Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

NGUYÊN NGỌC VÀ NHỮNG LỜI “VÀNG” NGỌC

 NGUYÊN NGỌC VÀ NHỮNG LỜI “VÀNG” NGỌC

Có một bạn thích bài tôi mới đăng về Nguyên Ngọc, muốn tôi gởi thêm bài về NN để rõ hơn. Tôi trả lời là đã viết mấy chục bài, và khi lục tìm, tôi muốn gởi cho bạn ấy bài dưới đây, viết cũng đã 9 năm, có ý lặp lại, nhưng có ý mới và viết rõ hơn. Xin giới thiệu luôn với mọi người.
23-9-2022
ĐÔNG LA
NGUYÊN NGỌC VÀ NHỮNG LỜI “VÀNG” NGỌC
Trong bài Hy vọng gì … trên basam Nguyên Ngọc không chỉ viết: “Mà đứng đầu cái hội đồng ấy (Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT TW) thì theo dư luận là mấy người chẳng dính dáng gì và chẳng biết chút gì về văn học nghệ thuật cả” mà còn viết:“Trong cuộc gặp của Tổng bí thư Nguyên Văn Linh với văn nghệ sĩ cách đây mấy mươi năm, anh Nguyễn Đăng Mạnh có nói một câu chấn động, anh bảo Đảng khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ. Có người cho là giận mà nói quá. Nay với cái hội đồng vừa kể có người đứng đầu như vừa nói, lại có quyền hành lớn nhất về văn học nghệ thuật trên đất nước đau khổ này, thì quả là một sự sĩ nhục to lớn đối với toàn bộ giới văn nghệ và lý luận văn nghệ”.
Vậy Nguyên Ngọc là người như thế nào mà dám nói như trên?
Ở bài trước tôi đã viết chính Nguyên Ngọc là người “không biết gì” và “nói năng lấc cấc”. Vậy để chứng tỏ tôi thuộc lớp đi sau không phải là hỗn hào với một người thuộc hàng cô, chú của tôi, xin được liệt kê một cách toàn diện những nét chính về tài và trí của Nguyên Ngọc.
Trần Đăng Khoa từng cho Nguyên Ngọc thành danh với những tác phẩm “người tốt việc tốt”, như một Tố Hữu, một Phạm Tuyên trong văn xuôi. Theo Khoa: “tập truyện ngắn Rẻo cao… thật sự là kiệt tác… Phải nói đó là những trang văn hay… là thứ văn trong, sánh như mật ong, lại đượm ướp một làn hương rất đặc biệt. Đọc cứ bàng hoàng váng vất mãi”.
Tôi tìm đọc thì thấy chắc TĐK “bàng hoàng váng vất” vì 2 câu này: “Mùa xuân về trên rẻo cao đã làm nở những thứ hoa chỉ thơm ban đêm, kín đáo như nụ cười tình của một cô gái Mèo”; “Cùng với khí lạnh của đêm mùa xuân trên núi cao, bỗng tỏa vào nhà một thứ hương hoa tím nhạt, xa vắng và gần gũi, thoang thoảng êm dịu như mùi thơm của cả mùa xuân, của cả núi rừng Mèo”.
Xem kỹ một chút thì thấy Nguyên Ngọc viết “một thứ hương hoa tím nhạt, xa vắng và gần gũi”, theo cách nói của Trần Mạnh Hảo, là “sai tiếng Việt”! Với cách nói thông thường, người ta có thể nghe thấy một giọng nói “ấm áp” nhưng không ai lại ngửi thấy một thứ mùi hương "có màu tím” cả. Cũng chỉ có thể viết xa xôi mà gần gũi chỉ cảm giác lúc gần lúc xa của tâm trạng, chứ không thể viết "xa vắng và gần gũi", vì đã xa vắng sao còn gần gũi được?
Sau chiến tranh mấy năm, với tài năng ấy, Nguyên Ngọc đã được giao trọng trách lãnh đạo Hội Nhà Văn, làm Bí thư Đảng Đoàn. Đó chính là đỉnh cao trên quan lộ của ông. Chắc là dấu ấn đậm nhất nên trong bài Hy vọng gì … ông cũng kể:
“… đầu năm 1979, tôi được điều về làm việc ở Hội Nhà Văn Việt Nam. Anh Độ bấy giờ là Trưởng ban Văn hóa văn nghệ trung ương. Một hôm anh bảo tôi sang chỗ anh chơi …Anh Độ ngồi im một lúc, rồi nói, chậm rãi: “… trong nghệ thuật thường vẫn vậy, muốn có đỉnh cao mới thì bao giờ cũng phải có trường phái mới …, cậu nghĩ coi, có đúng không?”… Ý kiến của anh khiến tôi giật mình, kinh ngạc. Không ngờ anh tinh tế, sâu sắc, thậm chí cũng có thể nói uyên bác đến thế… Cho đến nay tôi vẫn nghĩ chúng ta đã bỏ mất một người lãnh đạo văn nghệ giỏi nhất, hay nhất, tốt nhất mà ta đã từng có thể có. Bao giờ mới tìm lại được một người như vậy?
”Cái ý Trần Độ “muốn có đỉnh cao mới thì bao giờ cũng phải có trường phái mới”, theo tôi (Đông La), thực ra không đúng so với thực tế. Những nhà văn vĩ đại như Dostoyevsky, Márquez và nhiều nhà văn đoạt giải Nobel cũ và mới, họ chỉ sáng tác theo “trường phái” của chính họ chứ không phải chạy theo các trường phái hình thức đã tự tôn lên thành các chủ nghĩa như Tượng trưng, Siêu thực, Hậu hiện đại; Tân hình thức; v.v… Vậy mà Nguyên Ngọc lại “giật mình, kinh ngạc…” về ý “trường phái mới” của Trần Độ. Một lần nữa chứng tỏ Nguyên Ngọc lại có tính bốc đồng, nhận thức đầy cảm tính, hay tưởng tượng ra những cái phi thực tế.
Trần Độ, vị tướng xông pha dọc ngang, lên Bắc vào Nam, với những công trạng lừng lẫy, khi được giao lãnh đạo lĩnh vực văn hóa văn nghệ, ông đã cho ra “Nghị quyết 05”:
“… Nền văn hóa mới Việt Nam xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin là một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc … Bản chất quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo … Làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch và phản động hòng biến văn hóa, văn nghệ thành phương tiện gieo rắc tâm lý bi quan và lối sống sa đọa…”
Về lý thuyết, rõ ràng Trần Độ đã làm quá tốt. Chính vì thế TBT Nguyễn Văn Linh mới ủng hộ ông hết mình. Còn Nguyên Ngọc, dưới trướng của Trần Độ, khi được giao trọng trách Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà Văn cũng đã đưa “Bản đề dẫn” cũng lại quá hay! Trong cuộc gặp nổi tiếng với TBT Nguyễn Văn Linh để “cởi trói” văn nghệ, Nguyên Ngọc nói: “nghệ thuật giữ cho con người không sa xuống thành con vật” và “Cái cốt lõi của văn nghệ là tính nhân đạo”. Tiếc là khi triển khai vào thực tế thì giữa “lời nói” và “việc làm” lại ngược nhau. Với cương vị TBT tờ Văn nghệ, Nguyên Ngọc đã khai sinh ra một tên tuổi mới chính là Nguyễn Huy Thiệp, với một loạt truyện ngắn mà truyện"Phẩm tiết" chính là một trong những yếu tố khiến Trần Độ bị kỷ luật! Trong truyện này, NHT đã miêu tả Vua Quang Trung như một tay du côn và cho Nguyễn Ánh mới là nòi vương giả. Nhà văn Mai Ngữ đã cho NHT lăng nhục cha ông tổ tiên mình. NHT (bản gốc) cũng dùng tài văn “nhét c. vào mồm thằng Khải (Nguyễn Khải) tài như cái đấu” mà dám chê tiệc của vua nhạt và “xẻo d. thằng Thi (Nguyễn Đình Thi)” xem có còn dê được không? Đến nay, Nguyên Ngọc và còn nhiều người vẫn đề cao văn chương Nguyễn Huy Thiệp, như Phạm Xuân Nguyên chẳng hạn. Nhưng cũng như vụ bênh Nhã Thuyên, họ đã đọc văn Thiệp bằng lối đọc mù chữ, còn Nguyên Ngọc đã bất chấp tuyên bố của mình: “nghệ thuật giữ cho con người không sa xuống thành con vật” và “Cái cốt lõi của văn nghệ là tính nhân đạo”. Bởi trong văn Nguyễn Huy Thiệp có rất nhiều chi tiết, hình ảnh, ý tứ “vả vào mồm” chính Nguyên Ngọc. Về chân dung người nông dân VN: “Chẳng có khuôn mặt nào đáng là mặt người. Mặt nào trông cũng thú vật, đầy nhục cảm, không đểu cáng, dối trá thì cũng nhăn nhúm đau khổ”; tả mặt một người đen và tái như da ở “bìu dái”, “lông chân như lông lợn”; về chính trị: “Chính trị rặt trò mờ ám bỉ ổi”; về văn chương: “Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất”; trong truyện Không có vua, hành động loạn luân bố chồng bắc ghế nhìn trộm cô con dâu tắm đã được biện minh: “Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con buồi...”; ghê sợ hơn nữa, trong Tướng về hưu, nhân vật chính cho chuyện vợ là bác sĩ sản khoa thường lấy xác thai nhi nấu cho chó ăn là “chả quan trọng gì”; v.v…
Trong văn chương thế giới có nhiều chuyện còn ghê gớm hơn. Csáth Géza với truyện Kẻ giết mẹ kể chuyện hai đứa trẻ vì không được người mẹ quan tâm đã phản kháng một cách vô thức bằng cách bắt giết những con thú hoang, rồi chúng quen tay, khi đến tuổi dậy thì cần tiền thỏa mãn tính dục, chúng đã dễ dàng giết chính mẹ mình. Dư Hoa trong truyện Sống kể câu chuyện trong một bệnh viện người ta đã lấy sạch máu một đứa học trò 13 tuổi, con một cựu binh, làm nó chết, để tiếp máu cho bà vợ của ông chủ tịch huyện vốn là lính của cha đứa bé.Giống như một bệnh nhân cần bác sĩ, cái cơ thể xã hội cũng cần đến những bác sĩ, đó chính là những nhà tư tưởng và những nhà văn mà tác phẩm của họ có tầm tư tưởng. Họ viết về phần tăm tối của con người để rung hồi chuông cảnh tỉnh, viết về cái ác với tấm lòng lương thiện chính là hướng người đọc về phía thiện. Nhưng văn của Nguyễn Huy Thiệp không như vậy. Qua những dẫn chứng trên, Nguyễn Huy Thiệp thường xóa nhòa ranh giới giữa đúng sai, thiện ác bằng cái nhìn vô cảm của mình và bằng những hành động, lời nói mất nhân tính của các nhân vật.
