Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

TRẦN NGẪU HỒ - Thư hàn huyên cùng anh Đông La và lý giải những chuyện gọi hồn, ngoại cảm

Thư hàn huyên cùng anh Đông La
và lý giải những chuyện gọi hồn, ngoại cảm

     Tôi lại nhận được một e-mail của anh Trần Ngẫu Hồ, anh có “xin anh cho xuất hiện trên trang Blog DongLa để tôi có thể gieo duyên dần với độc giả của anh” và “hy vọng sự lý giải thô thiển của tôi sẽ tạo được sự đồng cảm từ anh”. Về những vấn đề liên quan đến tôn giáo và tâm linh nói chung khi chưa có thực tế chứng tỏ và khoa học gián tiếp xác nhận thì tôi sẽ không có ý kiến cụ thể. Những lĩnh vực mà anh Trần Ngẫu Hồ quan tâm thuộc những vấn đề như vậy, nhưng tôi đồng cảm với anh ở chỗ anh có tinh thần dám khám phá, tính thẳng thắn, có lý lẽ và hiểu biết để nhận thức các vấn đề một các khách quan.
           Riêng về Đại tá TS Vật lý lý thuyết Đỗ Kiên Cường thì như tôi đã thông báo, có lẽ tôi còn vướng lối ứng xử phong kiến, nông dân, tôi có thể tranh luận thẳng băng với tất cả mọi người về tất cả các lĩnh vực mà tôi quan tâm nhưng với riêng những người từng hoặc vẫn là bạn của tôi như Đỗ Kiên Cường, Nguyễn Quang Thiều (Phó chủ tịch HNV), Nguyễn Hữu Sơn (Viện phó Viện Văn), v.v… thì dù họ viết hoặc nói gì, miễn là đừng đụng đến tôi, tôi sẽ mặc kệ họ. Nên đoạn anh viết về ông Cường, tôi giữ lại vì tôn trọng quan điểm của anh nhưng tôi phải xóa đi những chữ mang tính miệt thị.
            Gần đây tôi có nhận kết bạn facebook với bạn Phùng Truyền, khá bất ngờ trước tham vọng đưa ra Lý thuyết Thống nhất các Trường tương tác trong vật lý của bạn ấy. Giống anh Trần Ngẫu Hồ ở chỗ dám dấn thân vào chỗ cả nhân loại chưa biết nhưng với Phùng Truyền viết về khoa học chính xác thì tôi hoàn toàn có thể đưa ra nhận xét cụ thể được. Nhưng cũng lại “nông dân” ở chỗ bạn ấy đang quý mình, giờ bảo bạn ấy sai, vất cái công trình tâm huyết của bạn ấy đi thì ngại quá!
        Tháng giêng là tháng ăn chơi nên hôm nay tôi đăng lá thư đồng thời là bài viết của anh Trần Ngẫu Hồ cho bạn đọc đọc “chơi”.
               9-2-2017
               ĐÔNG LA
         
Thưa anh Đông La (ĐL), tôi mới đọc bài viết của anh mang tựa: “Giáo Sư Trịnh Xuân Thuận viết về Đạo Phật và Khoa Học” trên blog của anh:

Trong bài này tôi thấy anh vừa viết về khoa học, lại vừa chỉnh sửa ông GS Thuận.
Tuy nhiên, anh ĐL ạ, ai ai trong chúng ta  cũng có thể có sai sót ngay cả trong chính lãnh vực của mình, với GS Thiên Văn  Thuận hay tôi hay anh cũng vậy thôi. GS Thuận liên kết khoa học với một pháp nào đó của Phật pháp, và GS có thể sai ở một góc cạnh nào đó cũng không có gì lạ như trên đã nói. Vì lòng ngưỡng mộ của ông dành cho Phật pháp, nhưng ông lại không (hay chưa có duyên để) tìm hiểu chuyên sâu về Phật pháp.
Không ai dám nhận mình đúng và toàn triệt, dẫu ngay trong chuyên môn của mình, huống chi lại khi bước sang lãnh vực khác!
