bàn tay!) ký giả Việt Nam hiện nay có khả năng nghiệp vụ cao, dày dặn kinh nghiệm, và nhất là có biệt tài tạo sự tin cẩn ở những người được phỏng vấn về những sự kiện vô cùng “nhạy cảm”, thậm chí “thâm cung bí sử”… “Bên Thắng Cuộc” lột trần nhiều “huyền thoại” về một số lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Trần Hữu Dũng cũng viết: “Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ… chỉ có thể dùng hai chữ “tuẫn tiết” chứ không thể có từ nào hay hơn”.
Việc Trần Hữu Dũng khen Huy Đức dùng chữ “tuẫn tiết” để ca ngợi dũng khí của mấy người tự sát, vậy phải chăng đó cũng là cách gián tiếp chê gần một triệu người lính chế độ cũ khác không tự sát là hèn nhát? Còn tôi thấy mấy vị tự sát chẳng cần phải uổng mạng như thế nếu các vị biết Nixon đã thể hiện quyết tâm của Mỹ dứt khoát bỏ rơi VNCH khi quát lên với Kissinger rằng (theo baomoi.com): “Tôi không biết liệu lời đe dọa đó có đủ không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ việc chết tiệt gì - hay cắt đầu hắn ta, nếu cần thiết” (I don't know whether that threat goes far enough or not but I'd do any damn thing that is -- or cut off his head if necessary) khi nói về việc TT Thiệu không muốn ký vào Hiệp định Paris. Đó cũng chính là cái lý do khiến tướng Nguyễn Cao Kỳ từng thốt lên: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”; rồi: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”. Vậy thì các vị đã tuẫn tiết thì tuẫn tiết vì cái gì? Vì cái gì Huy Đức đã tôn vinh họ? Và vì cái gì Trần Hữu Dũng ca ngợi Huy Đức?
Nguyễn Giang, hiện là Trưởng Ban Việt Ngữ BBC, tra trên mạng thấy: “Name: Nguyen Giang. Born 1972 in Son La, Vietnam. High school and first year of law studies in Hanoi”, nghĩa là cũng là “con Việt cộng” ở Sơn La. Trên bbcvietnamese.com, trong bài Về cuốn 'Bên Thắng Cuộc', Nguyễn Giang viết:
“Các đoạn có giá trị nhất, nhiều tư liệu mới nhất và tổng hợp được cách nhìn của các bên nhất phải kể đến giai đoạn lực lượng cộng sản Nam và Bắc tiến vào Sài Gòn, và thời kỳ quân quản rồi thống nhất hai miền.
… ngòi bút Huy Đức tỏa sáng trong giọng văn âm thầm, cố gắng giữ vẻ bình thản nhưng bên trong sôi sục, thậm chí có chỗ nghẹn đi vì các biến cố đau đớn cho hàng triệu người mà anh chứng kiện cận cảnh, nhất là ở trong tâm thức một người đi bộ đội về và từ Bắc vào sống trong Nam…
Các vụ ‘thâm cung bí sử’ trong chính trường Việt Nam, nhất là giới tướng lĩnh như cái chết của các tướng Nguyễn Chí Thanh thời chiến tranh, rồi những chuyện đột tử của các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện sau này cùng một âm mưu bao vây, hạ thấp tướng Võ Nguyên Giáp được mô tả thật sinh động”.
Trong một bài, tôi đã viết: “Từ cái nhìn phi lịch sử, chê bai cuộc sống ở trong nước, những kẻ tha phương cầu thực nói đều đúng cả, nhưng đó chỉ là tư duy “phản xạ có điều kiện” của con vật trong thí nghiệm của Pavlov, chứ không phải là cái nhìn biện chứng của một tư duy triết học”. Ông Giang, ông Dũng cũng được những “điều kiện” ở Anh, ở Mỹ đã tạo ra những “phản xạ” trong nhận thức, nên các ông đã ca ngợi Huy Đức viết ngược như thế.
Ngẫm lại cái số phận thật tai quái, tôi đây mà cũng lại có lần “hân hạnh” được dùng tiệc cùng với “ông Trưởng ban” Giang nói trên và cả “nhà cách mạng Lê Công Định” nữa tại quán Nga trên đường Tôn Đức Thắng, Q I, TPHCM!
Ngược lại cái tư duy “phản xạ có điều kiện” nói trên, trên haingoaiphiemdam, một chứng nhân được Huy Đức cho vào “trang sử” của mình là Lê Quang Liễn, một Thiếu Tá Quân lực VNCH, đã phản đối Huy Đức:
“Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật, vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân, phe nhóm”.
MX Phạm Văn Tiền ĐĐ F Khóa 20 Đà Lạt:
“Kính thưa quý diễn đàn.
Gần đây dư luận xôn xao về một quyển sách của tác giả Huy Đức, người từ chế độ cộng sản viết về tài liệu lịch sử của cuộc chiến vừa qua. Qua quyển sách có tên là " Bên thắng cuộc", nhìn toàn diện tác giả dường như muốn diễn đạt và dẫn chứng những điều thật sự xảy ra sau cuộc chiến, nhưng sự thật đó lại là những điều không thật… Những dẫn chứng bịa đặt mặc dầu với những tên khác nhau, nhưng tác giả Huy Đức phải hoàn toàn chịu trách nhiệm những điều không có thật trong quyển sách của mình. Qua quyển sách "Bên thắng cuộc" của tác giả Huy Đức là những viên thuốc đắng có bọc đường”.
Ở đoạn này Huy Đức rất giống Bùi Tín. Bùi Tín từng "chiêu hồi", cố công "lập công chuộc tội" nhưng vẫn bị chửi rủa lăng nhục, thậm chí có người còn tố cáo Bùi Tín giết người!
***
Bộ sách của Huy Đức rất dày, riêng cuốn I đã hơn 800 trang, nên bài này tôi chỉ muốn chỉ cho Huy Đức biết thực chất cái “nền văn minh” của Miền Nam trước giải phóng là như thế nào thôi.
Như trong bài về HUỲNH NGỌC TUẤN, HUỲNH THỤC VY tôi đã viết:
“Về sự tươi đẹp của chế độ VNCH, Huỳnh Ngọc Tuấn cũng như không ít người từng ca ngợi và hay mang ra so sánh với Bắc Việt nghèo khổ, có điều họ không hiểu rằng, đó chỉ là “lợi nhuận” của việc chống cộng mà cư dân ở những vùng đô thị miền Nam được hưởng từ việc đánh đổi bằng máu của dân Bắc bởi “chiến tranh phá hoại” và máu của dân cư vùng nông thôn. Theo "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald, Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139, khi viết về Diệm, tác giả cũng viết: “Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thành phố ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương. (For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West)”.
Cụ thể trong Viện trợ nước ngoài trong Chiến tranh Việt Nam trên Wikipedia theo Nguyễn Nhật Hồng Trưởng bộ phận B29:
"Toàn bộ tiền viện trợ và tiền giúp đỡ của quốc tế cho Việt Nam đánh Mỹ đều tập trung về một đầu mối là B29... Từ 1965 đến 1975, B29 đã tiếp nhận Sáu trăm bảy mươi tám triệu bảy trăm ngàn đô la Mỹ (số tròn) (678.700.000 USD), trong đó hơn sáu trăm hai sáu triệu đô la là tiền viện trợ đặc biệt, hơn hai mươi bốn triệu đô la là tiền của các tổ chức và nhân dân quốc tế ủng hộ, gần 21 triệu đô la là tiền lãi kinh doanh chuyển đổi và gửi ngoại tệ ở nước ngoài, gần bảy triệu rưỡi đô la là lãi từ tiền dự trữ của chiến trường sau giải phóng...".
Tài liệu của CIA giải mật của Hoa Kỳ thì đưa ra những con số ước tính qua 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; quy đổi thành tiền là hơn 7 tỉ rúp (tương đương 7 tỉ USD, trong đó hơn một nửa là viện trợ quân sự).
Còn Viện trợ quân sự Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa:
“Theo nguồn do Việt Nam thống kê thì tổng viện trợ cho VNCH từ 1954 đến 1975 là trên 26 tỷ USD. Theo nguồn của Hoa Kỳ thì tổng viện trợ Quân sự cho VNCH từ 1955 đến 1975 là 16,762 tỉ USD. Lưu ý số vũ khí và viện trợ trên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chiến phí của Mỹ ở Việt Nam. Nó chưa bao gồm số vũ khí và chiến phí do quân đội Mỹ trực tiếp sử dụng trong giai đoạn tham chiến trực tiếp 1964-1973, mà theo thống kê là trên 141 tỷ USD chi phí trực tiếp, tương đương 686 tỷ USD theo thời giá 2008. Mặt khác, nhà kinh tế Steven ước tính tổng chi tiêu cuối cùng của Mỹ cho cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ lên tới 925 tỷ USD; gấp 3,8 lần chi phí của Mỹ trong thế chiến thứ nhất và chỉ đứng sau chi phí của Mỹ cho thế chiến thứ hai”.
Như vậy tổng chi phí của Mỹ cho chiến tranh VN gấp hơn 130 lần mà phía VNDCCH đã nhận được viện trợ. Vì thế cái “nền văn minh” mà Huy Đức thấy qua “Mấy chiếc xe đạp bóng lộn”; “cặp nhẫn vàng chóe”; “Những chiếc máy Akai, radio cassettes”; rồi: “rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc” v.v… đều có nguồn gốc từ “925 tỷ USD” mà Mỹ đã chi cho cuộc chiến ở VN, kèm theo 58000 nhân mạng nữa, để rồi mất trắng trở về.
Theo Vi Anh trong bài Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu :
“Tiến sỉ Nguyễn Tiến Hưng đưa ra một vài thí dụ và dẫn chứng của sự kiện lịch sử tiêu biểu nhưng vô cùng đau đớn cho chánh quyến VNCH khi lệ thuộc Mỹ. Về kinh tế nội việc xin Mỹ viện trợ gạo là cả một vấn đế phức tạp, phiền toái mà trăm dâu đổ đầu tằm VNCH phải chịu. Cứ mỗi năm vào 16-5 mùa giáp hạt, thì kho gạo VN hết, từ tổng thống đến chánh phủ phải chạy đôn chạy đáo để cầu viện. Câu viện phải qua 6 bước. Xin Hành Pháp cấp, Quốc Hội chuẩn chi, giải quyết vận chuyễn. Vận chuyễn theo luật viện trợ Mỹ phải đấu thầu chuyên chở. Ông Chủ tịch Ủy Ban chuẫn chì có công ty hàng hải “bồ bịch” muốn công ty của mình được thầu. Làm không khéo, đổ bể các nhà thấu khác la lên thì VNCH mang tiếng xấu, mà không làm cho công ty bồ bịch của Ông thì chuẩn chi khó khăn hay bị cắt giảm. Chở gạo từ Louisiana lên San Fran, từ San Fran về VN. Nghiệp đoàn công nhân bốc dở biết Quân Đội ở Miển Trung đang cần gạo, họ hay đình công để làm tiền. Chánh quyền VNCH không thể trả tiền vòi vĩnh mà cũng không thể ngăn cản quyền đình công của nghiệp đoàn, trong khi Quân Đoàn I xếp hàng xe chờ gạo, lính gần hết quân lương. Chánh quyền phải nhờ các thương gia gạo dàn xếp. Đó là chưa nói gạo viện trợ về bán rẻ thiệt hại cho nông dân VN”.
Chính Nguyễn Văn Thiệu còn có những câu nói để đời rất hồn nhiên thừa nhận việc mình làm một ông Tổng thống “bù nhìn” như sau:
- Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng;
- Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!