Như vậy hai người “có công” đầu làm Trần Độ thất sủng chính là Nguyên Ngọc và Nguyễn Huy Thiệp. Chính Trần Độ thừa nhận Nguyễn Huy Thiệp “có thể chưa hay, chưa giỏi trong việc xây dựng nhân vật văn học lấy nguyên mẫu từ một anh hùng dân tộc, vua Quang Trung” và “… với truyện ngắn Phẩm Tiết… anh Thiệp thực có ý định nêu tên để chửi rủa vài người nào đó, thì đó là ý định xấu, có hại”. Chính ông cũng phải thừa nhận sự yếu kém của chính mình: “Tôi tự thấy tôi là người không thiếu bản lĩnh, nhưng do tính phức tạp của môi trường mới mà chất lính trong tôi chưa hòa nhập được, nên tôi bị vấp ngã giữa đường”. Tôi (Đông La) cũng đã viết: “Và xem chừng Trần Độ bị kỷ luật bởi vì ông đúng như lời Tướng Nguyễn Sơn từng nói về ông mà chính ông đã kể lại trong Hồi ký: "Mày ngồi đây làm gì. Mày thì biết chó gì văn nghệ”. Tiếc là Trần Độ, vị tướng có nhiều công trạng trong kháng chiến, ông quen chung vui niềm vui chiến thắng mà không biết cách chấp nhận thất bại của riêng mình, đã trở cờ, phản lại sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà chính mình đã dấn thân. Khi đương chức ông cho Chủ nghĩa Mác Lê-nin là mặt trời chân lý sáng soi, ngược lại khi mất chức ông lại cho là “cái bánh vẽ khổng lồ”.
Như vậy tại sao Nguyên Ngọc vẫn khăng khăng đề cao Trần Độ: “Cho đến nay tôi vẫn nghĩ chúng ta đã bỏ mất một người lãnh đạo văn nghệ giỏi nhất, hay nhất, tốt nhất mà ta đã từng có thể có. Bao giờ mới tìm lại được một người như vậy?” Chứng tỏ Nguyên Ngọc lại thể hiện tính bất chấp sự thực, cố chấp đề cao Trần Độ một cách băng nhóm, bè cánh. Khi nắm trận địa báo Văn Nghệ, Nguyên Ngọc còn đăng bài “Hãy đọc bài ai điếu cho nền văn chương minh họa” của Nguyễn Minh Châu, tạo nên cái không khí Hồng vệ binh “lật đổ các thần tượng đã rữa nát” thời ấy. Theo Văn Chinh viết: “Nguyên Ngọc - người tạo gió trong văn học, góp gió nhiệt tâm của mình vào gió lớn thời đại để ngọn cờ văn học được phất lên mạnh mẽ; cũng chính là người làm hỏng, làm chậm đà đổi mới của văn học”; rồi: “Với cá tính triệt để và cực đoan, … Cái người nhân danh dân chủ này lại mất dân chủ một cách trắng trợn đến thế, …cái lý cố gì mà Tổng biên tập tờ báo của Hội lại không đăng, nhất định không đăng nghị quyết của BCH Hội nhận định và chấn chỉnh báo Văn nghệ của Hội… Vâng, như tôi biết, đó là hai trong các nguyên cớ trực tiếp người ta đã thay Tổng Biên tập Nguyên Ngọc”.
Vậy mà từ khi mất chức Nguyên Ngọc chưa bao giờ nhận ra được sai lầm và yếu kém của mình cả. Tiếc là theo quán tính dư luận mà chính Nguyên Ngọc tạo nên, Nguyên Ngọc vẫn là người có công đầu trong “đổi mới” văn chương, vẫn là người trí cao tâm sáng. Nhưng nếu ai đủ thông thái sẽ thấy Nguyên Ngọc đúng là không biết gì. Khi là người bên lề, Nguyên Ngọc đã cố công truyền bá lý luận văn học phương Tây. Nhưng do ông không hiểu bản chất vấn đề nên vừa dịch sai vừa truyền bá những quan điểm trái ngược nhau.
***
Cuốn Le Degré zéro de l'écriture suivi de Nouveaux essais critiques của Barthes Nguyên Ngọc đã dịch là Độ không của lối viết. Barthes quan niệm văn chương có 3 chiều. Ngôn ngữ và lối viết tạo nên một mặt phẳng, còn chiều thứ ba l'écriture chính là sự cao sâu của tác phẩm, thể hiện trách nhiệm cũng như sự dấn thân của nhà văn với xã hội. Như vậy Nguyên Ngọc dịch l'écriture là lối viết vừa lẫn lộn, vừa sai ý của Barthes. Không chỉ dịch sai, Nguyên Ngọc lại truyền bá tiếp quan điểm sáng tác của Kundera ngược với Barthes khi dịch cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết. Bởi triết lý sáng tác của Kundera là Hiện tượng học, mà triết thuyết này lại đề cao nhận thức chủ quan của cá nhân, đặt “thế giới trong ngoặc”. Nghĩa là không có chuyện “dấn thân” cái gì hết. Chính vì không hiểu bản chất vấn đề, Nguyên Ngọc đã chạy theo cái vỏ của những khái niệm lấp lánh, nên mới làm một việc mâu thuẫn như vậy. Còn chữ l’ambigui của Kundera Nguyên Ngọc cũng lại dịch sai là tính nước đôi. L’ambigui theo từ điển là sự mơ hồ. Mà sự mơ hồ thì hoàn toàn không phải là nước đôi. Mơ hồ là chưa rõ ràng, nước đôi là sự lưỡng lự giữa 2 cái. Vì vậy câu la sagesse de l’ambigui nên dịch là sự hiểu biết về những điều mơ hồ là phù hợp nhất. Còn hiểu sai như Nguyên Ngọc, rồi tưởng tượng ra đủ thứ như thế này: “Hiền minh của tính nước đôi chính là hiền minh của sự đi tìm, của dở dang chưa đến, không bao giờ đến, hiền minh của tính tương đối của chân lý…” thì thật nguy to, rồi sẽ dẫn người đọc đi đâu?
***
Nước ta vốn không phải là nôi của những phát minh khoa học và các hệ thống lý luận. Việc học tập, nghiên cứu, rồi dịch các tác phẩm ở nước ngoài để truyền bá ở trong nước là cần thiết. Nhưng cái chuyện cần phải “gạn đục khơi trong” để “tiếp thu tinh hoa” của thế giới đã trở thành hiển nhiên, nghe quen thuộc đến nhàm tai, nhưng thực tế vẫn luôn là một vấn nạn. Trong biết bao điều tốt đẹp được du nhập vào đất nước luôn có lẫn cỏ dại và nấm độc, những cái mà không ngăn chặn có thể sẽ dần làm mục ruỗng cả nền tảng xã hội. Người ta hay ham của lạ nên hay chạy theo những khái niệm lấp lánh, kêu beng beng, nhưng thực chất chẳng hiểu gì về chúng. Phải chăng chính Nguyên Ngọc cũng như vậy? Xem chừng ông chỉ là người có năng khiếu, đã sáng tác được một số tác phẩm có giá trị nhất định. Có điều năng khiếu và trình độ là hai chuyện khác nhau. Mà để lãnh đạo công cuộc đổi mới đưa văn chương lên một tầm cao mới là cả một sự nghiệp lớn lao và gian nan, cần phải có một người lãnh đạo có trình độ lý luận văn học cao. Mà lý luận văn học hiện đại lại dựa trên nền tảng triết học và những ngành khoa học liên quan, kể cả khoa học tự nhiên. Nếu hiểu thi pháp học ta thấy có những trường phái văn chương nghệ thuật có phần dựa trên những nguyên lý của khoa học tự nhiên, như chủ nghĩa siêu thực chẳng hạn. Điều này quá tầm với rất nhiều so với tầm tri thức của Nguyên Ngọc. Còn nếu không phải là người có trình độ thì cũng phải là người biết nghe người khác, như Lưu Bị biết nghe Khổng Minh vậy. Tiếc là Nguyên Ngọc không như vậy. Phải chăng không thể đổi mới theo chính đạo ông đã phải theo tà đạo, hậu quả là ông đã bị mất chức.Và còn tiếc hơn nữa, những ngày hôm nay, ông luôn có mặt trên tuyến đầu của những người quấy rối, làm loạn.Vậy thế nào là văn chương đổi mới?
***
Theo tôi cũng như khoa học công nghệ luôn dựa trên khoa học cơ bản để sáng chế ra hàng loạt các máy móc, đồ dùng càng ngày càng đẹp, càng tiện dụng hơn. Một trong những điều chủ yếu của đổi mới văn chương là phải làm tăng khả năng biểu đạt và biểu cảm của ngôn ngữ. Như linh kiện điện tử càng ngày càng nhỏ hơn nhưng lại tích hợp được nhiều công dụng hơn, tác phẩm dù ít chữ vẫn bao hàm được tầng tầng lớp lớp ý nghĩa. Có thể lấy bài thơ của tôi để giải thích cái ý này cho rõ ràng:
NHỮNG CÁI XÁC
Những cánh hoa sặc sỡ
Nằm sõng soài trên thảm cỏ biếc
Con ba tuổi ngây thơ
Say sưa cóp nhặt
Bài thơ chỉ có mấy câu như vậy. Nếu đọc lướt, nó gần như vô nghĩa. Nhưng nếu hiểu ngôn ngữ thơ hiện đại là ngôn ngữ ký hiệu, sẽ thấy nó nói về các giá trị đã chết trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống, từ khoa học, tôn giáo, chính trị xã hội cho đến văn chương nghệ thuật. Nhưng những xác chết đó lại lấp lánh, mà loài người phần đông vẫn ngây thơ như đứa trẻ lên ba nên vẫn nâng niu cóp nhặt chúng. Với Nguyên Ngọc cũng có thể là một ví dụ. Cái tên Nguyên Ngọc ngoài là tác giả những tác phẩm văn chương kháng chiến có giá trị, còn lại với tôi chỉ là một cái xác chết. Nhưng những “đứa trẻ” từ Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Xuân Nguyên, Từ Huy, v.v… vẫn coi Nguyên Ngọc hôm nay là đấng sư phụ anh minh! Còn ông thì vẫn ngây ngô tư duy theo lối già làng trưởng bản nên vẫn mạnh miệng phán bừa, tưởng mỗi phát ngôn của mình đều là vàng ngọc cả. Nhưng thực tế nó không phải vàng ròng mà lại là một thứ “vàng” khác!
16-8-2013
ĐÔNG LA