Cái đúng lớn của GS Thuận là giá trị và đã khỏa lấp cái sai sót của ông. Trong cuốn “Vô Hạn Trong Lòng Bàn Tay”, ông đã giới thiệu nhận định của Heisenberg về sự khởi đầu của thế giới, sau đó ông nhận định thêm rằng: “ Tất cả chúng ta đều có khởi đầu từ Big Bang…” là một nhận định tổng quát đúng với cái toàn thể.
Và nhờ cái đúng tóm tắt này, tôi đã triển khai nhận định của GS Trịnh Xuân Thuận như một đại diện căn bản đúng với sự thật từ Khoa Học, rồi ứng dụng pháp Vô Sanh của Đức Phật Thích Ca để mạnh dạn bác bỏ nhận định của ông Stephen Hawking, và của ông Michio Kaku, trong đó, đã nhận định rằng Vũ Trụ bắt đầu bằng trí khôn của Chúa, hay từ hư vô như đã ngộ nhận (Trong bài: “Để Trả Lời Cho Câu Hỏi, Con người Từ Đâu Đến”, đã được đăng trên sachhiem.net).
Chính anh đã có lần nhắc tới là ngay cả Einstein cũng có lần công nhận là mình sai. Và bây giờ là Stephen Hawking, Michio Kaku cũng sai khi nhận xét về vũ trụ trước Big Bang đó thôi.
Trong đường dài của đời sống, ai ai cũng có những lần hiểu sai, nói sai, làm sai, tôi và anh cũng thế thôi.
Ý nghĩ, hành động, lời nói bất chấp nhân quả là cái vô minh chính của con người.
Tuyên bố đại, phủ nhận hoàn toàn những điều mình chưa hiểu rõ về luân hồi như ông Nguyễn Lân Dũng, Ô. Bằng “Tia Đất” hay ông Khải “Ôzôn” tuyên bố về ngoại cảm cũng do bởi các vị còn vô minh.
Còn ông Thích Thanh Duệ, Ủy Viên Thường Trực Hội Đồng Trị Sự GHPGVN, thì tuyên bố một cách từ chương, chậm lụt một cách cứng chắc. Đó cũng là một dạng của Vô Minh. (Ông này học được những gì trong kinh điển là cứ thế mà theo, mà tin, chẳng tự mình phát huy được điều gì)
Nhìn quanh, ta thấy ai ai cũng có ít hay nhiều Vô Minh, vì chúng ta ra từ Vô Minh, đang sống trong Vô Minh, sống và chết đều trong Vô Minh.
Cả cuộc sống ta bà này đều từ vô minh mà hình thành.
Tôi tạm chia vô minh ra làm 2 phần: Phần vô minh âm và phần vô minh dương. Hãy tưởng tượng vô minh là một quả cầu hình bầu dục, ta gạch một đường ở giữa và vòng quanh quả cầu đó, phần trên tôi tạm gọi là vô minh dương, phần dưới là vô minh âm.
Quả cầu đang ở trước mặt chúng ta, cái sống khởi đầu từ đường trung tuyến, cạnh trái của quả cầu, chúng ta xuất hiện, đi lần trên cạnh đó của quả cầu, lên dần tới điểm cực đại, rồi lại theo cạnh phải đi xuống và chìm dần vào phần vô minh âm, sau đường trung tuyến, đời sống và cái chết cứ thế xoay vần trên cái hình vô minh bầu dục này. Ở giữa quả cầu là guồng máy khổng lồ vận hành nhân quả và duyên nghiệp của con người.
Vô minh mà anh nói thuộc về vô minh âm (Ba chi đầu của vô minh là thuộc về kiếp trước), vì vậy nên mới nói có thức nhập vào thai mẹ. Thế nên rõ ràng là nó thuộc về kiếp trước rồi.