Không chỉ lệ thuộc về kinh tế mà về chính trị chế độ của Nguyễn Văn Thiệu cũng hoàn toàn bị lệ thuộc. Khi Mỹ nhận ra sai lầm trong cuộc chiến ở VN, như việc “cắt lỗ” trong đầu cơ chứng khoán, chính phủ Mỹ đã “vắt chanh bỏ vỏ” Nguyễn Văn Thiệu không thương tiếc. Trong Nguyễn Văn Thiệu – Wikipedia tiếng Việt:
“trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: "Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước".
Trong bức thư đề ngày 6/10/1972, Nixon còn ngầm đe dọa: "Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968...".
Henry Kissinger về sau trong hồi ký của mình đã cho rằng: “Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu "tàn bạo", "xấc láo", "ích kỷ, độc ác" với những "thủ đoạn gần như điên cuồng" khi làm việc với người Mỹ”; Kissinger cũng tiết lộ rằng, khi nói về việc Nguyễn Văn Thiệu ngăn cản Mỹ ký hiệp định Paris, Tổng thống Nixon đã giận dữ thốt lên: "Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận. Ông hãy tin lời tôi."
Một “nền văn minh” luôn tùy thuộc vào chế độ chính trị và tiềm lực kinh tế. Vì những lẽ trên đây mà người ta đã cho cuộc sống ở Sài Gòn trước 75 chỉ là “phồn vinh giả tạo”. Mà nền kinh tế ấy cũng lại: “ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường”.
Đó là những thông tin chỉ bấm một phát là ra trên Google, vậy mà Huy Đức đến tận bây giờ còn mù quáng thì thử hỏi còn tham vọng viết lách cái gì?
Còn cuộc sống ở ngoài bắc trước 1975, Huy Đức cần phải hiểu nếu không có chiến tranh, nếu miền Bắc không phải “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tất cả vì Miền nam ruột thịt” thì chắc chắn mức sống 2 miền Nam, Bắc không quá chênh lệch như thế!
Cũng liên quan đến Kissinger, cũng về sự lệ thuộc nước ngoài, Lê Mai trong bài Ba bảo bối của Lê Đức Thọ viết về Lê Đức Thọ, một nhân vật mà Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho "Ông ý là nhà ngoại giao khổng lồ; nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá là một “phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví như một tướng quân tài ba thao lược” (VietNam.net); còn Huy Đức trong cuốn sách của mình đã cố công bôi đen hình ảnh của ông bằng những tư liệu không chính thống; nhưng thực tế, với Nguyễn Văn Thiệu, ta càng thấy nhục cho người Việt mình trước người Mỹ bao nhiêu thì với Lê Đức Thọ, ta lại càng tự hào bấy nhiêu. Lê Mai đã viết:
“Kissinger viết: “Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán màu xám hoặc ma-rông. Đôi mắt to và sáng, ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi mười sáu tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp. Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần. Ông hoàn toàn biết ông muốn gì và phục vụ lý tưởng của ông một cách tận tụy và khéo léo”.
Kissinger dường như tin rằng chìa khóa để giải quyết vấn đề VN là ở Mátxcơva và Bắc Kinh.
- Ngài cố vấn qua Bắc Kinh, Mátxcơva, chắc đã được các bạn của ngài thông báo về ý kiến của chúng tôi trong đợt đàm phán này - Kissinger khiêu khích.
- Bạn chúng tôi ủng hộ chúng tôi, nhưng không làm thay chúng tôi. Mấy năm qua các ông cứ chạy vay chỗ này chỗ kia, chỉ làm phức tạp thêm vấn đề. Trong một ván cờ, quyết định thắng thua phải là người trong cuộc, không có cách nào khác. Chúng tôi độc lập giải quyết vấn đề của chúng tôi - Lê Đức Thọ trả lời.
Khi Kissinger thông báo, Sài Gòn sẽ không ký, Lê Đức Thọ nói với Kissinger: “Năm năm nay không bao giờ ông để tôi tin ông lấy một lời. Ông hứa danh dự rồi chính ông lại dí ngay lời hứa đó xuống chân ông. Ông lật lọng hết mức”.
Kissinger bực lên và đáp: “Ông nói là lời của tôi vô giá trị, thế thì ngồi đây đàm phán làm gì. Tôi phải tính đến chuyện lần sau để người khác đàm phán với ông, tôi với ông không đàm phán với nhau nữa”.
Kể cũng lạ, đi đàm phán với đối phương là giáo sư Đại học Harvard lừng danh mà Lê Đức Thọ nhiều khi ứng xử như với cán bộ của mình, nghĩa là tiếng oang oang, chỉ mặt lên tay, thậm chí còn nói thẳng ra rằng Kissinger là kẻ nói láo!
Một hôm, trước bữa nghỉ ăn trưa, Kissinger nói với Lê Đức Thọ:
- Hiện giờ ông cố vấn đàm phán với tôi thì ông nói như mắng tôi; sau này kết thúc đàm phán, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình rồi, thì ông mắng ai?”.
Tóm lại, Bên Thắng cuộc là cuốn sách được Huy Đức viết rất kỳ công, chi li, nhưng những cái bình thường thì đều đã được đăng tải trên sách báo chính thống, còn những cái khác thường thì cũng đã đăng tải trên mạng. Riêng tôi thì còn biết hơn nhiều lần kể cả số lượng cũng như độ ‘ghê gớm” của những tư liệu, quan trọng là phải biết có cần viết ra hay không mà thôi. Chỉ có điều đặc biệt là Đức khoe do công việc nên đã được gặp và phỏng vấn nhiều nhà lãnh đạo và những cán bộ cao cấp, đảm bảo tính chính xác của thông tin, bởi đều là những chuyện người thật việc thật. Nhưng như tôi đã viết, dù đúng là chuyện người thật việc thật, nhưng nếu chỉ là cái nhìn chủ quan, phiến diện, cục bộ thì chỉ là những mẩu sự thật chứ chưa phải là sự thật. Mà Lịch sử lại cần phải được viết bởi sự minh triết để có thể bao quát thấu suốt, viết ra được bản chất sâu xa nhất của các sự kiện, để đời sau rút ra được những bài học bổ ích. Trong khi đó Bên thắng cuộc lại chỉ xoáy vào cái xấu, cái yếu kém, lại được nhìn nhận bằng một cái tâm tối trí thấp, nên cái mà Huy Đức viết ra không phải là lịch sử với ý nghĩa cao quý nhất của nó mà chỉ là những ghi chép sai lạc. Theo tôi, đây là cuốn sách rất nguy hiểm bởi cái vẻ khách quan, và thái độ điềm tĩnh khi liệt kê chi li các vụ việc; người có thành kiến, người ít hiểu biết và nhất là lớp trẻ rất dễ bị dẫn dắt để tin đó là sự thật!
Với những Chỉ thị về việc “Nói và viết những vấn đề liên quan đến lịch sử và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”, chắc chắn Huy Đức đã vi phạm. Phải chăng Huy Đức không sợ vì đã noi theo Herostratos (‘Ηρόστρατος), một thanh niên thời cổ đại, hy vọng sẽ trở nên nổi tiếng đã phóng hỏa đốt Đền thờ thần Artemis? Chắc không phải vậy, mà Huy Đức chỉ noi theo một số người ở chính nước ta đã nổi danh bằng cách nói ngược. Điển hình như bà Dương Thu Hương mà Đức đã coi như thần tượng từng nói là đã khóc như cha chết trong ngày giải phóng vì thấy đội quân chiến thắng của mình là đội quân man rợ. Có điều bà này cũng xạo, cũng là kẻ như các cụ nói là lá mặt lá trái, cơ hội, vì thực tế, ngày mới giải phóng bà ta không "khóc" mà đã viết truyện “Loài hoa biến sắc” cho “nền văn minh” của SG, cái “nền văn minh” đã làm lóa mắt Đức đó, chỉ là “Một lớp giấy trên chiếc rọ làm hình nhân bị xé rách. Một lớp váng dầu ngũ sắc bị khuấy tan trên mặt nước tù” mà thôi!
Cuốn Bên thắng cuộc còn rất nhiều vấn đề, nếu còn hứng viết, tôi sẽ viết tiếp.
TPHCM
24-12-2012
ĐÔNG LA
THẢO LUẬN
LangKinh • 9 năm trước
Tôi luôn mong muốn có thật nhiều người đọc blog này. Đặc biệt đội ngũ cán bộ làm công tác chính trị (tuyên huấn, tuyên giáo) cuả đảng và nhà nước nên thường xuyên ngiên cứu các bài viết của Đông La.
Hoa Binh • 9 năm trước
Em rất thích cái cảm giác được thuyết phục bởi những bài viết của Đông La. Luôn ngưỡng mộ và kính phục bác.
Bloger Beo- Hồ Thu Hồng
Hoa Binh nói cực chuẩn. Bác Đông La sắc và nhanh quá. Tuyệt. Em xin bác bài về nhà mình. Ok? Cám ơn bác một phát đã!
Lamda • 9 năm trước
@ Không Nho:
Huy Đức đã từng nhận tiền của Năm Cam (khi đó Năm Cam là chủ của HĐ và việc này Nhà báo Hoàng Linh, vốn là lính của HĐ, tố cáo như bạn Lee đã biết rõ). Một kẻ nhắm mắt (bảo kê cho tội phạm) vì tiền như thế thế thì bảo hắn hiện cũng đang có chủ mới và viết để tâng công cũng đâu có oan.
Cái “một chiều” của HĐ ở đây chỉ là vì tiền thôi, chứ đa chiều cái gì. Khi đã biết HĐ là con người thế này rồi thì mọi “ní nẽ” của ông dù sai hay đúng cũng chỉ là nguỵ biện thôi.
Anonymous • 9 năm trước
Tại sao không có nhiều người viết được như anh Đông La? Sự phê phán những kẻ tráo trở với đất nước, những kẻ vong ân bội nghĩa là trách nhiệm của người cầm bút đâu rồi? Người dân chúng tôi không thể có đ/kiện đọc nhiều nên rất cần những người làm công việc phê bình văn học chân chính ./.
Giuse Lê Thắng • 9 năm trước
Anh Đông La thân mến!
Tôi mới được biết blog của anh gần đây thôi, liền sau đó tôi tình nguyện làm độc giả thường xuyên của anh, gần như ngày nào cũng ghé vào blog của anh, không vào lại cảm thấy thiêu thiếu. Tôi đã rất thích cái cách tranh luận của anh: thẳng thắn và không khoan nhượng.
Tôi là người công giáo, từng nếm trải những năm tháng khó khăn xung quanh mốc lịch sử 1975. Chọn cho mình quyết định ở lại vào thời điểm đó quả không dễ dàng gì. Bạn bè tôi rất nhiều người đang định cư ở Mỹ, một số đã có cuộc sống sung túc, song không ít người vẫn phải bươn chải vì tiền phúc lợi không đủ, con cái cũng không giúp đỡ được... Bản thân tôi cũng bị đối xử khắt khe sau giải phóng, nhưng dần già, bằng năng lực của mình tôi cũng đã tạo cho mình một vị trí trong xã hội bằng con đường làm kinh tế. Con cái tôi cũng thành đạt, có trình độ, trí tuệ nên cũng chẳng phải chịu chèn ép gì, một trong số đó đã là đảng viên CSVN...
Anonymous • 9 năm trước
Cám ơn bác Đông La rất nhiều về bài viết rất minh triết này. Bài viết cho thấy cuộc đấu tranh giữa 2 con đường là vô cùng phức tạp, gian khổ và lâu dài... Chúc bác và gia đình mạnh khỏe và bác có nhiều bài viết hay hơn nữa.