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2022

VÀI LỜI NHÂN DỊP NGUYÊN NGỌC “90 XUÂN”

 ĐÔNG LA

VÀI LỜI NHÂN DỊP NGUYÊN NGỌC “90 XUÂN”
Có chuyện hơi buồn cười, nhân dịp Nguyên Ngọc “90 xuân”, bên cạnh bọn trí thức ngu dốt và lưu manh tất ca ngợi ông ta “tận mây xanh” thì có chuyện cả người tốt, kẻ xấu đều khinh thường Nguyên Ngọc, đơn giản là vì ông ta từng đi cả hai bên. Nguyên Ngọc từng thành danh, nổi tiếng, được vinh danh, trọng dụng bởi những tác phẩm ca ngợi và tuyên truyền trong kháng chiến, từng là chiến sĩ xung kích chống những quan điểm sai trái. Nếu không có sự trở cờ, Nguyên Ngọc hoàn toàn có thể, như lời Nguyễn Khải, “vào Trung Ương”, được Giải Hồ Chí Minh, và kể cả chuyện có thể được đặt tên đường. Nhưng rồi khi được trọng dụng lãnh đạo Hội Nhà Văn VN, Nguyên Ngọc đã bị thất sủng do đã thể hiện những quan điểm sai trái. Từ đó, Nguyên Ngọc dần dần thể hiện rõ sự phản trắc, phản lại tất cả những gì tốt đẹp kể cả của chính mình một thời. Vì vậy, người tốt tất khinh Nguyên Ngọc phản lại những gì tốt đẹp, còn kẻ xấu thì hơi buồn cười là cũng khinh Nguyên Ngọc luôn vì ông ta không sám hối do từng làm những việc tốt. Thực tế quan điểm về tốt, xấu là ngược nhau, với tôi thì tốt hay xấu phải dựa trên cơ sở của đạo lý và lương tri.
Tôi mới đọc trên trang Trelang blog, đăng lại bài của Hoàng Hải Vân (Huỳnh Kim Sánh, chồng cũ Thu Uyên), bài: Nhà Văn Nguyên Ngọc vẫn không có ý định sám hối! Hoàng Hải Vân do không hiểu gì về văn chương đã ca ngợi Nguyên Ngọc có những quan điểm “đổi mới văn chương”, nhưng lại không sám hối do từng “một phát đánh chết tươi” Nhà văn Phùng Quán và tham gia “cuộc bêu đầu” những người Nhân văn Giai phẩm. Nhóm Nhân Văn Giai phẩm, với chính sách khoan hồng, vị tha của nhà nước ta, với tinh thần đãi cát tìm vàng, đã phục hồi danh dự và vinh danh những tác phẩm có mặt hay của họ, nhưng như vậy không có nghĩa là công nhận Nhân Văn Giai phẩm là đúng. Nếu vậy, phải bắt tù hết những người từng phê phán Nhân Văn Giai phẩm mới công bằng, pháp luật VN mới công minh.
***
Nhân dịp sinh nhật 90 của Nguyên Ngọc, tất bọn xấu phải ca ngợi hết lời, tiếc là có cả những nhân vật do thiếu hiểu biết cũng chúc mừng Nguyên Ngọc. Họ không hiểu họ làm như vậy là đã mâu thuẫn với chính những lời họ thường nói, với những việc họ thường làm, và kể cả với chức trách của họ được giao.
Tôi đã viết phê phán Nguyên Ngọc rất nhiều, có lẽ là nhiều nhất, tập trung có thể thành một cuốn sách. Nhân dịp Nguyên Ngọc “90 xuân”, xin nhắc lại một chút những sai trái của Nguyên Ngọc, mà theo tôi tất cả chỉ là do cái tôi của ông quá cao, và cái điều mà chỉ tôi mới đủ trình độ và bản lĩnh chỉ ra là, ông ta rất dốt!
***
Còn nhớ kỳ tôi lần đầu được mời tham dự Hội nghị Lý luận Phê bình của Hội Nhà Văn VN ở Tam Đảo, ngày 7 -7-2016, cuộc hội thảo nhóm các nhà lý luận phê bình kết thúc, chúng tôi được thông báo chiều tối Tỉnh ủy Vĩnh Phúc sẽ chiêu đãi bên Khách sạn Ngôi sao. Sắp đến giờ “đánh chén”, một anh quen quen thấy tôi cười rất thân thiện:
-Đông La phải không?
Tôi nhớ ra ngay:
-Trời ơi anh Nguyễn Bảo!
-Anh hay vào đọc blog của em đó. Em viết hay lắm, có chính kiến, có lý lẽ, thái độ dứt khoát.
Nguyễn Bảo là Nhà Văn Quân đội, Đại tá, nguyên là Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, thời tôi hai năm liền được tạp chí tặng thưởng phê bình và thơ. Anh nói tiếp:
- Anh Nguyễn Chí Trung mới mất, mình có viết một bài có nhắc đến ông Nguyên Ngọc. Có người hỏi mình viết vậy không sợ Nguyên Ngọc giận à? Mình trả lời chỉ viết sự thật thôi mà. Đông La tìm đọc nhé.
Nguyễn Chí Trung là nhà văn quân đội trong số rất ít người sớm lên tướng, từng làm trợ lý cho TBT Lê Khả Phiêu. Lạ là ông cũng có đọc và chú ý đến tôi, có lần còn hẹn gặp tôi ở Báo Văn nghệ TPHCM. Tôi tìm đọc bài anh Nguyễn Bảo, thì ra hồi chiến tranh Nguyễn Chí Trung và Nguyên Ngọc ở cùng Ban văn học Cục chính trị Quân khu V. Nguyễn Chí Trung làm bí thư còn Nguyên Ngọc làm trưởng ban. Hai người từng gắn bó với nhau như bóng với hình. Nhưng rồi sau giải phóng, một lần anh Nguyễn Bảo và Nguyên Ngọc vào viện 108 thăm Nguyễn Chí Trung nằm viện, lúc chia tay, Nguyên Ngọc nói: “Này những điều bọn mình nói với các cậu trước đây hãy quên đi nhé!”. Anh Nguyễn Bảo ngạc nhiên vì những điều đó chính là Chủ nghĩa Mác Lê Nin. Nguyễn Chí Trung nghe vậy mặt lầm lầm, giật áo anh Nguyễn Bảo: “Dừng lại anh dặn: Những điều bọn anh nói trước đây cơ bản đúng cả đấy”. Hai người khác nhau từ đấy. Nguyên Ngọc ca ngợi những sáng tác "Đổi mới quá khích", bất hợp tác với Hội Nhà văn Việt Nam, vận động thành lập Văn đoàn độc lập, muốn đất nước đi theo con đường khác. Nguyễn Chí Trung phản đối kịch liệt những ai viết sai về chiến tranh. Với cuốn sách Nguyên Ngọc khen hết lời, Nguyễn Chí Trung bảo: “Cán bộ chiến sĩ như trong cuốn sách ấy thì làm sao ta thắng được Mỹ chớ. Bịa đặt bậy bạ!” Nguyễn Chí Trung nói: “Có người bảo chậm nhất là 10 năm nữa, Chủ nghĩa xã hội sẽ không còn ở Việt Nam. Sợ tôi không sống được đến 10 năm nữa, nhưng nếu tôi chết mà lời nói kia là sự thật, xin các người cứ đái vào mộ tôi”. Anh Nguyễn Bảo viết Nguyễn Chí Trung là một người mà cho đến lúc bị bệnh trọng, vẫn không nguôi đấu tranh cho lý tưởng mà mình theo đuổi. Ông ghét và tởm lợm vô cùng những kẻ phản bội.
***
Nguyên Ngọc khi được giao trọng trách lãnh đạo Hội Nhà Văn từng tuyên ngôn “Cái cốt lõi của văn nghệ là tính nhân đạo”. Nhưng ông ta lại ca ngợi văn chương của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều chi tiết, ý tứ ngược với ý trên. Như việc cho nấu xác thai nhi cho chó ăn là “chả quan trọng gì”, chuyện bố chồng bắc ghế nhìn trộm con dâu tắm là “đàn ông chẳng có gì phải xấu hổ vì có con b.”, việc mô tả anh hùng dân tộc, Vua Quang Trung, như một lẻ lục lâm thảo khấu, v.v… Nguyên Ngọc cũng từng đấu tranh quyết liệt để cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được giải thưởng; một cuốn sách nhìn cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta bằng cái nhìn tâm thần nên đã coi niềm vui chiến thắng là nỗi buồn. Nguyên Ngọc cũng ca ngợi Dương Thu Hương, người đã kể trong ngày giải phóng ngồi trên vỉa hè Sài Gòn khóc như cha chết vì thấy phe chiến thắng của mình là đội quân man rợ (thực tế bà này không có mặt nên đó chỉ là lời bịa đặt với tư duy của một con điếm chính trị). Với cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, nhân chứng sống của cả hai phía “bên thắng” và “bên thua” đều phản ứng chuyện Huy Đức xuyên tạc sự thật thì Nguyên Ngọc lại cho là: “rất trung thực”.
Về cái luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên ca ngợi thơ của nhóm “Mở miệng” chuyên làm thơ mất dạy, bố láo; xúc phạm, bôi bác từ Chúa, Phật đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và kích động lật đổ thể chế. Nhã Thuyên cũng ca ngợi Dương Thu Hương và những nhà văn chống đối khác: “Nhưng giai đoạn khủng hoảng, phẩm tính phản kháng vốn tiềm tàng trong lòng các xã hội chuyên chế sẽ trỗi dậy. Đây là giai đoạn thích hợp cho nổi loạn, cho phá phách, cho thái độ vô trật tự, vô chính phủ…Hiếm có bài thơ nào sử dụng những chữ vốn bị cho là cấm kỵ tài tình và hấp dẫn đến thế, thẳng băng ngang hàng, không kêu gọi lật đổ, mà bản thân nó đầy sức mạnh lật đổ”.
Với những sự phê phán luận văn của Nhã Thuyên rất đúng, đầy tinh thần trách nhiệm, có chứng cớ cụ thể của nhiều người, Nguyên Ngọc lại cho rằng “vụ đả kích luận văn Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) đã đưa chúng ta «về thời kỳ đồ đá, nhất là trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa»? Việc phản đối bất chấp như vậy, phải chăng Nguyên Ngọc sống ngoài vòng pháp luật, theo luật rừng? Phải chăng do tuổi cao mờ mắt không còn đọc được chữ hay do cay cú thất bại trong tham vọng chính trị đã khiến ông mù văn hóa?
Phạm Xuân Nguyên trên VietNam.net từng cho Nguyên Ngọc đã “từ văn hóa nghệ thuật đến văn hóa tư tưởng”, và đã trở thành “nhà tư tưởng”! Nếu có trình độ một chút để hiểu sẽ thấy những lời tâng bốc của Nguyên thật dốt và buồn cười, vì Nguyên Ngọc không chỉ không có tư tưởng gì mà còn không đủ trí để hiểu những vấn đề mang tính tư tưởng. Vì thế Nguyên Ngọc mới kỳ công dịch tác phẩm của Barthes, rồi cũng lại kỳ công dịch tác phẩm của Kundera, một người có tư tưởng ngược với Barthes.
Nhà phê bình Pháp Barthes viết cuốn Le Degré zéro de l'écriture suivi de Nouveaux essais critiques. Barthes dùng l'écriture để thể hiện sự dấn thân của nhà văn, ông cho sự không tỏ thái độ là “độ không” (Le Degré zero). Nên “độ không” ở đây là thái độ trung tính, là sự vô cảm chứ không phải “độ không của lối viết” do Nguyên Ngọc dịch vì dốt. Nguyên Ngọc cũng ca ngợi và truyền bá khi dịch tác phẩm của Kundera mà triết lý sáng tác là Hiện tượng học ngược với Duy vật biện chứng. Đó là một triết thuyết không duy vật, duy tâm mà đề cao nhận thức chủ quan cá nhân, mảnh đất gieo mầm Chủ nghĩa Hiện sinh từng gây ra cái lối sống bầy đàn, tự nhiên, hoang dã như thời tiền sử, rồi Chủ nghĩa Thực dụng.
Vì vậy nói tư tưởng Kundera ngược với Barthes là vì thế, và tôi viết Nguyên Ngọc dốt chính là vì thích cả hai cái ngược nhau như thế!
***
Đặc biệt về quan điểm lịch sử, Nguyên Ngọc có rất nhiều sai trái. Dưới đây tôi xin nhắc lại đôi nét “hệ thống” sai trái cụ thể về lịch sử của Nguyên Ngọc mà tôi đã viết.
Trên TuanVietNam, 25/11/2013, Nguyên Ngọc viết: “Ở Pháp, một số các nhà sử học nổi tiếng đã lập ra một tổ chức gọi tắt là CVUH (Comité de vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy ban cảnh giác đối với việc đưa lịch sử ra sử dụng trong công chúng. Các nhà sử học uyên thâm ấy cảnh giác với việc chính quyền đương thời nhào nặn lịch sử để làm công cụ tuyên truyền cho những lợi ích chính trị…Tôi nghĩ một sự cảnh giác thật hiền minh như vậy cũng rất cần ở ta”.
Tôi đã viết việc bên ngoài người ta nhả ra chữ nào Nguyên Ngọc vồ ngay lấy chỉ chứng tỏ cái dốt của ông ta. Với các nước thực dân, đế quốc đi xâm lược phi nghĩa, bọn bán nước phi nghĩa thì mới cần “nhào nặn lịch sử”, còn với VN ta chỉ có một lịch sử oai hùng chống ngoại xâm, giành lại nền độc lập, thì cần gì phải “nhào nặn lịch sử” mà cần đến cái “cảnh giác hiền minh”?
Trên VietNam.net, trong bài Vì sao Phạm Xuân Ẩn không bị lộ? Nguyên Ngọc lại cho chúng ta trong chiến tranh đã nhìn sai về sự xâm lược, cho sự căm thù giặc là “không bình thường”; rồi cho dạy lịch sử không nên “bồi đắp chủ nghĩa yêu nước” nữa vì bị chính trị hóa, và ông ta còn cho đừng tôn vinh các bà mẹ Việt Nam anh hùng quá vì các bà mẹ lính VNCH tử trận sẽ “tủi thân”!
Viết như trên Nguyên Ngọc đã ngang nhiên phản bội những đồng chí, đồng bào của mình; lấy lòng những người từng bên kia chiến tuyến còn chưa nguôi thù hận. Nghĩa là đến tận hôm nay, Nguyên Ngọc còn chiêu hồi “Bên thua cuộc”, giống như một công dân mạng viết về Bùi Tín, Nguyên Ngọc cũng chính là “miếng giẻ chùi máu giày quân xâm lược”!Xin nhắc lại bạn Thiên Lý chủ trang Lốc liếc đã viết về chuyện này:
“Vậy là khi viết Trường hợp Bob Kerrey, ông Nguyên Ngọc đã cố công dùng miệng lưỡi xảo quyệt của mình để liếm sạch những vết máu trên mũi giày Bob và cả những kẻ đã gây ra hàng chục vụ thảm sát dân thường trên đất nước Việt Nam.Thật tởm lợm khi một kẻ mang danh nhà văn hóa, nhà nghiên cứu, nhà văn, dịch giả, Chủ tịch Văn đoàn độc lập, Chủ tịch HĐKH quỹ giải thưởng văn hóa Phan Chu Trinh, như Nguyên Ngọc, lại có thể phun ra một “nguyên lý” sặc tanh mùi máu những người dân vô tội: “Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con!”
***
Trong cuộc trò chuyện với Thomas Vallely, một cựu chiến binh Mỹ có thiện tâm và đóng góp cho nền giáo dục VN, Nguyên Ngọc đồng tình với một ý cho rằng chiến tranh đã đắp lên khuôn mặt của người ở bên kia chiến tuyến một chiếc mặt nạ để người ta căm thù và tiêu diệt lẫn nhau. Ông ta cho rằng nhiệm vụ của văn học hôm nay là gỡ chiếc mặt nạ ấy ra để người ta nhận ra khuôn mặt người của nhau.
Tôi đã viết rằng, mặt nạ là cái không thật nhưng nước ta bị xâm lược là sự thật, dân ta thịt xương tan nát, nhà cửa ruộng vườn tan hoang là sự thật, những người gây ra những điều đau khổ đó cho chúng ta là người thật chứ không phải là những người đeo mặt nạ trong các trò chơi. Vì thế dân ta coi họ là kẻ thù cần phải tiêu diệt để bảo vệ người và nhà của mình là lẽ tự nhiên.
Còn phía Mỹ, chính Thomas Vallely tâm sự ông là một thanh niên bước vào cuộc chiến với dư âm Thế chiến II mà người Mỹ luôn xem là “Cuộc chiến chính nghĩa”. Nhưng khi đặt chân tới Quảng Nam, ông thấy ngay vai trò của Mỹ ở Việt Nam khác hoàn toàn. Ông thấy hỏa lực Mỹ giết hại quá nhiều dân thường vô tội.
Như vậy chính nền văn học Mỹ mới cần lột mặt lạ cho những người lính Mỹ chưa giác ngộ được như Thomas Vallely hồi đó. Còn dân Việt Nam chiến đấu giành lại nền độc lập là chính nghĩa, đâu cần đeo mặt nạ mà phải lột! Riêng Nguyên Ngọc thì rất cần phải lột ngay cái mặt nạ cơ hội và tráo trở của ông ta ra mà thôi.
Khi chính Thomas Vallely chân thành thấy cuộc chiến của Mỹ ở VN là một cuộc chiến phi nghĩa, nhưng Nguyên Ngọc lại cố biện hộ, cho rằng người Mỹ tham chiến chỉ đơn giản là vì “nghĩa vụ công dân” còn chính về phía VN ta mới cần phải ăn năn: “Nếu vì một hậu chiến như thế này hôm nay, thì có đáng cho những hy sinh khủng khiếp như đã qua?”. Câu này ông ta nói chung về đất nước thì quá sai nhưng với riêng về chính Nguyên Ngọc thì quá đúng. Nếu biết trước ngày nay ông bị thất sủng, thành kẻ quấy rối, đầu đường xó chợ lêu bêu thì ngày xưa ông bám trụ làm gì? Có điều nếu ông chiêu hồi ngay từ ngày ấy, sau chiến tranh ông chuồn được sang Mỹ, nhưng giờ nước Mỹ cũng đã lại làm bạn với nước ta rồi, Nguyên Ngọc cũng sẽ lại lêu bêu bên Mỹ! Nguyên Ngọc, người từng “đứng lên” trong chiến tranh, nay đúng là tụt hố thực sự trong cái mớ bòng bong lý sự quẩn quanh bởi cái đầu quẫn trí của mình. Đúng là tự thân làm tội đời.
***
Nguyên Ngọc còn từng cùng nhóm Nguyễn Quang A, Nguyễn Duy… diễn trò bôi bẩn hình tượng Võ Thị Sáu, một nữ anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Nhân vật Võ Thị Sáu là người thật. Sau khi chị bị quân Pháp tử hình mới 19 tuổi, đã xuất hiện nhiều hiện tượng tâm linh liên quan đến linh hồn chị Sáu với những nhân chứng sống. Do cảm phục người con gái anh hùng, người ta cứ đắp mộ, đúc bia cho chị dù những tên chúa đảo nhiều lần lệnh cho lính đập nát bia và san bằng ngôi mộ chị. Chính từ đó đã xuất hiện những câu chuyện huyền bí về những kẻ phá mộ chị đã, hoặc bị chết “bất đắt kỳ tử” hoặc bị khùng điên! Cũng vì thế mới có một tấm bia độc đáo của đôi vợ chồng, khi người chồng là Tỉnh trưởng Côn Đảo, ông Tăng Tư, vì lòng cảm phục chị, họ đã bất chấp hậu họa, đã làm một tấm bia với hàng chữ “Liệt nữ Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại Bà Rịa, mất ngày 23/1/1952” từ Sài Gòn mang ra Côn Đảo, nửa đêm bí mật dựng tại mộ chị, và còn cho đến ngày nay.
Vậy mà những ngày hôm nay đám Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A, Nguyễn Duy, … kẻ thành danh, kẻ giầu có, được hưởng cuộc sống thanh bình, lại bầy trò bôi bẩn bình tượng Võ Thị Sáu, cho chỉ là việc tuyên truyền của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chỉ là trò ba xạo.
Tuyên truyền là một công cụ tạo sức mạnh mà dù ta hay địch cũng đều phải chú trọng. Ở ta, nhà văn, trong đó có Nguyên Ngọc và Nguyễn Duy, từng được khuyến khích, ưu ái, tôn vinh viết những tác phẩm đáp ứng được công tác tuyên truyền. Vậy giờ bôi bẩn hình tượng Anh hùng Võ Thị Sáu như vậy, Nguyễn Duy, Nguyên Ngọc đã tự vả vào mồm mình?
13-9-2022
ĐÔNG LA