Vậy nên “hành” này không thể hành động, tạo tác gì thêm được nữa, vì những hành động này đều ở kiếp trước lúc còn sống, trong hành đó cũng phải có Thức, và Thức tiềm ẩn này trong hành đã mang trong nó đầy đủ những nghiệp ở đời sống trước đó mà nó đã tạo tác. Không giải thích rõ người đọc dễ hiểu sai.
Thức này cũng không thể chọn lựa được cha mẹ mới gì cả, mà nó bị (hay được) nghiệp tiềm ẩn trong nó “dắt” nó đi vào (bụng) người mẹ mới này, thức này lúc đó là ở dạng thụ động. Vì nếu thức mà chọn lựa được thì lý tưởng quá, thức nào cũng muốn và có thể làm con của tổng thống, hay vua dầu hỏa cả, duyên nghiệp nào mạnh nhất tiềm ẩn trong thức đã đưa thức (thụ động) tới cha mẹ mới.  
Trong  quá khứ nhiều khi ta bắt gặp những từ như: Nghiệp thức, hành nghiệp là ở nghĩa này. Tôi viết lại, và mỗi chi đều bắt buôc phải có thức trong đó, thì thập nhị nhân duyên mới sinh động được (chỉ xin viết 3 chi cho nó đỡ dài dòng) :
Thức vô minh→ Thức hành→ Thức thức…
Tại sao lại có thức vô minh? Vì nếu vô minh mà không có thức thì làm sao mà qua hành được? Và hành mà thiếu thức thì hành làm sao chuyển được qua để thành Thức thức?
Tại sao lại phải có Thức thức? Vì Thức đi đầu thai vào bụng mẹ là A lại da thức (Alaya) hay tàng thức, còn gọi là ngã thức (thức chủ tể, chứa những hạt giống và nghiệp cũ do hành gây ra). Thức A lại da đi đầu thai rồi, thì còn lại Mạt na thức và sáu thức kia ở lại, nhóm thức này nhận Tưởng (Ý) thức làm ngã (cái ta). Và tạo (giữ) được cái hình tướng qua tưỏng thức mạnh mẽ, mà tôi gọi là Hình Tướng Tưởng Thức (HTTT). Thế nên, khi chúng ta tiếp xúc được với tưởng thức của hồn thì ta thấy hồn ngơ ngơ, ngáo ngáo (vì thiếu ngã thức, tức A lại da thức), tưởng thức hồn này nhớ (tưởng) được điều gì thì trả lời điều đó. (Đây là một nhận định quan trọng, để sẽ giải thích được phần nào những bí ẩn của chuyện gọi hồn, ngoại cảm đang xảy ra).
Nhiều thức hồn có tuởng mạnh (tuởng để làm ngã), đã giữ những hình ảnh của mình trước khi chết như mặt mũi nát bét, cụt đầu, cụt chân tay, hoặc ruột lòi ra, trông rất ghê rợn.
Cũng bởi sự chấp trước quá mạnh vào cái thời điểm mà mình gặp nạn và qua đời (giống như chúng ta pause một hình ảnh trên Ti Vi hay video).
Thức vô minh âm, thức vô minh dương đều được gọi là Cõi Thức, cõi thức này phi hữu. Cõi Thức Âm và Cõi Thức Dương đều có mặt ở ngay cõi ta bà này.           
Tất cả những người gọi là ngoại cảm đều tiếp xúc với cõi thức vô minh âm này. Đây là căn bản, là tiền đề cho tất cả những câu chuyện về ngoại cảm, gọi hồn đang xuất hiện trên dư luận VN bây giờ.
Những nhà ngoại cảm như cô Hòa, Bích Hằng, anh Lê Trung Tuấn đều tường thuật một cách khách quan những gì họ tiếp xúc được, và họ đều gặp được những thức hồn (HTTT) đã chết cách nay vài chục năm, vài trăm năm, thâm chí cả 7, 8 trăm năm.