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2022

VIỆT NAM TRÊN BÀN CỜ CHÍNH TRỊ, NGOẠI GIAO CỦA NHỮNG NƯỚC LỚN

 ĐÔNG LA

VIỆT NAM TRÊN BÀN CỜ CHÍNH TRỊ,

NGOẠI GIAO CỦA NHỮNG NƯỚC LỚN


Cộng đồng mạng đang nổi giận trước tác phẩm hội hoạ của Mai Duy Minh vẽ chiến sĩ Điện Biên như quỷ dữ, giương cao lá cờ chiến thắng rách te tua như của phường đạo tặc. Sự bôi đen lịch sử và xuyên tạc hiện thực ở xã hội Việt Nam bằng nghệ thuật có lẽ Mai Duy Minh chỉ thua Bảo Ninh trong văn xuôi với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, và chỉ thua Nguyễn Quang Thiều trong thơ với những câu tả “cố hương” của mình: “mê mẩn và lạc đường/ Trong những cánh rừng đầy quỷ”; và tả những người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của đất nước chúng ta như “bị giam trong đáy lưới”, thụ thai không sinh ra con trẻ mà chỉ đẻ ra “những quả trứng ung”! Muốn viết một bài nhưng sẽ để sau vì sự kiện TT Phạm Minh Chính đang đi Mỹ nóng hơn và quan trọng hơn.
Theo truyền thông, trước thềm Hội nghị ASEAN - Mỹ, chiều 11/5 (giờ Washington D.C), Thủ tướng Phạm Minh Chính có bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS). Về cuộc tấn công của Nga vào lãnh thổ Ukraina, ông nói: “Liên quan đến tình hình Ukraine, lập trường nhất quán của Việt Nam là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia; giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực”.
Như vậy, tại Thủ đô Washington của Mỹ, nước đứng đầu NATO, đang tố cáo Nga và giúp Ukraina vũ khí chống lại quân Nga mạnh nhất, TT Phạm Minh Chính đã thể hiện sự không ủng hộ hành động quân sự của Nga. Có điều ông chỉ nói chung chung. Đó chính là quan điểm của VN không đồng tình không chỉ với Nga mà với tất cả các cuộc xâm lược, mà nhìn xa hơn trong quá khứ, đã có nhiều hành động tương tự trước Nga, thậm chí tệ hại hơn, bởi là các cuộc xâm lược phi nghĩa, trong đó có VN là nạn nhân.
Trong cuộc gặp giữa TT Putin và Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres tại Điện Kremlin, ngày 26-4-2022, khi ông Antonio Guterres cho rằng theo Hiến chương Liên hợp quốc: “tôi tin rằng đã có một cuộc xâm lược vào lãnh thổ Ukraine”, ông Putin cho rằng Nga đã làm theo “tiền lệ” như chính Mỹ và Phương Tây đã làm ở Kosovo (khi tuyên bố độc lập khỏi Serbia ).
Vladimir Putin nói: “Thưa ngài Tổng Thư ký!
Đầu tiên, là về xâm lược. Tôi rất biết, rất rõ ... các tài liệu của Tòa án Công lý Quốc tế về tình hình ở Kosovo… phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế... Kosovo được rất nhiều... quốc gia phương Tây công nhận nó là một quốc gia độc lập. Chúng tôi cũng làm như vậy đối với các nước cộng hòa ở Donbass... Họ đã quay sang chúng tôi với yêu cầu hỗ trợ quân sự cho họ liên quan đến... các hoạt động quân sự chống lại họ. Và chúng tôi có quyền làm điều này theo đúng Điều 51 Phần 7 của Hiến chương Liên hợp quốc”.
Chính vì vậy, dù không ủng hộ Nga tấn công Ukraina, nhưng khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 07/04/2022 đã đưa Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền LHQ, Việt Nam đã bỏ phiếu chống. Trước đó, cuộc bỏ phiếu “Lên án Nga xâm lược Ucraina và yêu cầu Nga chấm dứt chiến tranh” cũng do Đại Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc tổ chức ngày 02/3/2022, Việt Nam đã bỏ phiếu trắng. Như vậy, dù không ủng hộ nhưng Việt Nam cũng không chống Nga.
Như vậy, hai thái độ ngược nhau ở VN: chống Mỹ và NATO, bênh vực Nga theo kiểu Hồng Vệ binh; hoặc trở cờ, phản bội, theo Mỹ chửi Nga xâm lược; cả hai đều không đúng với quan điểm chính thống của Nhà nước VN.
Hiện tại, quan hệ với Mỹ rất quan trọng đối với VN, cả về phát triển kinh tế và quan điểm của Mỹ chống sự bành trướng của TQ ở Biển Đông. Còn Nga, mà tiền thân là Liên Xô, lại là đại ân nhân, từng có những giúp đỡ vũ khí, yếu tố quyết định dẫn đến chiến thắng của VN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Như vậy lịch sử ngoại giao lại được lặp lại, VN buộc phải khôn khéo chơi với hai nước lớn Mỹ và Nga đang chống đối nhau như từng chơi với Liên Xô và Trung Quốc.
Vậy hôm nay tôi xin đăng lại bài này.
13-5-2022
ĐÔNG LA
VIỆT NAM TRÊN BÀN CỜ CHÍNH TRỊ,
NGOẠI GIAO CỦA NHỮNG NƯỚC LỚN
Trong những ngày giàn khoan TQ như cái gai đang cắm vào mắt biển, không người dân VN yêu nước, có lương tri nào mà không bức xúc, không căm giận bọn Tầu, không lo lắng cho tương lai phía trước. Để có được những ngày như hôm nay, từ một nước phong kiến, lạc hậu, như có một phép mầu, chúng ta đã đánh thắng những đế quốc giầu mạnh nhất. Nhưng không chỉ bằng ý chí sắt đá, chúng ta đã giành chiến thắng bằng cả nghệ thuật ngoại giao khôn khéo. Với hai bàn tay trắng, chúng ta buộc phải nhờ vả thiên hạ, đặc biệt là Liên-xô và Trung Quốc, nhưng chúng ta cũng phải vượt qua được sự toan tính xếp đặt của họ, giành được nền độc lập quý giá thiêng liêng.
Qua những trang hồi ký của các quan chức, dù có những cảm tính chủ quan, nhưng nếu biết đãi cát tìm vàng, ta sẽ biết được những chuyện rất thú vị. Chúng ta sẽ thấy quan hệ của Việt Nam với hai nước lớn “anh em”, thực tế chưa bao giờ có một tình hữu nghị lý tưởng nào cả, mà họ ai cũng vì lợi ích của mình trước hết. Họ đều từng có những toan tính, có khi mâu thuẫn với chính họ, mâu thuẫn lẫn nhau và hoàn toàn bất lợi cho sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam. Số phận của Việt Nam từng bị đặt trên bàn cờ chính trị, ngoại giao trong mối tương quan giữa ba nước lớn Liên Xô – Trung Quốc – Mỹ.
***
Trước hết là mối quan hệ của ta với Liên Xô và Trung Quốc. Ngay từ năm 1960, Khơ-rút-sốp đã phê phán Mao Trạch Đông đi chệch chủ nghĩa Mác Lênin. Ngược lại, phía Trung Quốc cho rằng, trong cuộc đấu tranh chống Quốc Dân Đảng và Nhật, Stalin đã chỉ định Trần Độc Tú làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, với đường lối theo Stalin, đã làm cho Trung Quốc mất sạch căn cứ địa Tỉnh Cương Sơn và phải làm cuộc Vạn Lý Trường Chinh lên Diên An.
Năm 1950, sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Stalin mời Mao Trạch Đông sang Mat-xcơ-va giảng hòa, viện trợ ồ ạt cho Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng công nghiệp hóa. Quan hệ giữa hai nước tốt đẹp trở lại. Nhưng vào những năm cuối của thập kỷ 50, Mao Trạch Đông khởi xướng công cuộc đại nhảy vọt, muốn đạt được năng xuất lúa 40, 50 tấn/héc-ta/vụ bằng phương pháp cấy thật dày. Mao nói chẳng bao lâu Trung Quốc sẽ thừa lương thực đến mức đất ruộng sẽ ra làm ba phần: chỉ cần 1/3 trồng lúa, còn 1/3 trồng rừng và 1/3 làm vườn hoa! Cả nước thi đua nhà nhà làm sắt thép. Không có than thì lấy cả thóc làm chất đốt. Mao nói kỹ thuật của Liên Xô là kỹ thuật tư bản, kỹ thuật của Trung Quốc mới chính là kỹ thuật cộng sản. Trung Quốc sẽ tiến vào giai đoạn cộng sản chủ nghĩa trước Liên Xô. Thấy vậy, Khơ-rút-sốp đã nói cái chủ nghĩa cộng sản mà Trung Quốc định đi tới trước Liên Xô chính là cái “chủ nghĩa cộng sản mặc quần đùi” và cho Mao đã già, lẩm cẩm, nên nghỉ đi. Tại Trung Quốc, điều đó là đại húy kỵ, nên Trung Quốc đã đuổi chuyên gia Liên Xô về nước.
Nước VN ta không thể tay trắng giành độc lập mà buộc phải nhờ vả thiên hạ, mà sự giúp đỡ của “anh cả”, “anh hai” cả hai đều “quan trọng cả”. Trung Quốc là láng giềng, là căn cứ địa, sân sau cho cách mạng nước ta, nhưng lại không thể có đủ vũ khí quan trọng; còn Liên xô có vũ khí thì lại ở xa. Vì thế sự hục hặc của hai “ông anh” đã làm ảnh hưởng rất xấu đến cách mạng Việt Nam.
Đến thời kỳ “xét lại”, Liên Xô bắt đầu xem nhẹ vai trò của đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và e ngại vấn đề chiến tranh hạt nhân với Mỹ. Liên Xô cho rằng các nước có chế độ xã hội khác nhau chỉ có một con đường là chung sống hòa bình. Điều này quả là hay. Có điều vào thời điểm nước ta còn chia cắt, nó đúng là một đòn mạnh đánh vào cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập của ta. Không ai phản đối chung sống hòa bình, nhưng với nước ta thì lại không thể chấp nhận chung sống hòa bình với kẻ xâm lược.
Trung Quốc lên án quan điểm đó của Liên Xô, cho là “chủ nghĩa xét lại hiện đại”.
Các nước nhỏ buộc phải hoặc là theo Liên Xô, hoặc là theo Trung Quốc, mà ta thì cần cả hai nên buộc phải giải cái bài toán khó đó.
Quan điểm xét lại của Liên Xô đúng như gáo nước lạnh dội vào ngọn lửa đấu tranh cách mạng nước ta. Liên Xô không tin ta có thể thắng được Mỹ. Podgorny, một trong ba lãnh đạo Liên Xô đã nói với ông Lê Duẩn: "Các anh không thắng nổi Mỹ đâu". Lê Duẩn đã trả lời: "Các đồng chí không tin à? Chúng tôi sẽ thắng cho các đồng chí xem". Vì thế ở ta từng có Hội nghị Trung ương 9 chống chủ nghĩa xét lại hiện đại. Nhưng đúng là “trong cái khó lại ló cái khôn”. Sau Hội nghị, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn được cử sang góp ý và kiến nghị Liên Xô xem xét lại quan điểm của mình. Nhưng khi gặp phía Liên Xô, ông Bí thư không nói gì về Nghị quyết 9 mà lại cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô đã giúp cho tình hình cách mạng Miền Nam tiến triển rất tốt đẹp và yêu cầu Liên Xô ủng hộ và giúp đỡ tích cực hơn nữa. Khơ-rút-sốp đang chuẩn bị đối phó thái độ phê phán của VN, nhưng lại được nghe những lời cảm ơn như vậy nên rất mừng và đã vui vẻ chấp nhận yêu cầu của ta. Lê Duẩn vốn có tiếng là một nhà lãnh đạo quyết đoán, cứng rắn, nhưng khi cần ông cũng tỏ ra là một nhà ngoại giao khôn khéo.