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2022

NHỚ NỮ HOÀNG ANH

 ĐÔNG LA

NHỚ NỮ HOÀNG ANH
Có nhiều chuyện đang hot, mà chuyện nào tôi cũng có thể viết, nhưng thời gian chỉ cho phép viết hai chuyện ngược nhau: Chuyện buồn Nữ hoàng Anh chết, chuyện vui mừng sinh nhật Nhà văn Nguyên Ngọc 90 xuân!
Chuyện Nữ hoàng Anh chết, theo chính sách ngoại giao của VN khép lại quá khứ, hướng đến tương lai, theo thông lệ ngoại giao, nước ta phải chia buồn và có đôi lời xã giao. Còn là công dân Việt mà rên rỉ tiếc thương bà ta như một vị cứu tinh nhân loại thì quá dốt về lịch sử. Hai nước, Anh, Pháp từng xâm lược khắp thế giới, mà xâm lược đồng nghĩa với cướp bóc, chiếm đoạt và tàn sát dân bản xứ. Đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết châu Á và châu Phi đã bị Anh, Pháp chiếm làm thuộc địa. Chính điều này là nguyên nhân chính gây ra Chiến tranh Thế giới 1 để phân chia lại thuộc địa.
Năm 1913, khi nước Anh có tới 34 triệu km², Pháp có gần 13 triệu km², nhưng thuộc địa của Đức chỉ là 2,9 triệu km². Lúc này, sự lớn mạnh của Đức đã vượt qua Anh, Pháp để trở thành cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu, đã đẩy mạnh những tham vọng của Đức về thuộc địa và thị trường thế giới. Đức đã cùng Áo - Hung, Italia thành lập "phe Liên Minh" vào năm 1882 để chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Để đối phó, Anh đã ký với Nga và Pháp những Hiệp ước hình thành phe Hiệp ước để đối đầu với phe của Đức. Và khi Thế chiến 1 nổ ra, lúc Anh, Pháp gặp nguy nan do bị quân Đức tấn công ở Mặt trận phía Tây thì chính quân Nga đã “chia lửa”, tấn công Đức ở phía Đông, cứu nguy cho Anh, Pháp.
Còn Thế chiến 2 nổ ra nguyên do chính là Đức muốn phục thù. Giai đoạn đầu, Đức đã nhanh chóng chiếm trọn Pháp và tấn công Anh. Nhưng Anh đã được cứu khi Đức coi Liên Xô (Nga chiếm phần lớn) là đối thủ chính, cần tập trung quân để tiêu diệt. Và rồi tại mặt trận chính, từ bước đầu thất bại, LX đã chấn chỉnh, phản công, đánh thắng những trận quyết định, cuối cùng đánh tận sào huyệt buộc Hít-le phải tự sát, buộc nước Đức phải đầu hàng. Như vậy, sự thật LX đã cứu cả nhân loại, trong đó có Pháp và Anh. Nếu không phải đối đầu LX, Đức dồn toàn lực tấn công Anh thì chắc chắn Anh đã bị “làm gỏi” rồi.
Vừa rồi bà Thủ tướng Anh mới nhận chức, một trong những tuyên bố của bà là tiếp tục tích cực chống Nga. Xem chừng bà ta và cả nước Anh đã sớm quên lịch sử và là kẻ vô ơn với người Nga.
Hẹn bạn đọc số sau viết chuyện Mừng sinh nhật Nguyên Ngọc 90 xuân.
10-9-2022
ĐÔNG LA