Điều này làm hoang mang những Phật tử, ngay cả những tu sĩ Phật giáo đã tu theo Phật nhiều năm. (Nếu anh ĐL đồng ý với tôi, thì nhờ anh, khi có dịp gặp ông Thích Thanh Duệ thì anh chỉ cho ông ta đoạn trên đây để ông ta hiểu sự hành hoạt của thức trong Vô Minh Âm, cám ơn anh).
Nếu vậy, chẳng lẽ Phật giáo nói là sau một thời gian nào đó các thức hồn đều đi luân hồi tất cả, là sai sao? Và khi tiếp xúc với những thức hồn này trong cõi thức vô minh âm đều gặp được cả, vậy chẳng ai đi đầu thai cả sao?
Không phải, Phật giáo không hề sai. Sự luân hồi vẫn tiếp tục với những a lại da thức, tức ngã thức, đi luân hồi theo đúng nghiệp của họ, và lưu lại trong Vô minh âm là những hình tướng tưởng thức như đã nói ở trên.
Cái sống từ vô thỉ cho tới nay thì cõi thức âm này đã dung chứa nhiều vô số kể những hình tướng tưởng thức (HTTT) này.
Những nhà ngoại cảm chân chính cũng chẳng sai, nhưng họ chỉ tiếp xúc được với những HTTT, những cái “vỏ” người mà thôi, tức những HTTT thiếu cái ngã thức, tức A lại da thức, mà lại đi nhận Tưởng thức làm ngã chủ tể.
Những HTTT này tụ tập với nhau, tùy ở sự chấp trước bao nhiêu, cùng trình độ, tụ tập cùng nhau tạo thành một cõi giới thấp hay cao bao nhiêu, tùy ở sự xấu xa, ác trược như thế nào của tưởng thức của chính họ. Theo thời gian, tưởng thức nhạt nhòa dần, hình tướng tưởng thức này sẽ tan biến đi, thời gian để HTTT tan nhanh hay chậm tùy theo HTTT mạnh hay yếu (ấn tượng lúc chết), nên có những trường hợp gọi hồn không lên được (đã tan biến).
Sự gia tăng dân số của địa cầu, cho thấy tất cả chúng sinh sau cái chết đều 100% luân hồi trở lại làm nguời, trở lại về nơi thế giới tướng, với tướng trạng của họ và phù hợp với duyên và nghiệp họ đã tạo tác, vài ba năm vắng mặt trên cõi vô minh dương có thể là sự trả nghiệp nơi các thế giới tướng, tướng trạng khác.
Theo các nhà nghiên cứu về reincarnation - chẳng hạn Dr. Ian Stevenson và Dr. Jim Tucker tại Đại Học Virginia (University of Virginia), đã cho biết, theo những trường hợp luân hồi đã kiểm chứng rõ được,  thì trung bình một cái chết bình thường (sinh, lão, bệnh, tử), thì khoảng dưới 8 năm sẽ luân hồi trở lại, còn những cái chết bất đắc kỳ tử thì trung bình trở lại dưới 5 năm. Vì thế nên tôi mới nói là thời gian vắng mặt trong cõi vô minh dương là thời gian đi trả nghiệp nơi tướng trạng khác là vậy.
Như vậy dân số ở cõi vô minh dương gia tăng, thì dân số ở cõi vô minh âm cũng gia tăng, và cái sống là một tiến trình giả hữu như trong kinh Kim Cang nhận định: “Ta, người, chúng sanh, thọ giả đều giả hữu”.
Rõ ràng cái sống là một tiến trình giả hữu vì nó được thành hình từ nhiều nguyên nhân, yếu tố, tập hợp lại mà thành. Không có nguyên nhân nào là chính, nên nó mới vô ngã là thế.
Cái chết với sự luân hồi trở lại, thì chết cũng chỉ là một sự kiện, một tiến trình giả hữu.
Sống, chết, đều là giả hữu. Nên những “vỏ” người với tưởng thức làm “Ngã” tụ tập với nhau cùng Nghiệp Tuớng Tưởng Thức nơi cõi thức vô minh âm lại là thật hữu được sao? (Tôi sẽ trở lại đề tài này trong lần khác, vì e bài quá dài).