Chính Lê Duẩn cũng là người rất sớm nhận ra chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc. Theo ông Trần Quỳnh:
“Trong một cuộc gặp gỡ giữa Bí thư thứ nhất Lê Duẩn với Mao ở Vũ Hán. Mao nói: “Tình hình nông thôn Trung Quốc sau khi hợp tác hóa nông nghiệp… các chủ nhiệm họp tác xã đều lấy vợ là con của địa chủ. Con gái của địa chủ đẹp hơn con gái của bần nông, sờ má con gái địa chủ bóng láng mát tay hơn là sờ má của con gái bần nông mà. Còn ở thành thị cũng vậy… các giám đốc Xí nghiệp đều cưới con của tư bản làm vợ…
Tôi phải làm lại một cuộc cách mạng mới. Tôi sẽ đánh đổ giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản đang thống trị. Tôi sẽ đưa giai cấp bần nông và giai cấp công nhân lên nắm chính quyền trở lại. Tôi sẽ tổ chức một đội quân bần nông năm trăm triệu người. Tôi sẽ giải phóng cho cả Đông Nam Á, cho cả Việt Nam, các đồng chí không cần đánh”…
Lê Duẩn nói với tôi: "Cha này (chỉ Mao) lý luận lang bang, lấy vợ địa chủ trở thành giai cấp địa chủ. Hắn nói giải phóng Đông Nam Á? Còn Việt Nam là của ta, hắn có quyền gì mà đem quân sang giải phóng Miền Nam ta? Chú thấy không? tư tưởng bành trướng bá quyền đại Hán nó nói trắng trợn trước mặt ta, coi như chuyện dĩ nhiên. Thật là nguy hiểm hết sức".
Một lần khác nữa Mao hỏi ông Lê Duẩn: "Có phải Việt Nam đã đánh thắng quân Nguyên và quân Thanh không?" Lê Duẩn đáp: "Vâng, còn đánh thắng cả quân Minh nữa". Quân Nguyên là người Mông Cổ, quân Thanh người Mãn Châu, còn quân Minh chính là người Hán. Nói vậy ông Lê Duẩn tỏ ý Việt Nam không sợ TQ, Mao đừng hù dọa.
Ở Trung Quốc từng trưng bày hai bản đồ của Trung Quốc. Bản đồ thứ nhất là "Bản đồ của Trung Quốc trước đây khi chưa bị đế quốc chia nhau". Bản đồ thứ hai là "Bản đồ Trung Quốc sau khi đã bị đế quốc chia nhau". Bản đồ thứ nhất vẽ Trung Quốc bao gồm phần đất của Trung Quốc hiện nay thêm phía Bắc và Tây Bắc là một phần rộng lớn của Xibia. Phía Tây Nam bao gồm một phần Ần Độ. Phía Nam và Đông bao gồm cả Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Mianma. Biển thì bao gồm cả một phần biển Nhật Bản, toàn bộ Biển Đông sát Philippin, chạy xuống đến sát Indonexia. Còn bản đồ thứ hai, thí đại khái như Trung Quốc hiện nay, nhưng biển thì một nửa Vịnh Bắc Bộ chạy sát Đà Nẵng xuống phía Nam sát Malaysia, Singapore, Brunây và Sarawak.
Ngay từ kháng chiến chống Mỹ, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã lo một ngày nào đó Trung Quốc sẽ nuốt chửng Việt Nam. Đối với cuộc kháng chiến, Trung Quốc chỉ ủng hộ ta chừng mực, còn lấy ta làm giá trong các cuộc mặc cả giữa Trung Quốc và Mỹ. Thời kỳ đầu tiến hành bình thường hóa quan hệ giữa Trung và Mỹ, Đại sứ Trung Quốc và Đại sứ Mỹ đã mỗi tháng gặp nhau một lần ở Ba Lan. Một trong những điều kiện mà Mỹ đưa ra là Trung Quốc phải dùng ảnh hưởng của mình để kiềm chế Việt Cộng ở Miền Nam và Trung Quốc đã hứa để đẹp lòng Mỹ.
Năm 1972, trước khi Nixon sang Trung Quốc, Chu Ấn Lai sang Hà Nội nói: "Chúng tôi mời Nixon sang Trung Quốc để hai bên bình thường hóa quan hệ, thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hai bên cũng sẽ bàn cả vấn đề Miền Nam. Các đồng chí Việt Nam đừng ngại, chúng tôi sẽ tăng cường viện trợ cho Việt Nam". Lê Duẩn nói: "Các anh mời Nixon sang thăm Trung Quốc chẳng khác nào các anh đâm một nhát dao vào lưng chúng tôi. Việc giữa Trung Quốc và Mỹ các anh bàn gì chúng tôi không có ý kiến. Nhưng vấn đề Việt Nam là của chúng tôi, các anh không có quyền bàn. Giải quyết vấn đề Việt Nam như thế nào là do chúng tôi tự quyết định lấy. Còn vấn đề có viện trợ hay không cái đó tùy các anh. Các anh viện trợ, chúng tôi sẽ thắng Mỹ. Các anh không viện trợ chúng tôi phải hy sinh nhiều hơn nhưng cũng sẽ thắng Mỹ".
Sau Hiệp định Paris 1973, Trung Quốc muốn duy trì nguyên trạng ở Ðông Dương, nhất là việc Việt Nam chia cắt thành hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau là phù hợp với ý đồ lâu dài của họ ở Ðông Nam Á. Sau khi đi thăm Trung Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K.Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ: "Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại”.
Vì vậy, không thể ngờ được rằng, kế hoạch tổng tấn công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta không chỉ giữ bí mật tuyệt đối với Mỹ, VNCH mà cả đối với Liên Xô và Trung Quốc.
Và cuối cùng, chúng ta đã vượt qua được tất cả sự toan tính vụ lợi ích kỷ của các nước lớn, đã giành toàn thắng, đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất!
***
Với Mỹ, hơn một tháng sau khi giải phóng miền Nam, ta đã nhờ Liên Xô chuyển cho Mỹ một thông điệp muốn có “quan hệ tốt với Mỹ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau”. Ðại sứ Mỹ tại LHQ, Andrew Young, đã nói: "Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở châu á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ". Năm 1977, chính quyền Carter thực sự muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ C. Vance, ngày 10.1.77 tuyên bố: "Việc tiến tới bình thường hoá quan hệ Mỹ - Việt nam phù hợp với lợi ích của hai nước". Trong khi đó, theo sự xúi dục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot bắt đầu chiến tranh biên giới chống ta từ ngày 30.4.77 và đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.77.
Từ đầu năm 1978, Mỹ - Trung cấu kết chống Liên Xô. Liên Xô nhân thế yếu của Mỹ sau thảm bại ở Việt Nam đã ra sức tăng cường ảnh hưởng ở á - Phi và Mỹ Latinh bằng học thuyết "chủ quyền hạn chế" của Brejnev”. Tại châu Á, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (1979), đồng thời thực hiện chính sách bao vây Trung Quốc. Việt Nam bị coi là một mắt xích của vòng vây đó.
Trong tình hình đó, Mỹ đẩy nhanh quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Ý tưởng "chơi lá bài Trung Quốc để ngăn chặn Liên Xô" của cố vấn an ninh quốc gia Z.Bzrezinski đã lấn lướt chủ trương của ngoại trưởng Cyrus Vance và R.Holbrooke là "cải thiện quan hệ với Việt Nam ". Ðặng Tiểu Bình tuyên bố "Trung Quốc là NATO phương Ðông" và "Việt Nam là Cuba phương Ðông". Khi Bizezinski đi thăm Trung Quốc thì Mỹ đã chọn con đường bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và gác lại việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Khi ta đưa quân vào Campuchia đánh đuổi Polpot, ngày 9.1.79, ngoại trưởng Mý Cyrus Vance nói: "Các cuộc nói chuyện Mỹ - Việt Nam về bình thường hoá đã tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam". Ðặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ (29.1 - 4.2.79), tỏ ý sẽ tiến công vào Việt Nam và đã không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ.
***
Nhưng rồi như “Trời có mắt”, Việt Nam sau chiến tranh tan hoang, bị Mỹ cấm vận, chiến tranh hai đầu biên giới, ta vẫn đứng vững. Còn Trung Quốc, sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu "4 hiện đại", muốn tranh thủ Mỹ, Nhật, phương Tây, lại bị đe doạ. Ngược lại quan hệ Mỹ - Xô đã cải thiện rất nhanh. Sau khi Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia, Mỹ và các nước cải thiện quan hệ với ta. Tiếp tục đối đầu với Việt Nam cũng không còn phù hợp với chính sách của Trung Quốc. Vì thế Trung Quốc cũng nghĩ đến chuyện bình thường hóa với Việt Nam. Và cuối năm 1991, hai nước Việt-Trung chính thức đưa ra Thông cáo chung về bình thường hoá quan hệ!
***
Như vậy, thực tế “tình hữu nghị” của Việt Nam với các nước “anh em” không phải hoàn toàn là êm ấm. Trong tình trạng biển Đông đang dậy sóng, Việt Nam ta lại cần phải tỉnh táo giải bài toán ngoại giao hắc búa. Lúc này, những bài học mà nhà ngoại giao Trần Quang Cơ từng rút ra thiết nghĩ cần được xem lại:
“Ta không khôn ngoan duy trì quan hệ cân bằng với Trung Quốc và Liên Xô, nhân tố cực kỳ quan trọng đảm bảo thắng lợi của ta trong kháng chiến chống Mỹ.
Bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ, năm 1977, khi chính quyền Carter đã chủ động đề nghị hai bên bình thường hoá quan hệ không điều kiện.
Ðánh giá sai và không gia nhập khối ASEAN ngay từ 1976 khi cả 6 nước này đều mong muốn ta tham gia vì lợi ích của mỗi một quốc gia và của chung khu vực”.
Sai lầm trong đối ngoại là dẫn tới thảm họa, bất kể ai. Nước Đức phát-xít đã gánh chịu, Mỹ cũng nhiều lần lặp lại sa lầy, Trung Quốc đang khiêu khích với cả thế giới cần tỉnh ngộ. Bởi chính Trời Phật sẽ trừng trị kẻ ác!
7-7-2014
ĐÔNG LA


Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

VỀ CHUYỆN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC CỦA ÔNG NGUYỄN MINH THUYẾT

 

ĐÔNG LA
VỀ CHUYỆN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
CỦA ÔNG NGUYỄN MINH THUYẾT

Bạn Hoàng Nguyen mới gắn thẻ tôi bài CHUYỆN LẠ CÓ THẬT, có đoạn: “ Không hiểu tại sao 72 tên đòi bỏ điều 4 hiến pháp nước cộng hòa XHCN Việt Nam chúng lại được viết sách cho con em XHCN Việt Nam học… Nghành lịch sử đã bị bọn chúng thui đen. Tiền chúng bỏ túi ăn ba đời không hết! sách thì suốt ngày đối mới đối đến nỗi sách giáo khoa thành (bốn cái làn)”. Tôi đọc thấy buồn cười nhưng không vui mà chua chát. Chua chát vì xã hội ta có nhiều kẻ ngu dốt, lưu manh nhưng lại thành đạt, thành danh. Người bị Hoàng Nguyen điểm mặt trong bài viết chính là ông GS Nguyễn Minh Thuyết đang bị cộng đồng mạng phẫn nộ với tư cách chủ biên sách giáo khoa đã loại bỏ việc học bắt buộc môn Lịch sử trong trường Trung học phổ thông. Bạn Quang Nguyễn Xuân có bình luận hay “Họ cho môn Lịch sử học làm nghề chứ không hiểu học sử để làm người”.
Nguyễn Minh Thuyết từng có mặt trong 72 vị trí thức đòi thay đổi Hiến pháp để theo hình mẫu phương Tây, cái nguy cơ đẩy Việt Nam ta đến thảm kịch như Ukraina bây giờ, vậy hôm nay tôi sẽ đăng lại bài tôi viết về Nguyễn Minh Thuyết.
9-5-2022
ĐÔNG LA

VỀ CHUYỆN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
CỦA ÔNG NGUYỄN MINH THUYẾT