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

NHỮNG SAI TRÁI VÀ XUYÊN TẠC CỰC NGUY HIỂM CỦA MINH ĐƯỜNG

 ĐÔNG LA

NHỮNG SAI TRÁI VÀ XUYÊN TẠC CỰC NGUY HIỂM CỦA MINH ĐƯỜNG
Tất cả những bài chính luận tôi viết đều liên quan đến tri thức, tâm thức, nên để đồng cảm, để “like”, độc giả cũng cần phải có tâm và có tầm. Dinhchien Do là một độc giả như thế. Tôi luôn viết với mục đích góp ý cho những cá nhân và cơ quan có chức trách, không câu “like”, nhưng có những độc giả như Dinhchien Do luôn quý mến, trân trọng mình qua comment facebook như thế này thì cũng rất thú vị và là nguồn động viên lớn: “Một bài viết đã qua chín năm mà vẫn mang đầy tính thời sự. Trong thời gian qua, và những ngày này khi mà Ukraine đang phải trả giá cho những sai lầm của mình, và Việt nam đang chứng kiến sự chống phá và lật sử một cách trắng trợn của bọn dân chủ cuội cùng lũ ba que, mới thấy tầm nhìn của tác giả thật đáng kính nể và trân trọng đến nhường nào” (7-9-2022). Có điều giờ coi lại tất cả những con chữ tôi viết ra, cả sáng tác lẫn chính luận, ngay từ những ngày đầu tiên (tức đã 40 năm) chúng đều như những sự tiên tri, vẫn mang tính thời sự nóng hổi, như những hồi chuông cảnh tỉnh xã hội. Như công tác cán bộ ở ta, sự yếu kém đến nay đã mang tính hệ thống, chính nó đã từng làm tan vỡ Liên Xô, và cũng chính nó đã khiến TBT Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nói đến nguy cơ tồn vong của thế chế, ngay trong truyện ngắn đầu tay “Chuyện về hai người” mà tôi viết tận từ năm 1983, tôi đã viết rõ: “Ông giám đốc chọn một biệt thự sang trọng 2 tầng lầu, nhà của ông chủ cũ, khuôn viên có hòn non bộ, có bể bơi, và trồng một loại cỏ không biết cỏ gì mà cứ mịn như nhung. Rồi ông phân phát bổng lộc cho thần dân: Nhà cửa, chức vụ, lương bổng… Đã có một triều đình nhỏ được thiết lập ở nơi đây. Tôi từng tưởng chỉ có nơi này mới như thế. Nhưng đến một vài cơ quan khác, tôi cũng thấy như vậy. Ở đó, cũng có những ông vua con, có quyền ban phát và sinh sát. Khi có quyền, họ đã coi cơ quan nhà nước là của nhà mình. Liệu có phải, còn có một điều gì đó chưa hoàn thiện đã tạo đất sống cho những con người này, những người đã chung sức làm cản bước tiến của xã hội, gieo tai ương cho những lương dân”; “Có hai loại người, một loại sống vì công việc, bị công việc nó cuốn vào. Cậu thấy đấy, làm được việc gì đó cho tử tế có phải dễ dàng đâu. Còn một loại thì không có chuyên môn gì, sống không vì công việc gì. Vì thế, họ không có một niềm say mê nào cả, nhưng lại lắm tham vọng. Không có khả năng mà lại tham vọng, tất sẽ sinh thủ đoạn, sẽ hại người thôi. Tiếc là bọn này lại thành đạt khá nhiều trong cuộc đời. Đó chính là những người có quyền có chức nhưng lại làm việc bằng đầu óc người khác. Vì lợi ích cá nhân, họ sẵn sàng làm mọi chuyện…”.
Những ngày hôm nay, không hiểu sao cái bài được đọc nhiều nhất trên trang blog của tôi lại là “NHỮNG SAI TRÁI VÀ XUYÊN TẠC CỰC NGUY HIỂM CỦA MINH ĐƯỜNG”. Tìm hiểu chút thì không ngờ Minh Đường lại chính là bút danh của Nguyễn Sơn Lộ, giám đốc của viện SENA, mới bị khởi tố về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Cách nay chẵn 10 năm, liên quan đến cái Viện SENA, tôi cũng không ngờ mình là “dân đen” lại được lãnh đạo một cơ quan Trung Ương gởi cho một cuốn sách và muốn tôi cho ý kiến. Đó chính là cuốn: “Tôi chỉ có một Đảng, ĐẢNG CỦA BÁC HỒ” của Viện Nghiên cứu Công nghệ và Phát triển SENA, mà viện trưởng là ông TS Minh Đường, người mà hôm nay tôi mới biết chính là ông Nguyễn Sơn Lộ mới bị khởi tố. Ngày 16-6-2012, tôi đã viết một bài MỘT TOATHUỐC CHO CHẾ ĐỘ CẦN MANG ĐI XÉT NGHIỆM nhưng phê phán quan điểm của ông Tương Lai, một trong những tác giả, là chính, phải hai năm sau, 3-6-2014, tôi mới viết bài phê phán đích danh ông Minh Đường. Như vậy, tôi đã “tiên tri” chuyện ông Minh Đường hôm nay từ 8 năm về trước, cũng như Nguyên Ngọc, Chu Hảo, Tương Lai, Nguyễn Huệ Chi, Quang A, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều, Phạm Viết Đào, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên, Phạm Chí Dũng, Lê Công Định, Trương Duy Nhất, v.v… tôi cũng đều viết trước, nếu họ có chút thông minh và lương tri nghe lời tôi mà sửa lỗi thì không đến nỗi, người thì bị dư luận phê phán, công kích, người thì bị kỷ luật, người thì bị đuổi chức, và kể cả người thì bị đi tù! Tôi đã viết rồi, muốn ta đây, kể cả muốn chửi thế nào cũng được, nhưng đừng ngu mà phạm pháp. Tiếc rằng trong thực tế, vì cái tôi, những người tôi phê phán đều 100% là ngu!
Hôm nay, tôi sẽ đăng lại bài viết về Minh Đường (Nguyễn Sơn Lộ) 8 năm về trước, cái bài dang được đọc nhiều nhất trên blog của tôi: “NHỮNG SAI TRÁI VÀ XUYÊN TẠC CỰC NGUY HIỂM CỦA MINH ĐƯỜNG”, trong đó có ý Minh Đường kêu gọi chống Lịch sử, chống ý thức hệ, chống Trung Quốc y như khuynh hướng bên Ukraina từng dẫn đến đảo chính, chống Nga, để rồi hôm nay bị Nga “nó” đánh cho!
8-9-2022
ĐÔNG LA
NHỮNG SAI TRÁI VÀ XUYÊN TẠC CỰC NGUY HIỂM CỦA MINH ĐƯỜNG
Vừa qua, ngày 16 tháng 5 năm 2014, ông TS. Nguyễn Minh Đường, Viện trưởng Viện nghiên cứu công nghệ và phát triển (Viện SENA) thuộc Liên hiệp các Hội KH và KT Việt Nam), đã viết “Bức thư đầy nhiệt huyết và trí tuệ”, “Kính gửi Các vị Ủy viên Bộ Chính trị và Ủy viên TW Đảng và Các vị Đại biểu Quốc hội”. Có điều lạ lùng là một ông viện trưởng một viện thuộc thể chế này lại có tư tưởng chống đối quyết liệt nền tảng tư tưởng của thế chế khi ông ta viết:
“Thực tiễn từ 1991 đến 2013 cho thấy công tác Tuyên giáo ngày một lệ thuộc hệ tư tưởng Phân biệt, Áp đặt, Bạo lực đã lỗi thời của Chủ nghĩa Mác – Lênin và ngày càng xa rời hệ tư tưởng Đoàn kết Dân tộc, Đoàn kết Quốc tế luôn mang tính thời đại của Chủ thuyết Hồ Chí Minh. Do sai lầm về lý luận và đường lối coi “Bản chất thời đại không thay đổi” nên Việt Nam chưa có chiến lược đúng đắn, vì thế luôn bỏ lỡ cơ hội, tự làm yếu, tự đặt mình vào tình thế khó khăn ở trong, ngoài nước”.
Có điều ông ta viết như trên là hoàn toàn mù tịt và xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, xuyên tạc thực tiễn Việt Nam. Ngày nay với thời đại thông tin mở trên mạng có thể tra cứu dễ dàng tài liệu, chúng ta có đầy đủ cơ sở để đánh giá khách quan về Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trước hết, chúng ta cần phải hiểu Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết. Cũng như mọi lý thuyết, chỉ khi nào vận dụng đúng người ta mới nhận được kết quả tốt, trái lại sẽ là hậu họa. Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là phép tiên, người ta cứ tuyên bố theo là xã hội thành thiên đường. Ngược lại, Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng không phải là sai trái, lạc hậu và phản động như nhiều kẻ phản bội Chủ nghĩa Mác nghĩ. Như hôm nay ông Viện trưởng Minh Đường hoàn toàn sai trái và thiển cận khi viết Chủ nghĩa Mác-Lênin là “Phân biệt, Áp đặt, Bạo lực”.
***
Viết như trên Minh Đường hoàn toàn lờ đi thực tế, thế giới hiện đại vẫn đánh giá Mác rất cao. Theo Wikipedia:“Năm 1999, Đại học Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ, kết quả là Marx đứng đầu, còn Einstein, nhà khoa học lớn đứng thứ hai”
Theo Barbara Supp, Marian Blasberg và Klaus Brinkbäumer, trong bài Con lật đật:“Theo thăm dò dư luận mới đây của tạp chí Đức Der Spiegel, cụ được dân chuộng một cách đáng ngạc nhiên, mà không phải chỉ ở Đông Đức: 50 phần trăm dân Tây Đức nói rằng sự phê phán chủ nghĩa tư bản của Karl Marx “ngày nay vẫn mang ý nghĩa của nó”.
Có kết quả như vậy bởi những ngày hôm nay có các nhà tư bản sống sau Mác hơn cả thế kỷ vẫn thừa nhận Mác đúng. Nhà tỷ phú đầu cơ chứng khoán George Soros viết: “Marx và Engels đã cho một phân tích rất tốt về hệ thống tư bản cách đây 150 năm” (Marx and Engels gave a very good analysis of the capitalist system 150 years ago); John Cassidy, phóng viên của The New Yorker, cho rằng các vấn đề mà các nhà kinh tế học hiện đang đối mặt, đang “bước theo dấu chân của Marx mà họ không biết” (without realising that they are walking in Marx's footsteps), v.v…
Ngày nay, dù hệ thống chính các nước XHCN đã sụp đổ, nhưng ta phải khách quan đánh giá hiện tượng này.
Đất nước Liên Xô cồng kềnh, vốn lạc hậu hơn nhiều so với phương Tây, vậy cái gì đã biến nó thành một cường quốc? Stalin từng nói: “Chúng ta lạc hậu hơn các nước tiên tiến 50 năm đến 100 năm, chúng ta phải chạy hết khoảng cách này trong 10 năm, hoặc chúng ta làm được điều này, hoặc chúng ta bị người ta đánh ngã”. Liên Xô không bị ngã quỵ mà chế độ XHCN cơ bản đã được xác lập, và còn hơn thế, đã có sức mạnh chiến thắng bọn phát-xít. Sau đó đã phát triển mạnh, chế tạo được cả bom nguyên tử, bom hạt nhân, có lúc đã vượt Mỹ về công nghệ vũ trụ, trở thành siêu cường, đối trọng được với Mỹ!
Như vậy, ta thấy nếu chủ nghĩa Mác – Lê-nin được áp dụng đúng sẽ đạt được kết quả kỳ diệu đến thế nào. Tiếc là LX đã sai lầm. Chủ yếu là do công tác tổ chức, cán bộ, đã biến nhà nước Xô-viết thành nhà nước phong kiến trá hình làm tan rã Liên Xô. Nhưng sự tan rã không phải như ý ông Nguyễn Trung “đã bị phong trào dân chủ của nhân dân nước họ thay thế”. Mà ngược lại chính là sự thất bại của nền dân chủ. Bởi từ sự phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin của Goocbachov, rồi sự phản bội Goocbachov của Enxin và cuối cùng là Enxin đã giành thắng lợi trước Gooc-ba-chov. Chính quần chúng đã giúp Enxin giành thắng lợi, nhưng thành quả của chiến thắng lại không thuộc về họ mà thuộc về sự liên minh giữa quyền lực và Maphia. Theo TT Nga Pu-tin, sự tan vỡ LX đã gây ra một “đại thảm họa địa chính trị”! Xã hội Nga sau đó đã rơi vào hỗn loạn mà chính Yeltsin từng thừa nhận: “Nước Nga hiện nay đã vượt Italia, trở thành vương quốc băng đảng mafia lớn nhất thế giới”! Còn cựu Tổng thống Ukraine Kravchuk, một trong ba nhân vật tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này cũng nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được cục diện đất nước sẽ phát triển đến như cục diện như hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định”!
Còn Chủ nghĩa Tư bản? So với thời hoang dã mà Mác chứng kiến, mức sống của người dân ở các nước tư bản hàng đầu ngày nay đã tăng lên rất nhiều. Thế nhưng vẫn còn nguyên đó sự bất công trong hưởng thụ thành quả lao động. GS. Phil Gasper (Đại học Notre Dame de Namur của California) đã viết: “Năm 1998, 10% dân số giàu nhất Mỹ chiếm hữu hơn 85% của cải bằng cổ phiếu và quỹ chung, 84% chứng khoán tài chính, 91% trái phiếu và 92% vốn trong các doanh nghiệp tư nhân. Trên toàn cầu con số này còn kinh khủng hơn. Chưa đến 500 người trên thế giới đang sở hữu tài sản nhiều hơn toàn bộ thu nhập của hơn một nửa dân số thế giới cộng lại” (Báo Tuổi trẻ, 28/11/2005). M. Yunus, Nobel Hòa bình cũng viết: “Chủ nghĩa tư bản hiện nay đã xuống cấp thành một sòng bạc” (Báo Tuổi trẻ, 13/10/2008)… Theo VN.net: “Cục điều tra dân số Mỹ hôm 20/10 cho biết, họ ước tính có 47,4 triệu người Mỹ hiện sống trong bần cùng”. Bản thân Bill Gate, một trong vài người giàu nhất thế giới cũng thấy tính bất hợp lý của CNTB, đã viết: “Phúc lợi không giành cho tất cả mọi người. Có 1 tỉ người trên hành tinh của chúng ta sống ở mức dưới 1 đô la mỗi ngày”. Và ông đưa ra một hình mẫu mới mà ông gọi là “CNTB sáng tạo” có những mục tiêu giống với CNXH. Và ngày nào với phong trào biểu tình “Chiếm Phố Wall” của những người “đại diện cho 99%” dân lao động chống lại 1% giới tư bản tài chính và các chính trị gia, chống lại cái cơ chế xã hội “của 1%, do 1% và vì 1%” của Mỹ và thế giới tư bản nói chung. Nhà làm phim Michael Moore, một người biểu tình, đã nói về cơ chế đó: “Đó là hệ thống tàn ác... hệ thống được dựng lên để 1% những người giàu nhất nhận 40% chiếc bánh... tư bản chủ nghĩa cần được thay bởi một hệ thống trong đó người dân có quyền tham gia vào việc sắp đặt, điều hành hệ thống và 'chiếc bánh' phải được chia đều hơn”.