Nhưng đồng thời cõi thức âm này cũng dung chứa những ngã thức (A lại da thức) còn nhiều chấp trước với đời sống cũ mà chưa thể rời cõi thức âm này, hoặc những thức này đợi đúng duyên nghiệp thì sẽ đi đầu thai vào kiếp sống mới (xin nhớ là, sự chờ đợi của thức này ở dạng thụ động, lệ thuộc vào sự “dẫn dắt” của nghiệp).
Những ngã thức chưa đi đầu thai xuất hiện vất vưởng cùng với những HTTT dầy đặc từ vô thỉ cho tới nay, mà ta gọi là cõi (Thức) âm, những nhà ngoại cảm cũng có thể tiếp xúc với những Thức còn ngã này chưa đi đầu thai.
Hiểu rõ được điều này, những thân nhân của người chết sẽ ứng xử đúng như giá trị của nó. Có nên xây mồ cao, to đẹp hay chăng? Không nên, chỉ mất thời giờ, tiền bạc vô ích, những thức hồn HTTT, “vỏ người” này chẳng thể giúp gì được cho đời sống con người cả.
Chính quyền hay những giới chức nên can thiệp vào và giải thích cho đại chúng rõ điều này, xây mồ đẹp đẽ, chỉ giữ những HTTT kẹt lâu hơn trong cõi thức âm này.
Có nên đốt vàng mã, nhà lầu xe hơi đời mới cho họ chăng? Tuyệt đối không nên, mà chỉ nên tưởng nhớ họ bằng một ly nước sạch tinh khiết, và vào dịp giỗ, tưởng niệm họ chỉ nên khuyên họ  thức tỉnh rằng tất cả chỉ là giả tướng, đừng chấp trước, nhờ vậy HTTT sẽ tan nhanh, những ngã thức chưa đi đầu thai, cũng được tỉnh ngộ và siêu thoát khỏi cõi thức âm hồn giả tướng này. (Chắc chắn ta cũng không thể biết thức hồn đã đi đầu thai rồi hay chưa, nên thủ tục tưởng niệm đơn giản giống nhau cho tiện việc).
Họ (HTTT) quanh quẩn quanh ta lệ thuộc vào ta, ta cúng giỗ họ linh đình họ cứ ở quanh ta mãi mãi, ta khuyên nhủ họ để họ tan đi thì sẽ đỡ khổ cho những HTTT này hơn.
Nếu ta không thắp nhang tưởng nhớ đến họ, thì họ lại tụ tập cùng với những HTTT khác, cùng trình độ với họ nơi cõi thức âm như đã nói.
Anh ĐL đã có xem youtube video gọi hồn cụ Đề Thám chưa? Nếu chưa, anh nên tìm xem, anh sẽ thấy sự lý giải của tôi là đúng, từ đầu đến cuối cụ chỉ ngơ ngáo nhắc tới cụ Hai Sừng nào đó (chắc là lúc bị hành hình cụ chỉ nhớ tới chuyện này). Ngã thức của cụ đã đi đầu thai, người ngoại cảm gọi hồn cụ, chỉ tiếp xúc được với HTTT của cụ, nên chỉ quanh quẩn vài ba câu mà HTTT của cụ (Tưởng) nhớ lại được.
Những nhà ngoại cảm mà anh đã tiếp xúc, có được khả năng giao tiếp này với các HTTT này, nhờ họ ở kiếp quá khứ đã hành thiền, và có đạt được một số công phu nào đó, khả năng này được cất giữ trong A lại da thức của họ, nay được kích hoạt lên, và những khả năng của họ đã được trình bày như dư luận đã biết, họ chẳng giả dối hay bịp bợm gì cả. Những nhà sư, tu thiền đạt được một trình độ nào đó của thiền cũng tiếp xúc được những cõi giới này. Sự tiếp xúc của họ, những nhà tu thiền, trọn vẹn trong sự tỉnh trí và rõ ràng.