Tôi có biết loáng thoáng Nguyễn Ngọc Chu, một tiến sĩ toán học, hình như có hơi hướng “đấu tranh dân chủ”. Tôi vốn có quan tâm về giáo dục, đã viết về giáo dục và nhận thấy chỉ có một nền giáo dục tốt và hiệu quả mới có thể giúp VN phát triển bền vững được thôi, nên đã chú ý mấy bài Nguyễn Ngọc Chu mới viết về “đổi mới giáo dục”. Khác với những người thuần “dân chủ giả cầy’, là một TS toán nên Nguyễn Ngọc Chu viết phản biện về giáo dục có lý lẽ.
Trong bài “Giáo dục Việt Nam: Nỗi đau nhiều kiếp chưa tan”, Nguyễn Ngọc Chu viết:
“Khi nghe tin chương trình Giáo dục Phổ thông mới đã tiến hành gộp 3 môn Vật Lý – Hóa Học – Sinh Vật vào một môn để cho một giáo viên dạy, và gộp 2 môn Lịch Sử – Địa Lý cũng vào một môn và cũng cho một giáo viên dạy, thì hồn xiêu phách lạc. Bởi đó sẽ là tai họa lớn cho nền Giáo dục Việt Nam” bởi vì “Đi ngược với xu thế chuyên môn hóa”.
Với tôi thì nhận thấy về tổng thể lỗi nhận thức của người Việt là cảm tính, chung chung và thiếu chính xác, thực tế tất cả những việc liên quan đến tri thức cao, sâu chúng ta đều phải thuê hoặc nhờ chuyên gia nước ngoài, vì thế việc “đổi mới” giáo dục bằng “tích hợp” như trên đúng là lộn ngược, phản thực tế.
Nếu ai học khoa học sẽ thấy đúng là có những cái chung, trước hết là toán vì nó là khoa học công cụ, ngành khoa học, ngành công nghệ nào cũng phải tính toán nên đều cần đến nó; tiếp theo lý rất cần cho hoá; hoá rất cần cho sinh; sinh rất cần cho Y… Nhưng dù có những cái chung như thế, mỗi một ngành khoa học lại là cả một thế giới riêng, rồi nó còn phải chia nhỏ ra nhiều chuyên ngành khác nhau nữa, nên “đổi mới giáo dục” bằng cách vo viên các ngành khoa học lại “tích hợp” các môn học như trên thì không chỉ phản thực tế mà còn là phản khoa học. Tuổi nhỏ trí óc như tờ giấy trắng, những tri thức được tiếp nhận sẽ ghi khắc rất lâu, rất cần cung cấp cho học sinh chính xác những tri thức nền tảng để từ đó như bệ phóng sẽ phát triển. Còn tri thức nền tảng chỉ là mớ kiến thức chung chung thì làm sao sau này các em sẽ học lên cao sâu được?
Tôi thật kinh hoàng khi biết tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới lại là GS Nguyễn Minh Thuyết. Về ông “tổng chủ biên” này, Nguyễn Ngọc Chu viết:
“Xin hỏi ông Nguyễn Minh Thuyết, khoác hàm giáo sư, lại là tổng chỉ huy chương trình cải cách giáo dục phổ thông, rằng ông có dạy được Lý – Hóa – Sinh ở phổ thông không?
Câu trả lời dứt khoát là: KHÔNG.
Ông Thuyết có đi học được Vật Lý, Hóa Học, Sinh Vật sau mấy tín chỉ để dạy Lý – Hóa – Sinh không?
Câu trả lời dứt khoát là: KHÔNG.
Một ông tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông, khoác hàm giáo sư, mà còn không đào tạo lại được thì đào tạo lại ai? Thật hoang đường”.
Nguyễn Ngọc Chu kết luận:
“Giáo dục Việt Nam rất cần các chương trình khác không phải do ông Nguyễn Minh Thuyết là tổng chỉ huy, để cạnh tranh, để chọn lọc.
Khoa học và Giáo dục rất khác với lãnh đạo đường lối. Muốn làm tổng chỉ huy chương trình Cải cách Giáo dục Phổ thông thì không chỉ am hiểu Giáo dục Phổ thông mà cần có kiến thức chuyên sâu để ngồi vào các hội đồng biên soạn tất cả các môn học để tranh luận và đề xuất. Phải dạy giỏi được hầu hết các môn học ở Phổ thông. Ông Nguyễn Minh Thuyết không làm được điều đó. Ông Nguyễn Minh Thuyết không phải là lựa chọn tốt cho vị trí tổng chỉ huy Chương trình Cải cách Giáo dục Phổ thông“
***
Trong bài “GS NGÔN NGỮ THUYẾT LẠI DỐT NGÔN NGỮ RỒI”, tôi từng viết:
Đọc mấy bài thấy sao mà có một GSTS ngôn ngữ từng giữ những trọng trách về giáo dục và chính trị mà lại dốt về ngôn ngữ đến thế. Đó chính là ông Nguyễn Minh Thuyết. Gần đây nhất là chuyện đổi tên nước.
Với thực trạng xã hội ta hiện nay, với những người tử tế thì tên nước nào cũng có cái hay, có điều trước tình trạng những kẻ xấu bu vào mọi chuyện lộn xộn để quấy phá thì việc đổi tên nước sẽ lại là một vụ lớn cho họ lợi dụng.
Còn đi sâu vào ý nghĩa, “dân chủ, cộng hòa” là thuộc tính chung của chế độ ngược với chế độ phong kiến quân chủ. Còn Xã hội Chủ nghĩa là một khái niệm chỉ bản chất của chế độ thuộc Chủ nghĩa Mác, nó cũng bao hàm cả “dân chủ cộng hòa”, ngoài ra còn có những nội hàm riêng chỉ Chủ nghĩa Mác mới có. Vậy nước ta, trong Hiến pháp có điều 4 và trong thực tế ĐCS vẫn là lực lượng lãnh đạo thì về lý tên nước hiện tại “CHXHCNVN” là phù hợp hơn. Dù rằng chúng ta còn lâu mới đạt được bản chất toàn diện của một xã hội XHCN, nhưng tên gọi là thể hiện mục tiêu, lý tưởng để phấn đấu của đất nước.
Vậy trên http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2013/04/, ông Thuyết nói 'Đổi lại tên nước là trở về đúng bản chất chế độ' nghĩa là ông Thuyết mù tịt về triết học, là sai, là nói ngược!
Ông Thuyết vốn là một GS về ngôn ngữ dốt về triết ta có thể thông cảm, nhưng quả thật ông lại dốt cả về ngôn ngữ nữa thì thật lạ!
Trên http://giaoduc.net.vn/ có bài GS-thuyet-nen-doi-ten-nuoc-thanh-cong-hoa-dan-chu-viet-nam viết:
“Tuy nhiên, với tư cách một chuyên gia về ngôn ngữ, GS Thuyết cho biết tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt theo trật tự từ tiếng Hán (Trung Quốc). “… tên gọi như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa … là cách diễn đạt theo tiếng Hán. Bây giờ phải gọi lại là Cộng hòa Dân chủ Việt Nam mới đúng ngữ pháp tiếng Việt”, GS Thuyết phân tích”.
Thứ nhất, ông Thuyết nói “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là “đặt theo trật tự từ tiếng Hán (Trung Quốc)” là sai hoàn toàn. Có lẽ nào Bác Hồ, một bậc thầy ngôn ngữ, một “nhà văn hóa tương lai” lại đặt tên nước theo ngữ pháp Tàu? Câu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” hoàn toàn là trật tự tiếng Việt, bởi tiếng Việt danh từ đứng trước, tính từ đứng sau, như “hoa đỏ”, “em đẹp”, v.v… Tương tự: “Việt Nam” là danh từ “Dân chủ Cộng hòa” là tính từ, sao “theo trật tự từ tiếng Hán”? Còn trật tự tên đầy đủ của Trung Quốc là: 中华人民共和国, đúng là có trật tự “Trung hoa nhân dân cộng hòa” nhưng ông Thuyết lại bỏ quên chữ “nước” cuối cùng của người ta. Trật tự tiếng Hán là thế nhưng khi dịch sang tiếng Việt, ta phải dịch ngược lại là: Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ở đây “国: Nước” là danh từ tương ứng như “Việt Nam” trong “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” chứ không phải chữ “Trung Hoa”. Chỉ có người không hiểu ngôn ngữ mới nghĩ như ông Thuyết. Nên nói như ông Thuyết “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam” mới đúng ngữ pháp tiếng Việt là dốt, là nói ngược. Còn muốn theo ý ông mà đúng theo tiếng Việt thì phải thêm vào chữ “Nước” nữa mới đúng: Nước cộng hòa dân chủ Việt Nam!
Còn “Cộng hòa XHCN Việt Nam”, về ngữ pháp thì đúng là sai tiếng Việt như ông Nguyễn Văn An từng nói. Thêm chữ Nước thành Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sẽ là đúng, nhưng trong các văn bản không có chữ Nước. Thói quen viết tắt, nói tắt của dân ta nhiều cái vô nghĩa vẫn thành phổ biến. Chữ Liên Xô thực ra là vô nghĩa mà đúng ra phải là Liên bang Xô viết khi dịch từ hai chữ Советский Союз. Có điều nhìn thoáng hơn nữa, trong học thuật, một khái niệm có khi không theo logic, theo nghĩa thông thường. Như Chủ nghĩa đa đa của lý luận văn học, hạt quack trong vật lý hạt chẳng hạn. Nên CHXHCNVN đã quen dùng, lại theo tinh thần đó nữa thì cũng không cần phải sửa đi sửa lại cho rắc rối.
***
Viết về Nguyễn Minh Thuyết lại thấy bóng dáng những người khác mà tôi đã từng viết: Thể chế Việt Nam có chuyện đáng lo ngại và hơi buồn cười là bỏ nhiều công sức đào tạo, ưu ái, trọng dụng rồi vinh danh những người thực chất là tầm thường chỉ tài diễn. Giới sử học có Phan Huy Lê và một nhân vật là đại biểu QH mà nói gì cũng sai, luôn là thiểu số “cá biệt” trên diễn đàn QH, với chuyên môn lịch sử thì có dã tâm lộn tùng phèo, xoá nhoà tất cả ranh giới của chính tà, thiện ác. Đó chính là Dương Trung Quốc. Bởi lịch sử theo chính đạo, thiện đạo là lịch sử vinh danh những anh hùng đánh thắng quân ngoại xâm, giữ vẹn bờ cõi đất nước, như Vua Quang Trung Nguyễn Huệ là ví dụ tiêu biểu. Nhưng nhóm Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc lại đặt Nguyễn Ánh, người từng cắt đất để cầu viện Pháp và cầu viện quân Xiêm giành quyền lực, ngang hàng với Nguyễn Huệ, gần đây còn cho Nguyễn Ánh có công thống nhất đất nước vì đã tiêu diệt được nhà Tây Sơn của Vua Quang Trung! Chỉ có thứ lịch sử đi theo tà đạo, ác đạo mới có quan điểm như vậy mà thôi!
Thật e ngại cho sự phát triển của đất nước trước bao sự đổi mới lộn tùng phèo như vậy. Trước có đổi mới văn chương của Nguyên Ngọc, tiếp theo là đổi mới lịch sử của Phan Huy Lê như vừa nói, năm nay có vụ ồn ào đổi mới chữ viết của ông PGS Hiền và xem chừng nguy hại hơn cả là đổi mới giáo dục của Nguyễn Minh Thuyết!
7-2-2018
ĐÔNG LA


Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

VỀ LỜI KỂ CỦA CCB NGUYỄN VĂN PHÚC, NGUYÊN CHIẾN SĨ LIÊN LẠC CỦA CHÍNH UỶ BÙI TÙNG

 VỀ LỜI KỂ CỦA CCB NGUYỄN VĂN PHÚC, NGUYÊN CHIẾN SĨ LIÊN LẠC CỦA CHÍNH UỶ BÙI TÙNG

Sau khi tôi đăng bài TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NGUYỄN KHẮC NGUYỆT VIẾT SỬ, một bạn đọc chia sẻ đường link dẫn đến bài viết của Hữu Mão đăng trên trang facebook của mình “GẶP NGUYỄN VĂN PHÚC - CHIẾN SĨ LIÊN LẠC CỦA CHÍNH ỦY BÙI TÙNG LỮ ĐOÀN XE TĂNG 203” (https://www.facebook.com/100001604479850/posts/5218140464916051/). Bài viết được gắn thẻ Nguyễn Khắc Nguyệt mà bạn Tuyên Lưu trong một bình luận viết: “Nói về 2 nhân vật này (Khoa… và Khắc Nguyệt), em thấy:
- Khoa… từng có nhiều phát ngôn và hành vi rất bố láo với Trung tướng Phạm Xuân Thệ; ông ta cũng viết nhiều bài bênh vực tử tù Hồ Duy Hải, tấn công nền Tư pháp nước nhà và còn giao lưu với đám lưu manh "Báo sạch". Khi bọn đó bị CA hốt thì … xóa sạch dấu vết trên FB...
- Khắc Nguyệt lập nhóm Facebook "Lính xe tăng", quy tụ hàng chục ngàn CB, CS của Binh chủng Tăng - Thiết giáp ở khắp mọi nơi trên đất nước để tập trung tuyên truyền, chĩa mũi nhọn vào Trung tướng Phạm Xuân Thệ. Bất cứ ai có bài viết hay còm ở trong đó mà trái ý Nguyệt thì đều bị anh ta cho out ngay lập tức!”
***
Ngày 14/3/2022, Thường vụ Quân ủy Trung ương, gồm sáu vị: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ; Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã có Kết luận số 974-KL/QUTW:
"Vào thời điểm trưa ngày 30/4/1975, sau khi trực tiếp chỉ huy việc áp giải Dương Văn Minh đến Đài phát thanh Sài Gòn, tại đây, đồng chí Đại úy Phạm Xuân Thệ, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh."
"Văn bản đang được soạn thảo thì đồng chi Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 có mặt. Từ đó đồng chí Bùi Văn Tùng cùng bộ phận cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm để phát trên Đài phát thanh."
Hôm 28/3, Ban Tuyên giáo Trung ương cũng đã ra một công văn "định hướng chỉ đạo" báo chí tường thuật về "ai là người soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng" dựa theo kết luận ngày 14/3 của Thường vụ Quân ủy Trung ương.
***
Một vụ việc sau tranh luận đã được cơ quan lãnh đạo chỉ đạo, các cơ quan có chức trách tổ chức điều tra, nghiên cứu, hội thảo ba mặt một lời, và cuối cùng Thường vụ Quân ủy Trung ương đã ra kết luận như trên thì nếu còn mâu thuẫn, người ta có thể gởi đơn từ, viết bài phản biện và chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn như Hữu Mão vẫn đăng bài trên THỜI BÁO VĂN HỌC NGHỆ THUẬT mà nội dung chứa những thông tin sai, những nhận định tuỳ tiện, chủ quan, sai trái thì cả Hữu Mão lẫn THỜI BÁO VĂN HỌC NGHỆ THUẬT đã phạm pháp. THỜI BÁO VĂN HỌC NGHỆ THUẬT thuộc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam với Tổng biên tập là Hoàng Dự.
Tệ hại hơn, Hữu Mão còn đăng tiếp trên facebook, để người đọc bầy đàn xúm vào thảo luận, tiếp tục công kích, chửi bới cả hai người anh hùng là Phạm Xuân Thệ và Bùi Quang Thận. Nguyễn Xuân: “Nhân chứng, vật chứng như vậy mà Lý Thệ vẫn cố mà tranh công là sao vậy?!!!”; Đoàn Kim Học: “Lịch sử luôn phải được tôn trọng. Lý "Thệ" phải được xử ngay”; Cuong Tran: “Vậy mới thấy Lý Thông. Không phải 1 mà tới 2 và xyz Lý Thông. Bùi Quang Thận cũng tự nhận mình chỉ huy xe tăng 843 húc đổ cổng chính dinh Độc lập chứ không phải xe tăng 390. Nực cười quá”; Trần Đình An: “Như vậy theo lời ông Phúc kể thì Phạm Xuân Thệ cũng đã viết một cái gì đó đưa cho Dương Văn Minh, nhưng vì chữ viết làm Dương Văn Mình khó đọc, và Bùi Văn Tùng đã với lấy tờ giấy đó xem thì phát hiện ra sự sai sót nghiêm trọng khi Thệ ghi Dương Văn Minh là Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, tức là công nhận VNCH là một chính thể. Sau đó chưa biết ông Tùng là ai, Thệ định tìm nhờ cán bộ Tuyên huấn của Trung đoàn 66 viết lại. Nhưng ngay khi đó ông Tùng đã xưng danh là Chính ủy Lữ đoàn 203 thiết giáp, hoàn toàn có quyền cao nhất vào lúc ấy để soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng. Ông Tùng dùng chữ để Dương Văn Minh là Tổng thống Chính quyền Sài Gòn là quá chuẩn.
Xét lại thì đúng là Phạm Xuân Thệ cũng có soạn thảo Văn bản đầu hàng, nhưng nếu Văn bản đó được Dương Văn Minh đọc thì chắc chắn Thệ không tránh khỏi là tội nhân của Lịch sử, vì vô hình chung sẽ biến cuộc Chiến tranh Giải phóng của quân dân cả hai miền Nam, Bắc thành cuộc chiến tranh xâm lược. Như vậy, việc Chính ủy Bùi Tùng soạn thảo Văn bản đầu hàng chính thức cho Dương Văn Minh, cũng là cứu thua cho Phạm Xuân Thệ khỏi cái tội non kém về nhận thức Chính trị. Và nếu điều đó bị Lịch sử phán xét, bị kẻ thù lợi dụng để chống phá thì Thệ có công lớn đến đâu cũng khó thoát tội”; v.v...
***
Hôm nay tôi sẽ chỉ ra những sai trái và mâu thuẩn trong bài viết, và cũng cần phải khách quan, công nhận những ý đúng đắn.
Hữu Mão viết theo lời kể của Cựu chiến binh Nguyễn Văn Phúc:
“… xe bọc thép K63 của Chính ủy Bùi Tùng… chạy vào trong sân dinh và dừng lại, ông Phúc, ông Quý mang theo súng AK cùng Chính ủy Tùng nhảy xuống xe. Ông Phúc và Chính ủy Bùi Tùng chạy vào dinh… Lên tới tầng 2, theo hành lang bên trái, đến một căn phòng rộng… Một số người mặc dân sự ngồi một bên… Trong phòng lúc đó có vài chiến sĩ ta… Chính ủy Bùi Tùng cao hơn mọi người, rẽ đám đông vào phòng. Đến trước dãy ghế có những người đang ngồi, ông hỏi: “Ai là Dương Văn Minh?”. Ông Minh dứng dậy. Chính ủy Bùi Tùng dõng dạc nói: “Ông Minh! Các ông đã bị bắt. Các ông phải đầu hàng vô điều kiện!”. Nghe vậy, ông Minh nói: “Thưa quý thượng cấp, chúng tôi đã ngồi ở đây từ sáng để chờ quý thượng cấp đến để chúng tôi bàn giao chính quyền”. Chính ủy Bùi Tùng nói to: “Các ông chả còn gì để bàn giao cả. Giờ phút này toàn bộ thành phố Sài Gòn - Gia Định đã nằm dưới sự kiểm soát của Quân giải phóng. Các ông phải đầu hàng!”. Chính câu nói to dõng dạc này của Chính ủy Bùi Tùng lúc ấy, sau này có người đã nhận là câu nói của họ!”
Như vậy, ông Nguyễn Văn Phúc kể “Trong phòng lúc đó có vài chiến sĩ ta” chính là công nhận nhóm anh Phạm Xuân Thệ đã đến trước. Nhưng do chỉ biết đến mình, ông đã không nghĩ đến chuyện nhóm anh Phạm Xuân Thệ đã làm xong cái việc bắt Dương Văn Minh và nội các rồi. Cũng như trong thể thao, trong sáng chế phát minh khoa học, người ta chỉ công nhận người đầu tiên. Ông Bùi Tùng đến sau có nói bao nhiêu câu cũng vô nghĩa. Ông Phúc cũng sai khi nói: “câu nói to dõng dạc này của Chính ủy Bùi Tùng lúc ấy, sau này có người đã nhận là câu nói của họ!” Vì anh Phạm Xuân Thệ nói ý các ông Dương Văn Minh đã là tù binh thì không có chuyện “bàn giao cái gì cả”, khác hẳn ý Bùi Tùng “chả còn gì bàn giao”, nghĩa là ông Tùng có tính đến chuyện bàn giao nhưng không còn gì, tức ý của Phạm Xuân Thệ quyết liệt hơn ý Bùi Tùng. Có điều ông Bùi Tín cho rằng chính ông ta nói câu trên chứ không phải là ông Bùi Tùng, và chính ông Bùi Tùng cũng kể là mình có gặp Bùi Tín.
Nguyễn Văn Phúc kể tiếp: “Tôi ra khỏi phòng chạy xuống sân dinh… Biết tìm Lữ trưởng ở đâu bây giờ?... tôi phải mất đến mấy phút mới tìm được Lữ trưởng Nguyễn Tất Tài đang đứng ở giữa sân dinh”.
Ý này của ông Phúc sai hoàn toàn với ý ông Bùi Tùng, trong ngày 30 tháng 5 năm 1990, ông đã viết Báo cáo tại Thành phố Hồ Chí Minh:
“Lúc này người chỉ huy có cấp hàm và chức vụ cao nhất của quân đội ta tại dinh độc lập là đồng chí trung tá Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng và trung tá Bùi Văn Tùng chính ủy lữ đoàn (chế độ hai thủ trưởng). Nên mọi việc tại dinh phải trật tự nhất nhất theo kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến trường, các cấp dưới thuộc quyền và phối thuộc đều phải chấp hành theo mệnh lệnh của chúng tôi… Đồng chí Phạm Duy Đô quyền đại đội trưởng đặc công theo các xe tăng dẫn đầu vào trước, thấy chúng tôi vào ra báo cáo “Chính phủ ngụy và cả Dương Văn Minh đều ở trong dinh, mời các thủ trưởng vào giải quyết”. Thấy chúng tôi vào Dương Văn Minh nói ngay “chúng tôi chờ các ông vào để bàn giao”. Tôi bực mình nói ngay: “Các ông chẳng còn gì để mà giao, chỉ có một việc là đầu hàng không điều kiện”.
Như vậy, cùng một chuyện, ông liên lạc với ông thủ trưởng đã kể khác nhau hoàn toàn, vậy mà các ông đòi đấu tranh cho sự thật thì có khác gì đòi lịch sử công nhận sự xuyên tạc sự thật.
Ông Nguyễn Văn Phúc kể: “Tôi chạy lại báo cáo: “Báo cáo Lữ trưởng! Đã bắt được Dương Văn Minh rồi!”. Lữ trưởng hỏi lại: “Bây giờ ở đâu?”. Lúc ấy tôi ngoái cổ nhìn về phía dinh thì thấy một số người đã đưa Dương Văn Minh ra và lên một chiếc xe Jeep. Chính ủy Tùng cũng lên một chiếc xe phía sau và hai xe cùng chạy ra khỏi dinh. Tôi vội chỉ tay và nói với Lữ trưởng Tài: “Quân ta đưa ông Minh ra Đài Phát thanh và Chính ủy Tùng cũng đi theo rồi kia ạ”. Lập tức Lữ trưởng Tài dậm chân xuống đất nổi nóng quát: “Ai bảo làm việc ấy? Nếu họ giả danh Quân Giải phóng giúp Dương Văn Minh tẩu thoát thì bố Tùng nhà cậu chết!” Như vậy, ý này càng chứng tỏ trong dinh ông Bùi Tùng không biết anh Phạm Xuân Thệ là ai, nên không có chuyện ông Bùi Tùng chỉ huy anh Phạm Xuân Thệ bắt Dương Văn Minh.