Như vậy, ngày nay khi không còn chiến tranh ý thức hệ, Chủ nghĩa Mác-Lênin cần phải được khảo sát như một Học thuyết khoa học khách quan về tư tưởng và phát triển như bất cứ một học thuyết khoa học nào khác. Nó thể hiện ở tất cả các nước dù được áp dụng một cách có chủ ý hay tự nhiên, chứ không bị chính trị hóa theo sự phân chia chủ quan mang tính phe phái thù địch ngày nào. Như Thuyết Tương đối của Einstein là tri thức của nhân loại chứ nó không thuộc phe “Tư bản” hay “XHCN”. Người ta có thể vận dụng công thức E=mc2 làm ra năng lượng nguyên tử tùy theo trình độ khoa học công nghệ của mỗi nước chứ không phải là “Tư Bản” hay “XHCN”. Lúc này trước sự xâm lấn và khiêu khích của Trung Quốc, ước gì nước ta cũng có quyền và có khả năng sản xuất vũ khí nguyên tử và hạt nhân. Được thế thì dù là anh hùng rơm cũng có thể tha hồ mà chém gió, còn bây giờ ta yếu lắm, phải tính toán khôn khéo, chứ thùng rỗng kêu to, anh hùng rơm, sĩ diện hão là thậm nguy!
***
Trong các bài viết của ông Minh Đường gần đây còn có một vấn đề đặc biệt nguy hiểm và độc hại. Đó chính là sự xuyên tạc thực tế để kích động, chia rẽ, gây mất đoàn kết trong tổng hành dinh lãnh đạo tối cao của đất nước. Đó là sự chia rẽ giữa “Thủ tướng” và “Lãnh đạo Đảng” y như cách nhìn của BBC tiếng Việt và RFA vậy, dù thực tế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng là một Ủy viên Bộ Chính trị.
Trong “Bức thư đầy nhiệt huyết và trí tuệ” ngược lại sự công kích: “công tác Tuyên giáo ngày một lệ thuộc hệ tư tưởng Phân biệt, Áp đặt, Bạo lực đã lỗi thời của Chủ nghĩa Mác – Lênin”, Minh Đường “lăng-xê” TT Nguyễn Tấn Dũng: “Rất mừng trong 2 năm 2013 - 2014, hai vấn đề này đã có giải đáp khi Thủ tướng Chính phủ thay mặt Đảng, Nhà nước tuyên bố với thế giới về Niềm tin chiến lược của Việt Nam giờ đây là Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp và chuẩn mực quốc tế, tức không lệ thuộc “Ý thức hệ” nữa, cũng như khẳng định với dân tộc sẽ kiên quyết “Đổi mới Thể chế” để “Kiến tạo Phát triển”.
Trong bài "Mong như Thủ tướng nói: Từ nay hết Viễn vông, hết Lệ thuộc" trên trang cá nhân của Bùi Văn Bồng, Minh Đường cũng viết: “Ngày 21/5/2014 Thủ tướng Chính phủ đã làm cho mỗi người dân Việt Nam trong nước, ngoài nước ấm lòng và tự hào khi tuyên bố "Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó".Phải chăng “lửa thử vàng” và thực tiễn đã chứng tỏ Thủ tướng chính là người lãnh đạo mà dân tộc Việt Nam đang cần lúc này, bởi trước hết với đầy đủ chí khí và trí tuệ, Thủ tướng Chính phủ là người lãnh đạo cao nhất trong những người lãnh đạo đã đàng hoàng, minh bạch, công khai chỉ rõ, kẻ thù bên ngoài nguy hiểm nhất với dân tộc Việt Nam và hòa bình thế giới là “chủ nghĩa bành trướng, bá quyền” của nhà cầm quyền Trung Quốc, kẻ thù bên trong nguy hiểm nhất với tiến bộ xã hội là tư tưởng “Viển vông, Lệ thuộc”?”
Rồi Minh Đường thật liều lĩnh khi xuyên tạc như thế này: “Viển vông nhất phải kể đến là việc bắt toàn Dân, toàn Đảng thực thi giấc mơ chủ nghĩa cộng sản “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” bởi các biện pháp Chia rẽ, Áp đặt, Bạo lực của chủ nghĩa Mác – Lênin như đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, kinh tế Nhà nước là chủ đạo, Cương lĩnh trên Hiến pháp, chống tam quyền phân lập, … Lệ thuộc nhất là nhắm mắt coi trọng và kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin mà xem nhẹ Độc lập đất nước, Tự do Dân tộc, xem nhẹ “Việt Nam Hòa bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giầu mạnh”. Thực tế cho thấy việc chúng ta để tư tưởng “Hai nhất” (Viển vông nhất, Lệ thuộc nhất) ở ngôi vị cao là nguyên do sâu xa và trực tiếp đưa đất nước đến bờ khủng hoảng và thách thức hôm nay”.
Chúng ta cần phải hiểu dù là Thủ tướng hay ai đó phát biểu thì đều là ý chí của toàn Đảng, toàn dân, bởi thể chế nước ta là do Đảng lãnh đạo toàn diện và thống nhất. Viết như trên Minh Đường đã viết theo ý kích động chia rẽ của những thế lực chống phá đất nước. Minh Đường nên biết nước ta đang kiên quyết và khôn khéo đấu tranh với sự xâm lấn của Trung Quốc bằng biện pháp hòa bình. Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tuyên bố một mặt kiên quyết đấu tranh nhưng ta vẫn giữ mối quan hệ làm ăn bình thường với Trung Quốc. Vì vậy hung hăng khoét sâu thêm thù hận như Minh Đường là cách nghĩ của kẻ tiểu nhân, sĩ diện hão, vĩ cuồng, không phù hợp với vị thế và thực tế, sẽ gây nguy hiểm cho đất nước.
Với các vị lãnh đạo, có thể trong cách giải quyết một vấn đề thì ai cũng có ít nhiều khác nhau, nhưng mỗi quyết sách đại sự quốc gia khi đã được đưa ra thì đều phải được thống nhất trong lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chứ không thể là ý riêng.
Tôi hoàn toàn có thể lấy dẫn chứng chứng tỏ Minh Đường nói ngược. Trong mối quan hệ với Trung Quốc thử lấy ví dụ giữa TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng thì thời gian gần đây chính TT Nguyễn Tấn Dũng lại có những hoạt động “thân” TQ hơn.
Theo Cổng TTĐT Chính phủ: “6:12, 22/10/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội đàm với Thủ tướng Ôn Gia Bảo: Cụ thể hóa một bước quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc”. Theo Chinhphu.vn: “7:05, 02/09/2013, Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam-Trung Quốc- Chiều 2/9, tại Nam Ninh, Trung Quốc, nhân dịp dự Hội chợ, Hội nghị thượng đỉnh Đầu tư-Thương mại ASEAN-Trung Quốc lần thứ 10, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã hội đàm với Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa Lý Khắc Cường”.
Còn Dự án Bô-xít liên quan mật thiết với TQ, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được Trung Quốc đón tiếp với nghi lễ long trọng nhất dành cho các nguyên thủ quốc gia để họ có được lời hứa VN sẽ phê duyệt ngay dự án. Không những được phép đưa người vào VN, TQ còn được những quy chế riêng đặc biệt tại khu vực khai thác.
Còn TBT Nguyễn Phú Trọng, trên một blog của một bạn Việt kiều bên Mỹ (thieulongtexas), dưới bài nói chuyện của tướng Nguyễn Thanh Tuấn, bạn này có đăng một một thông tin rất thú vị từ vị tướng này:
“Nói về chuyện ông Trọng ứng đối với TBT Tàu. Ông Tuấn kể lại hơi rời rạc. Chuyện này do nhiều người tháp tùng trong phái đoàn đi TQ của TBT Nguyễn Phú Trọng kể lại, nhưng vì tế nhị nên chưa thấy đề cập trên các báo chí chính thống...
Chuyện là như vầy: Khi tổng Đào nói "Đường chữ U là sự nghiệp của Quốc dân đảng để lại, nếu xóa bỏ thì nhân dân TQ sẽ không chấp nhận sự lãnh đạo của ĐCSTQ". TBT Nguyễn Phú Trọng nói: "Các đồng chí nói vậy là chưa đúng, Quốc dân đảng để lại 11 khúc trong đường chữ U, thì các đồng chí đã xóa đi 2 khúc. Mặt khác, Quốc dân đảng để lại Đài Loan, nhưng các đồng chí đã không chấp nhận và muốn xóa bỏ sự độc lập của Đài Loan, nhưng nhân dân vẫn ủng hộ, như vậy, không phải vì lý do này mà nhân dân không ủng hộ ĐCSTQ". Ý nói tổng Đào đổ thừa vớ vẩn linh tinh.
Khi tổng Đào đề nghị VN ngưng hoạt động khảo sát tiềm năng kinh tế trên Biển Đông thì TBT Nguyễn Phú Trọng nói thẳng: Chúng tôi hoạt động trong phạm vi 200 hải lý, thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN, phù hợp với Công ước quốc tế về Luật biển của LHQ năm 1982 có chữ ký của các nước liên quan đến Biển Đông, trong đó có chữ ký của các đồng chí. Quan điểm của VN là như thế đấy! Nếu TQ có quan điểm không đồng ý, thì đem ra Tòa án Công lý Quốc tế phân xử, rồi Tòa án quốc tế phán quyết thế nào thì chúng tôi sẽ chấp nhận như thế đấy." Tổng Đào bị bất ngờ vì ko lường trước đc, đành nói là "Nếu thế thì cần gì ngồi đây nói chuyện với nhau."
Vì vậy không có chuyện “bên Đảng” vì “ý thức hệ”, “bảo thủ”, thân TQ, còn “bên Chính phủ” “đổi mới” chống TQ, thân Mỹ và phương Tây! Trích dẫn như vậy, tôi chỉ muốn chứng tỏ ông Minh Đường có hành động rất nguy hiểm, xuyên tạc sự thật, nhằm kích động chia rẽ, gây mất đoàn kết trong nội bộ các vị lãnh đạo tối cao của đất nước!
***
Lần đầu nghe tên cái Viện SENA ngồ ngộ, tôi vô Google xem sao thì thấy ông Viện trưởng Minh Đường có “công trình” nghiên cứu khôn thật! Theo http://thuvienphapluat.vn/:
“Viện Nghiên cứu công nghệ và phát triển SENA - số 35 Điện Biên Phủ, HN (Viện SENA) đã sử dụng trụ sở (là nhà thuê của Nhà nước) cho một số tổ chức nước ngoài thuê để kiếm tiền. Từ năm 2007 đến nay, Viện SENA lại chiếm dụng nhà và đất thuộc sở hữu Nhà nước tại 35 Điện Biên Phủ, cho nhiều tổ chức nước ngoài thuê làm văn phòng với giá trung bình 25USD/m2/tháng… Ngang nhiên hơn, ngày 23.12.2008, viện còn ký hợp đồng cung cấp dịch vụ quản lý với Cty CP Gia Cát (Láng Hạ, quận Đống Đa) đối với khối nhà 5 tầng, nhà 7 tầng và tầng hầm tại 35 Điện Biên Phủ. Theo đó, Cty Gia Cát thay mặt Viện SENA cho khách hàng thuê nhà và được hưởng 8% doanh thu từ tiền cho thuê nhà (?!)”.
Và theo Einfo:
“Ngày 4/3/2013, UBND TP. Hà Nội ra quyết định số 1977/QĐ-UBND thu hồi trụ sở làm việc của Viện nghiên cứu công nghệ và phát triển SENA vì vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng nhà đất; mức độ vi phạm đã được Thanh tra Thành phố kết luận tại Văn bản số 1918/KL-TTTP(P1) ngày 13/10/2009 và Văn bản số 2981A/TTTP-P1 ngày 21/12/2011”.
Quả là một công trình kỳ lạ của một viện thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam! Nhưng còn kỳ lạ hơn khi trang đăng bài của ông Minh Đường là trang của Viện Những vấn đề phát triển http://www.vids.org.vn/ Nghe giống như anh em sinh đôi với Viện nghiên cứu công nghệ và phát triển (Viện SENA) của ông Minh Đường vậy. Nước ta quả là đang loạn viện! Không biết có phải nó cũng như SENA thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam hay cơ quan nào mà lại đăng rất nhiều bài của những người hiện trên tuyến đầu chống phá thể chế như Tương Lai, Nguyên Ngọc, Huy Đức… và Minh Đường! Và còn kỳ quái hơn khi họ cũng đăng luôn bài của Lê Xuân Khoa, một GS của chế độ VNCH, sau 1975, tị nạn bên Mỹ. Lê Xuân Khoa viết:
“Đành rằng bản chất chính trị của lãnh đạo cộng sản là “nói một đàng, làm một nẻo” nhưng bước đột phá về đối ngoại của ông Nguyễn Tấn Dũng trước một diễn đàn quốc tế là một sự kiện cần được xem xét kỹ. Vấn đề là giữa lúc cuộc tranh giành quyền lực và mâu thuẫn chính sách trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam đang diễn ra gay gắt, sự xoay chuyển chính sách đối với Trung Quốc và Hoa Kỳ có phải là lập trường thống nhất của Bộ Chính trị hay không? …
Tình hình Việt Nam quá phức tạp, không ai có thể đoán biết được các toan tính của ông Dũng, của phe đối thủ và của Trung Quốc như thế nào…
Thời gian chờ đợi kết quả thắng hay bại của ông Dũng có thể kéo dài. Nếu phe bảo thủ thắng thì số phận nước Việt Nam sẽ hoàn toàn mất vào tay Trung Quốc. Nếu ông Dũng thắng thì Việt Nam sẽ có cơ may thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc và mau chóng bắt kịp được Hàn Quốc hay Đài Loan. Trong khi chờ đợi, trí thức và nhân dân vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch chống Trung Quốc xâm lược, gia tăng công cuộc vận động cho dân chủ và nhân quyền. Những nỗ lực tranh đấu cho độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc càng cần thiết ngay cả khi ông Dũng đã vô hiệu hóa được các đối thủ của ông. Rút kinh nghiệm đối với các lãnh đạo độc tài trên thế giới, có gì đảm bảo là ông Dũng sẽ không trở lại chế độ độc tài sau khi đã củng cố được quyền lực?
Không ai mong muốn điều bất hạnh cho dân tộc nhưng đề phòng tai họa vẫn luôn luôn cần thiết. Bây giờ thì hãy cầu Trời khấn Phật cho ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành một Gorbachev Việt Nam.
California, 18 tháng Sáu, 2013. L.X.K.”!
Có phải Việt Nam ta tự do ngôn luận nhất thế giới hay tự do xuyên tạc nhất thế giới? Thật đáng ngại thay!
3-6-2014
ĐÔNG LA