Chuyện ở Đài Phát thanh SG, ông Nguyễn Văn Phúc kể: “Chính ủy Bùi Văn Tùng ngồi cách ông Dương Văn Minh hai người. Không khí trong phòng có vẻ trầm lặng. Tôi tiến lại đứng cạnh Thủ trưởng của mình và đưa cho ông tờ giấy tôi ghi lời dặn của Lữ trưởng là Chính ủy phải kiểm tra mật danh của nhóm người dẫn giải Dương Văn Minh… Một lát sau, tôi thấy một người đeo xà cột chéo trước ngực tiến tới trước mặt Dương Văn Minh và đưa cho ông ta một tờ giấy. Ông Minh xem lướt qua và nói với người đó: “Chữ thượng cấp viết thế này, tôi không đọc được”. Nghe ông Minh nói vậy, Chính ủy Tùng vội với tay lấy tờ giấy từ tay ông Minh”.
So sánh với Báo cáo, trong ngày 30 tháng 5 năm 1990, ông Bùi Tùng viết:
“Tôi, Minh, Mẫn, anh em bộ đội đi kèm theo Minh và các nhà báo vào một căn phòng hơi hẹp ở đài phát thanh. Tôi và Minh ngồi trên trên một chiếc ghế đệm dài. Sau nhiều đêm mất ngủ, người thấm mệt, tôi bừng tỉnh người toát đầy mồ hôi, nghĩ: “Chết mẹ, nếu Minh nói trên đài không đúng ý đồ của mình thì nguy to vì mình phải chịu trách nhiệm”.
Như vậy, ông Nguyễn Văn Phúc đã vạch áo thủ trưởng Tùng của mình để thiên hạ xem lưng vì ông Tùng đã quên béng chuyện nhóm anh Thệ đã soạn xong Bản Tuyên bố đầu hàng cho DVM. Lời ông Phúc kể và chuyện ông Tùng viết mình “thiu thiu ngủ” chứng tỏ thực tế ông sang đài Phát thanh SG để chứng kiến “cán bộ Quân đoàn” làm việc, chứ không có chuyện ông chủ động sang đài để soạn thảo văn bản. Chỉ khi thấy một cán bộ trẻ đưa văn bản cho DVM, ông với tay cầm đọc thấy có ý chưa chuẩn thì ông mới “bừng tỉnh”, và tận lúc này ông mới hỏi Phạm Xuân Thệ là ai, và biết PXT cấp thấp hơn mình, ông mới nghĩ đến trách nhiệm của mình, mới giành quyền chỉ huy việc soạn thảo văn bản. Có điều ông nói: “Tại sao lại viết là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa? Nếu viết như vậy hóa ra công nhận Việt Nam cộng hòa là một quốc gia có chủ quyền và thế là mình đi xâm lược à?”. Điều này nghe có vẻ rất hay, nhưng nếu có tri thức văn học, hiểu ngôn ngữ văn chương thì chính ông Bùi Tùng đã sai chứ không phải nhóm anh Phạm Xuân Thệ sai. Bởi việc soạn văn bản cho ông Dương Văn Minh đọc thì phải viết đúng như ý của ông Dương Văn Minh, tất ông Minh phải xưng mình là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngay việc viết “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa” cũng không có nghĩa là “công nhận VNCH là là một quốc gia có chủ quyền”. Về văn chương, viết “Chính quyền Sài Gòn” là cách viết hoán dụ chỉ Chế độ VNCH, cả hai không khác gì nhau, như thông tin báo chí đang đưa tin “Kiev thông báo”; “Matcơva thông báo”, v.v… VNCH chỉ là một cái tên gọi chính quyền mà phía ta cho là một chế độ tay sai, bù nhìn, cũng như một tên cướp cũng có một cái tên vậy. Như ý ông Bùi Tùng cho viết “VNCH” là sai thì chính ông viết ông Dương Văn Minh là “Tổng thống” cũng sai, vì tổng thống luôn gắn với một chính quyền, một đất nước, viết vậy ông Tùng cũng công nhận “Chính quyền SG là chế độ của một quốc gia có chủ quyền”. Qua chuyện này, chứng tỏ trình độ của Trung tá Chính uỷ Bùi Tùng cũng hạn chế, chỉ thể hiện được mình là người lính thuộc bài, luôn “căm thù giặc sâu sắc”, chứ không phải là một nhà chính trị, nhà văn hoá.
Nếu ông Bùi Tùng “quên luôn” chuyện nhóm anh Phạm Xuân Thệ soạn văn bản đầu hàng cho Dương Văn Minh trước mình thì ông Phúc cũng sai khi kể ông Tùng tự mình viết hoàn toàn văn bản. Bởi lời ông Phúc mâu thuẫn với lời kể của nhóm anh Phạm Xuân Thệ, đặc biệt là anh Nguyễn Khắc Nhu kể do anh xem phim “Giải phóng” của Liên Xô, anh đóng góp trong văn bản phải có ý “đầu hàng không điều kiện”. Thú vị là những chữ này đúng là có trong văn bản gốc của ông Bùi Tùng.
Cụ thể, anh Nhu kể: “anh Thệ hỏi anh Tùng xong… biết anh ấy là chính uỷ lữ đoàn 203 mời xuống luôn cùng tham gia. Lúc bấy giờ bắt đầu là viết lại những ý kiến mỗi anh em bổ sung một câu… Riêng tôi… hồi ở HN … tôi đã nghe Phát-xít Đức, tôi đi xem phim nhiều, đầu hàng vô điều kiện Hồng quân Liên xô, thì tôi mới nói anh ấy thêm chữ đầu hàng vô điều kiện vào, thì trong cái bút tích có cái phần đó”.
Nếu khách quan, ta thấy công đầu ở Đài Phát thanh SG vẫn thuộc về nhóm anh Phạm Xuân Thệ, bởi chính họ đã bắt DVM sang Đài để đọc lời Tuyên bố đầu hàng. Chính họ cũng đã soạn xong văn bản, còn ông Bùi Tùng lúc đầu chỉ đi theo để chứng kiến “cán bộ quân đoàn làm việc”. Chỉ khi biết rõ Phạm Xuân Thệ, ông mới giành quyền chỉ huy. Điều này theo kỷ luật quân đội không sai, nhưng như ông Nguyễn Văn Phúc kể, chuyện ông Tùng tự viết, không đếm xỉa đến bản của nhóm anh Thệ soạn sẽ giống như một sự cướp công. Còn với lý do nhóm anh Phạm Xuân Thệ viết sai, thì như đã phân tích, chính ông Bùi Tùng đã phê phán sai.
***
Tuy có nhiều sai trái nhưng lời kể của ông Nguyễn Văn Phúc cũng có vài chi tiết thú vị, thứ nhất là giúp chúng ta hiểu rõ hơn vài chi tiết trong văn bản gốc của ông Bùi Tùng, và giải đáp được cái chuyện tranh cãi: văn bản gốc của ông Bùi Tùng soạn đã bị xé nhưng sao vẫn còn?
Ông Phúc kể, sau khi thảo xong văn bản, ông Tùng đã đưa tờ giấy cho ông Dương Văn Minh, “Ông Minh đọc xong, thò tay vào túi áo dưới của mình lấy bút ra viết thêm hai chữ “Đại tướng” vào sau chữ “Tôi” và gạch hai chữ “Tổng thống” trong văn bản đi… Như vậy văn bản này ngoài chữ viết của Chính ủy Bùi Tùng còn có hai chữ “Đại tướng” do ông Dương Văn Minh viết thêm vào”.
Chuyện này thú vị vì nó khớp với những chi tiết trong vật chứng, vậy là có thêm một chứng cớ chứng tỏ nó là văn bản gốc của ông Bùi Tùng viết mà Bùi Thanh trên Báo Tuổi trẻ kể mình đã tình cờ thấy ở Bảo tàng Quân Đoàn 2, và cán bộ bảo tàng cũng xác nhận điều đó.
Về chuyện văn bản gốc bị xé rồi sao vẫn còn, cần phải nhắc lại chuyện đối đáp giữa hai ông Hà Huy Đỉnh và Bùi Tùng trong cuộc Toạ đàm ở Dinh Thống Nhất.
Ông Hà Huy Đỉnh:
“…sau khi mà ông DVM đọc thì anh Tùng vò cái giấy này, anh quăng cái, thì thưa quý vị, tôi … lò mò tôi lại tôi lượm. Cái người đòi lại cũng chính anh Tùng, rồi anh Tùng xé. Đấy, thì ít lâu sau… báo Tuổi trẻ có đăng cái tờ giấy vò nát, ở đâu ra? Văn bản đầu hàng của DVM thì bản thân tôi cũng thắc mắc… thì anh Tùng có mấy bản trong tay? Thành ra ai soạn diễn văn này? Không biết anh (Thệ) viết chữ gì? Anh Tùng viết chữ gì? Thực sự là tôi cũng không thấy”.
Bùi Tùng:
“… tôi với ông… cùng lên cái phòng khách đài PT, cho nên những việc làm của tôi lúc đó anh chứng kiến cả, cho nên anh mới biết cái bản thảo của tôi… tôi vò ấy mà… Nhưng mà cái chỗ mà anh nói tôi xé ấy mà thì tôi không nhớ được. (Nhưng) Hai bản thảo của tôi (thì) vẫn còn nguyên”.
Về chuyện trên, ông Hữu Mão hỏi ông Phúc:
- Sao có người nói rằng lúc ấy Chính ủy Tùng vo tờ giấy mà Dương Văn Minh vừa đọc xong ném vào góc phòng, có người cúi nhặt thì Chính ủy Tùng đòi lại và xé vụn ra?
Ông Phúc trả lời:
- Họ nhầm đấy! Đó là tờ giấy màu trắng của tôi ghi lời dặn của Lữ trưởng đưa cho Chính ủy là phải kiểm tra mật danh của nhóm người dẫn giải Dương Văn Minh. Khi xong việc thì cụ ấy vò bỏ đi. Còn tờ giấy viết bản tuyên bố đầu hàng cho ông Minh là giấy màu xanh, ít hôm sau Chính ủy Tùng giao nộp lại cho cán bộ Cục Chính trị Quân đoàn 2.
Như vậy, lời ông Phúc đã giải đáp được băn khoăn của bao người, trong đó có tôi.
Cả hai lần viết báo cáo cấp trên, 1985 và 1990, ông Bùi Tùng đều viết hai văn bản mà ông viết ở Đài Phát thanh SG vẫn còn:
“Ngay chiều hôm đó cục chính trị quân đoàn đến hỏi tôi lấy hai bản thảo. Tôi lục mãi trong túi dết mang tài liệu vẫn không thấy, chắc là mình vứt bỏ sọt rác ở đài phát thanh. May sao tôi thò vào túi quần thì lấy ra hai bản thảo đã vò nhưng chưa nát”.
***
Tóm lại, cả hai phía, lính bộ binh của nhóm anh Phạm Xuân Thệ và lính xe tăng của ông Bùi Tùng đều kể không đầy đủ và mâu thuẫn nhau, nhưng nhóm anh Thệ luôn khách quan và công tâm hơn, vì họ luôn nhắc tới công lao của ông Bùi Tùng. Ngược lại, chính ông Bùi Tùng và những người ủng hộ ông đã cắt hết công lao của nhóm anh Phạm Xuân Thệ, nhưng lời họ đã mâu thuẫn với nhóm anh Thệ, mâu thuẫn với thực tế, và mâu thuẫn với chính mình. Trắng trợn nhất là chuyện Nguyễn Hữu Thái viết sách in tấm ảnh lịch sử ở Đài Phát thanh SG đã cắt bỏ luôn hình anh Phạm Xuân Thệ. Còn việc cho anh Phạm Xuân Thệ là Lý Thông, cướp công Bùi Tùng thì cần phải nói ngược lại mới đúng, và chỉ là bọn lưu manh, ngu xuẩn mới nghĩ như vậy mà thôi!
***
Trước ngày 14/3/2022, Thường vụ Quân ủy Trung ương có Kết luận số 974-KL/QUTW, từ 2006, theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã nghiên cứu làm rõ những mâu thuẫn và đã kết luận “Về việc thảo lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh”, cho đến hôm nay, bao việc sáng tỏ hơn, vẫn rất chính xác:
“Tại đài phát thanh đồng chí Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang được soạn thảo, thì Trung tá Bùi Văn Tùng – Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 xuất hiện. Từ đó, bộ phận cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Văn Tùng tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm để phát trên đài phát thanh”.

6-5-2022
ĐÔNG LA