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

NHỮNG CON ĐƯỜNG PHẢN BỘI

 ĐÔNG LA

NHỮNG CON ĐƯỜNG PHẢN BỘI
Một hôm, cách nay đã vài chục năm, tôi bất ngờ nhận một cuộc điện thoại của Nhà Văn Bùi Bình Thi (cha của Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên) nói là anh phải đến Tạp chí Văn nghệ Quân đội hỏi mới biết số điện thoại của tôi để gọi, nguyên do là ông Nguyễn Trung, bạn anh, muốn liên lạc với tôi, sẽ gọi điện cho tôi. Nguyễn Trung chính là tác giả loạt bài chính luận “Thời cơ vàng” từng làm chấn động dư luận, tìm hiểu sơ sơ thấy hơn tôi đến 20 tuổi, từng làm đại sứ ở vài nước, và làm trợ lý cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Rồi đúng là ông Nguyễn Trung đã gọi:
-Có phải Nhà Văn Đông La? Tôi là Nguyễn Trung, xin phép được làm quen với anh.
Một người hơn tôi nhiều tuổi, có địa vị xã hội cao như thế, lại có thái độ như thế làm tôi quá ngạc nhiên. Ông kể, ông biết tôi do ông đã đọc bài của Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học, sau là viện phó) viết về cuốn sách “Biên độ của trí tưởng tượng” của tôi trên báo Nhân dân (ông được biếu), thấy hay quá, muốn làm quen với tôi, muốn tặng tôi một cuốn sách để tôi góp ý để ông chuẩn bị viết một bộ tiểu thuyết “để đời”. Thế rồi chúng tôi gặp nhau và thiết lập một tình bạn vong niên thân thiết. Ông còn mời tôi đến tận nhà ông bên hồ (hình như Hồ Tây). Sau đó ông đã hoàn thành và xuất bản bộ Tiểu thuyết “Dòng đời”. Quả là với vị trí, trình độ và sự từng trải của ông, tôi thấy ông đúng là đã sáng tác một bộ tiểu thuyết có tính phản biện rất hay, rất giá trị. Tiếc là theo thời gian, cái ranh giới giữa phản biện và phản bội rất mong manh, dần dần nhận thức của ông trên các bài viết đã ngược với nhận thức của tôi, và cái tình bạn giữa ông và tôi cũng tự nhiên chấm dứt.
Tư tưởng tôi vốn cởi mở, coi trọng người có cá tính, tư duy độc đáo, có tham vọng đổi mới. Chính vì vậy, thuở mới vào đời, một hôm tôi đã theo Chế Lan Viên dự đêm thơ của ông tổ chức ở Nhà Văn hoá Phú Nhuận, tôi đã gặp 3 sinh viên là Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Nguyễn Quốc Chánh, và tôi đã chọn chơi thân với Nguyễn Quốc Chánh. Sau đó tôi chơi với Hoàng Hưng, và rồi gặp Nguyễn Quang Thiều tạo nên một “thiên tình sử”. Đó là những mối quan hệ rất thân thiết, riêng Hoàng Hưng lớn tuổi có chút xa cách, còn Nguyễn Quang Thiều không chỉ là tình bạn mà Thiều còn nói là tình anh em. Khổ cái bạn bè với tôi không chỉ là tình cảm thông thường mà còn gắn với tri thức, nhận thức, nên dần dần, từ ông Nguyễn Trung đến những người bạn thân thiết của tôi, họ đều thể hiện nhận thức của mình sai trái quá. Đơn giản là vì ngoài chút năng khiếu văn chương, họ có hai cái đối lập nhau, một cái tôi dữ dội và một trình độ mà theo tôi đúng là “đếch biết gì”! Bọn họ đều có tham vọng và hô hét đổi mới kinh khủng. Họ cho cứ theo đuôi, bắt chước Mỹ là VN sẽ như Mỹ, như Phương Tây, như Bắc Âu. Sự dốt nát của họ giống như chuyện cứ cho một ông nông dân mặc áo giáo sư là sẽ thành giáo sư vậy. Nhưng thực tế đổi mới là rất khó, cần những người có tâm, có tầm, có tài thực sự, phải theo đạo lý, theo lương tri, cần phải phát huy cái tốt, bù đắp cái thiếu, cắt gọt cái sai, cái xấu. Đó là quá trình mà theo Triết học Mác là “lượng đổi thành chất” rất gian nan, chứ không phải như “bọn” bạn tôi là để theo Mỹ, phải chống đối, lật đổ, trở cờ, phản bội, chiêu hồi “bên thua cuộc”. Hiện tại, quan hệ với Mỹ rất quan trọng với VN, để phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật, để ngăn chặn tham vọng bành trướng Biển Đông của TQ; nhưng là quan hệ bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, tôn trọng lịch sử, văn hoá, thể chế chính trị của nhau; chứ không phải là đầy tớ, tay sai của Mỹ như VNCH xưa. Hình ảnh Ukraina đang bị chiến tranh huỷ diệt như một cái tát nảy lửa vào miệng bọn trí thức ngu xuẩn và lưu manh ở VN, những kẻ luôn gào thét đổi mới, đòi thay đổi chế độ, thoát Trung, bài Nga, để theo Mỹ!
Hôm nay tôi đăng lại bài tôi viết 9 năm trước để rõ hơn “công lao” làm tan vỡ Liên Xô của Gooc-ba-chov, một bài học nhãn tiền cho VN hiện tại, bài viết có vài ý liên quan đến “ông bạn cũ” của tôi là Nguyễn Trung.
5-9-2022
ĐÔNG LA
NHỮNG CON ĐƯỜNG PHẢN BỘI
Nguyễn Trung trong bài: Đừng xuyên tạc lịch sử để đưa những điều sai trái vào Dự thảo Hiến pháp [đăng trên “Bọ xít” (boxit)] đã cho “dư luận viên” của “lề phải” là “xuyên tạc lịch sử”. Bởi theo ông, khi Hiến pháp LX còn nguyên, điều lệ Đảng còn nguyên mà bọn “dư luận viên” lại cho sự tan rã của Liên Xô là “phản bội chủ nghĩa Mác –Lên nin”! Tôi không ngờ một người ở tầm Nguyễn Trung lại có sự quy kết người khác vô lý như thế. Bởi không phải cứ Hiến pháp còn, Điều lệ còn thì không có sự phản bội. Viết vậy dường như ông không biết đến cặp phạm trù Bản chất, Hiện tượng. Để xem có phản bội hay không cần phải phân tích giữa lý luận và hành động trong thực tiễn có ngược nhau hay không? Việc Liên Xô tan rã vào thời điểm không có sự sửa đổi Hiến Pháp là đúng, điều lệ Đảng còn nguyên vẹn là đúng, nhưng sự phản bội thực tế đã diễn ra trước đó suốt cả một quá trình rất dài, cả về lý luận, thực tiễn và sự thay đổi Điều lệ Đảng, Hiến pháp. Sự phản bội đã được trình bầy rất rõ trong loạt bài Những bài học từ sự sụp đổ của Đảng CS Liên Xô từng in trên báo Nhandan.online. Trong đó điều quan trọng nhất là sự xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Đảng.
Lê Nin, tháng 4-1906, trong Đại hội lần thứ 4 Đảng Bolshevik đã đề nghị thông qua điều lệ: Mọi tổ chức của Đảng đều được xây dựng trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhưng sau Cách mạng Tháng Mười, các thế lực thù địch phá hoại điên cuồng, Lê Nin đã tăng cường tính tập trung để giúp cho chính quyền Xô Viết non trẻ đứng vững. Nhưng điều này lại vi phạm dân chủ, dẫn đến khuynh hướng chuyên quyền, độc đoán. Vì thế Lê Nin đã cho thành lập Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ủy ban Giám sát Trung ương. Đến thời Stalin, tệ sùng bái làm cho Stalin trở thành độc đoán. Ủy ban Giám sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của tổ chức cấp dưới và những người bất đồng ý kiến. Đến thời Brê-zơ-nev đã vứt hẳn giám sát trong Đảng. Thời Gooc-ba-chov, trong Đại hội 28, Gooc-ba-chov đã công khai phê phán và cho thông qua Điều lệ Đảng xóa bỏ luôn nguyên tắc tập trung dân chủ. Từ việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ đã dẫn đến một chuỗi sai lầm trong công tác cán bộ. Khi lựa chọn cán bộ, tiêu chuẩn tài - đức bị thay thế bởi sự chạy chọt, quen thân, dẫn tới hiện tượng kéo bè, kéo cánh.Khơ-rút-shov từng thông qua vợ của Stalin, bạn học của ông ta ở đại học, để thể hiện “sự trung thành của mình”. Mấy chục năm sau, Gooc-ba-chov cũng có một hồi ức tương tự: “Khi giữ chức Bí thư Trung ương Đảng, Chernenko bảo tôi, “Bre-zơ-nev biết đồng chí đứng về phía đồng chí ấy, trung thành với đồng chí ấy. Đồng chí ấy rất coi trọng điều này”. Dưới thời Bre-zơ-nev, khi cân nhắc, đề bạt một ai đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là xem người đó có quan hệ tốt với phe của Bre-zơ-nev hay không? Tikhonov, một người bình thường, nhưng do là đồng hương kiêm bạn học của Bre-zơ-nev nên đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Bre-zơ-nev đã đặc biệt tâm đắc câu nói của Khơ-rút-shov: "Sự ổn định của đội ngũ cán bộ là sự bảo đảm cho thành công", đã phát triển thành chế độ chức vụ suốt đời. Các cán bộ cao cấp của Liên Xô như Bre-zơ-nev đều qua đời khi còn đương chức. Khi Gooc-ba-chov lên nắm quyền, ông ta thẳng tay thay thế những cán bộ phản đối “cải tổ”, đề bạt những cán bộ ủng hộ chủ trương “tây hóa”. Ông ta đã cài người vào các vị trí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, thay thế hơn 20 bộ trưởng và 92,5% bí thư khu ủy, thành ủy, tỉnh ủy, đã tạo ra sự hỗn loạn chưa từng có trong đội ngũ cán bộ ở Liên Xô, rơi vào tình thế không thể nào cứu vãn nổi. Như vậy sự phản bội Chủ nghĩa Mác- Lê Nin ở đây chính là Nhà nước Liên Xô thực chất không phải là Xã hội Chủ nghĩa mà là một Nhà nước Phong kiến trá hình. Chính cái nhà nước này đã đẻ ra tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, gây ra sự bất mãn sâu sắc trong xã hội Liên Xô. Dưới thời Gooc-ba-chov, tầng lớp đặc quyền còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền hiện có, để lại cho con cháu đời sau. Vì thế khi đất nước đứng trước nguy cơ tồn vong, tầng lớp đặc quyền đã không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy vứt bỏ CNXH đi theo con đường của CNTB để hợp thức hóa tài sản. Cụ thể hơn, sự phản bội Chủ nghĩa Mác-Lê Nin còn là việc công kích trực diện Chủ nghĩa Mác-Lê Nin. Thời trẻ, khi Gooc-ba-chov hình thành thế giới quan cũng chính là vào thời kỳ Khơ-rút-shov phủ định hoàn toàn Stalin, phủ định lịch sử của ĐCSLX. Điều này đã làm sụp đổ niềm tin vào lý tưởng Cộng sản của Gooc-ba-chov. Gooc-ba-chov từng nói: “Thời trẻ chúng tôi tin theo Đảng, trung thành gia nhập Đảng, nhưng sau Đại hội 20, tư tưởng của chúng tôi bắt đầu có sự thay đổi”. Gooc-ba-chov còn cùng nhà hoạt động xã hội Nhật Bản Daisaku Ikeda xuất bản cuốn sách không chỉ chĩa mũi dùi vào Stalin mà còn chĩa thẳng vào Lê Nin, vào Chủ nghĩa Mác. Gooc-ba-chov cho Liên Xô cần phải thực hiện một nền dân chủ không hạn chế, đưa ra phương án xây dựng mô hình “Chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo”, phủ nhận Chủ nghĩa Mác, thực hiện đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. 1988, Hội nghị đại biểu lần thứ 19 của Đảng đã giải tán 23 ban trực thuộc Trung ương, Bộ Chính trị mấy tháng không họp, Đảng Cộng sản Liên Xô hoàn toàn mất quyền kiểm soát tình hình. Sakharov, Popov kêu gọi sửa đổi Điều 6 trong Hiến pháp . Enxin đại diện cho “phe dân chủ” đòi đa đảng và được Gooc-ba-chov hoan nghênh. Ngày 12-3-1990, Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Đại hội đại biểu bất thường, thông qua nghị quyết về lập chức tổng thống Liên Xô và luật bổ sung sửa đổi Hiến pháp Liên Xô. Lời đề tựa, trước hết xóa đi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời sửa đổi nội dung trong Điều 6 của Hiến pháp. Điều này thực chất là xóa bỏ cơ sở pháp lý của việc Đảng Cộng sản Liên Xô cầm quyền suốt 73 năm kể từ sau Cách mạng Tháng Mười. Như vậy, sự phản bội Chủ nghĩa Mác – Lê Nin là toàn diện và triệt để, từ cơ sở lý luận, thực tiễn cho đến cả các văn bản pháp lý. Chính nó đã làm tan rã Liên Xô. Dường như đây chính là bài học cho nhóm 72 trí thức nước ta áp dụng. Họ gần như đã copy từng bước, từng hành động của những kẻ đã đập vỡ LX ngày nào. Từ việc nhân danh đấu tranh cho dân chủ, vin vào mọi cớ để quấy rối, đến việc đưa Kiến nghị thay thế Hiến Pháp, xóa bỏ sự hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, tách quân đội và công an khỏi Đảng, thay đổi chế độ!
Nguyễn Trung trong bài "Hiến Pháp và những sự bất cập của Dự thảo sửa đổi" đăng trên viet-studies.info/ của Trần Hữu Dũng viết:
- Trong hệ thống nhà nước pháp quyền không thể có “đảng lãnh đạo” như là một bộ phận cấu thành của hệ thống quyền lực nhà nước.
- Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân không thừa nhận bất kỳ thứ chủ nghĩa nào.
- Mọi công cụ chuyên chính của nhà nước như quân đội, công an, những công cụ chuyên chính khác không phải là công cụ của bất kỳ đảng phái chính trị nào ngoài nhà nước pháp quyền và nhân dân.
Trong thực tế, “Nhà nước pháp quyền”, “dân chủ”, “đa nguyên” không phải là những liều thuốc tiên cho tất cả các nước. Việt Nam với một lịch sử bị xâu xé, xem trên mạng, nơi các suy nghĩ được bộc lộ tự do, mới thấy còn quá nhiều sự đối kháng về ý thức chính trị và cả các quan điểm về lịch sử, văn hoá, lối sống. Để bảo vệ cho những ý của mình, trong bài "Đừng xuyên tạc lịch sử để đưa những điều sai trái vào Dự thảo Hiến pháp", Nguyễn Trung đã cho sự tan rã của Liên Xô “Đơn giản là họ bị các lực lượng dân chủ của nhân dân nước mình đánh bại”. Nhưng Nguyễn Trung đã sai bởi như đã phân tích, sự tan rã của Liên Xô là do một loạt nguyên nhân sâu xa về lý luận và thực tiễn. Để rồi cuối cùng, như giọt nước tràn ly kết thúc mọi chuyện, đó chính là việc Goóc-ba-chốp đã bị Enxin đánh bại.
Ngoài những nguyên nhân chính như trên, sự tan rã của LX cũng có sự góp sức không nhỏ của Phương Tây. Từ năm 1989, Gooc-ba-chov bắt đầu cải tổ làm tình hình kinh tế ngày càng xấu đi, ông ta đã phải quỳ gối cầu viện từ phương Tây, mở đường cho Phương Tây thực hiện mong ước xóa xổ LX bằng mồi nhử kinh tế. 5-1991, Gooc-ba-chov đã cử một nhà kinh tế đi Mỹ cùng các chuyên gia Mỹ lập kế hoạch Harvard. Theo đó, mỗi năm phương Tây sẽ viện trợ cho Liên Xô từ 30 tỷ - 50 tỷ USD, tổng cộng trong 5 năm là 150 -200 tỷ USD, đáp lại Liên Xô phải thực hiện cải tổ. Nhưng thực chất Tổng thống Nixon đã nói: “Lợi ích chiến lược lúc này không phải là cứu vớt Moscow về kinh tế mà là phá hủy chế độ XHCN ở Liên Xô”. Kết quả LX không nhận được một xu nào. Dù vậy, Gooc-ba-chov đã “đâm lao thì phải theo lao”, vẫn phải làm theo con đường phương Tây dẫn dụ. Nhờ đó, riêng Gooc-ba-chov đã được phương Tây trả công bằng giải Nobel hòa bình năm 1990 và rất nhiều tiền dưới hình thức nhuận bút và hình thức khác. Dù vậy, khi trở thành kẻ bên lề lang thang, ông ta vẫn không thoát khỏi mặc cảm là tội phạm chủ chốt làm tan vỡ LX và đã phải thú nhận sự nghiệp chính trị của mình là thất bại. Với Enxin, một người có bản chất chống đối, phương Tây cũng coi là đối tượng vận động trọng điểm để tìm cách phân hóa Liên Xô. Khi Enxin có được thế lực, đã được mời thăm Hoa Kỳ và được tiếp đón trọng thị. Enxin đã báo đáp ân huệ mà Hoa Kỳ dành cho mình bằng cách tháng 12-1991, trước khi mật bàn với lãnh đạo Ukraine về việc giải thể Liên Xô, ông đã ta thông báo việc này với Hoa Kỳ. Như vậy, từ sai lầm và tham vọng, Gooc-ba-chov và Enxin đã làm tay sai cho Phương Tây phá nát chính Tổ Quốc của mình. Mục đích chính của họ chỉ là phá vỡ đối trọng chủ yếu trên bàn cờ thế giới! Nên xong việc những nước thuộc LX cũ chỉ như dạng chư hầu vương vãi của họ mà thôi! Cuối cùng việc LX tan rã chỉ tạo điều kiện cho thế giới trở thành đơn cực nguy hiểm. Chúng ta đều biết kẻ mạnh thường tham. Trong lịch sử, ta từng thấy quân Nguyên Mông muốn thống trị thế giới như thế nào, rồi bọn Phát xít từng thực hiện tham vọng “làm cỏ” thế giới như thế nào! Tổng thống Nga Putin, người được hưởng lợi nhiều nhất từ sự tan rã của LX, vẫn phải chua xót nói: “Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết là một thảm hoạ địa chính trị lớn nhất của thể kỷ 20”. Đến cả Solzhenitsyn, tác giả đã kịch liệt phủ định Stalin khi suy ngẫm lại cũng phải thừa nhận “Tôi đã hại Tổ quốc Nga”. Còn cựu Tổng thống Ukraine Kravchuk, một trong ba nhân vật tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này cũng nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được cục diện đất nước sẽ phát triển đến như cục diện như hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định”.
Con người luôn có phần con và phần người vì vậy các nhà tư tưởng, các nhà khoa học xã hội đã đặt ra các biện pháp để phát huy phần người và khống chế phần con, như nhà nước thì có luật pháp còn Chủ nghĩa Mác Lê Nin có nguyên tắc tập trung dân chủ. Hai vế của nguyên lý này luôn phải cân bằng và tùy thuộc vào thực tế, nếu không đều dẫn đến tai họa. Bài học từ sự tan rã Liên Xô thật đau đớn. Chỉ có con người xây dựng nhưng sự đập phá cũng chính từ bàn tay con người. Những kẻ dốt, ác nhưng lại tham vọng chính là những kẻ phá hoại. Những kẽ hở, những sai lầm của công tác cán bộ giúp chúng có vị trí và dần tạo được thế lực để rồi gây họa. Thật e ngại trước tình trạng ở ta cũng có không ít công chức cao cấp vào Đảng chỉ để cầu quyền lợi, hưu rồi không cần nữa thì trở mặt chống Đảng. Kỳ lạ hơn nữa là có cả một số còn đương chức. Như trường hợp Phạm Xuân Nguyên chẳng hạn, là một trưởng phòng của Viện Văn, một Chủ tịch Hội Nhà Văn Thủ đô HN, nhưng một tay nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng còn một tay lại ký tên trong Danh sách đòi từ bỏ sự hiến định quyền lãnh đạo của Đảng! Tất nhiên không phải họ ngu dốt không phân biệt được tốt xấu, đúng sai, mà chính là họ đã bất chấp tất cả để trục lợi. Phải chăng vì nhu nhược, vì cả nể, hay xã hội ta không còn chuẩn mực của đạo lý nữa nên mới có tình trạng trắng đen lẫn lộn, thiện ác bất minh như vậy? Sự tan rã LX chính là vì người ta nhu nhược không dám bắt giam Gooc-ba-chov, còn chuyện Gooc-ba-chov thua Enxin cũng chính là vì Gooc-ba-chov không dám bắt giam Enxin! Cũng thật e ngại khi “Nhà nước pháp quyền”; “dân chủ” đang trở thành “mốt” của ngôn ngữ chính trị. Cả chuyện phúc quyết toàn dân Dự thảo Hiện pháp cũng vậy. Từ “nghị” Quốc, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường đến cựu Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An đều cho rằng Dự thảo Hiến pháp cần phải được phúc quyết toàn dân. Nhưng nhìn một cách thực tế, nếu như vậy, lá phiếu của các vị cũng chỉ có giá trị ngang với bà bán cá, bán rau không hiểu chữ Hiến pháp là gì. Như vậy liệu kết quả phúc quyết toàn dân sẽ là tốt và đúng đắn hơn chăng? Cạnh đó, việc nhân danh đấu tranh cho dân chủ để viết bậy, nói bậy, làm càn cũng diễn ra tùm lum. Đỉnh điểm là vụ “nhóm 72” ngang nhiên đưa Kiến nghị đòi “lật pháp”, thay đổi thể chế. Có điều khó hiểu là tại sao có nhiều người có trình độ chuyên môn rất cao nhưng lại rất hăm hở muốn nước ta đi theo vết xe đổ của LX như vậy? Các vị cần phải biết Liên Xô là một nước hùng mạnh, khoa học Kỹ thuật tiên tiến. Hồi Đại chiến Thế giới, LX tự mình sản xuất xe tăng, máy bay, đạn dược, đánh tận sào huyệt Phát xít Đức, khiến Hít Le phải tự sát. Nước Nga cũng giàu tài nguyên khoáng sản, ý thức dân chúng thuần nhất không bị ngoại bang đô hộ nên không phức tạp như nước ta, nên sau sự tan rã của LX nước Nga đã phần nào hồi phục. Còn Việt Nam ta nếu sụp đổ, như lịch sử đã nhiều lần lặp lại, sẽ là hỗn loạn, là giành giật cấu xé, là sự can thiệp của ngoại bang, là nồi da xáo thịt, sẽ là bản sao dạng Pakistan, Apganistan, Irac, Lybi hôm qua, hoặc như Ai Cập, Xyri trong những ngày hôm nay, chứ còn lâu mới được như nước Nga.
TPHCM 9-9-2013
ĐÔNG LA