Còn những người có khả năng tiếp xúc được với những thức này mà không do công phu tu tập thiền định từ kiếp trước, thì có thể kiếp trước họ đã từng quen thuộc với vai trò bà đồng, lên đồng, điện não đã quen thuộc với cách hạ thấp tần số để câu thông với cõi giới này, thế nên ta thấy những người lên đồng thường hay đảo vòng tròn cái đầu của họ trong một cái khăn trùm kín, đó là cách làm cho điện não xuống thấp.
Ở một giai đoạn nào đó của đời sống, trong người chúng ta mỏi mệt, bệnh hoạn kéo dài, tâm trí thần thái trở nên tiêu cực và điện não xuống thấp, ta cũng có thể thấy được lúc rõ, lúc mờ, lúc ẩn, lúc hiện các thức hồn trong cõi thức âm này.
Luân hồi là một pháp đối xứng với sinh diệt, trong đó nghiệp quả làm nền tảng cho sự luân hồi này, sự xấu tốt đều do nghiệp của chính mình tạo nên, chẳng cầu xin, cúng giỗ mà thay đổi được nghiệp quả của mình.
Thay đổi tư duy, là thay đổi hành động, thay đổi hành động là thay đổi được nghiệp quả. (Hành này mới là hành ở cõi vô minh dương).
Thế nên nhân quả, luân hồi thường và phải đi đôi với nhau.
Những kẻ tuyên bố chết là hết là những kẻ ngu tối, chúng ta nên khuyên họ hãy học những pháp căn bản của Phật Pháp và phải hành thiền nghiêm ngặt, đứng đắn thì mới có trí tuệ, khả năng nhận xét về vấn đề luân hồi. Tôi đọc ông Đại Tá, Tiến Sĩ Đỗ Kiên Cường viết về luân hồi mà phì cười, ông này không những đã mâu thuẫn mà còn liều mạng nữa. Ông ta tin vào những lý giải của mấy ông Tây và dùng nó như kiến thức để giải thích một vấn đề phức tạp, sâu xa như luân hồi thì ông ta chỉ hại chính ông ta mà thôi, những lý giải sai lạc với pháp chân chính sẽ vận vào thức của ông ta ở kiếp lai sinh, sẽ khiến cho ông ta thiếu trí tuệ, vì ở kiếp này ông ta đã xiểm dương những điều sai lạc cho người đọc. Bao nhiêu người đọc tin vào ông ta thì bấy nhiêu tiêu cực vận vào trí tuệ của ông ta ở kiếp kế tiếp.
Đó chính là nhân quả vậy.
Nếu anh có dịp gặp lại anh ta, (xin anh tha lỗi cho đề nghị này, chỉ vì có lần tôi đọc blog của anh, thấy anh có nói chuyện với ông Tiến Sĩ Đại Tá này), thì xin anh giúp tôi, công đức anh vô lượng đó, xin khuyên anh ta, hãy loại hết những bài vô giá trị của anh ta viết về luân hồi, với những từ vô nghĩa như: hiệu ứng Hans, hoặc đa nhân cách v.v…
Nội cụm chữ “đa nhân cách”, anh ta đã tự mâu thuẫn khi phản đối luân hồi rồi.
Còn khoa học, kỹ thuật, triết học, tôn giáo huyễn độc thần, huyễn đa thần (Tôi không bao gồm những thần được đề cập tới của các thiền giả Phật giáo, được nêu lên trong cái thấy từ trí tuệ thiền định, tức tâm rỗng lặng hồn nhiên, nhưng những người này dù có thấy, họ cũng ít khi đề cập tới) là đều phát xuất từ thức, tức tâm sinh diệt mà ra.
Những pháp hữu vi đó, sau biến thể, để thành một thành phần của tâm sinh sinh diệt diệt. Kiến thức cũng chỉ là thành quả từ sự suy tưởng hữu vi sinh diệt, chứ chưa phải là trí tuệ từ thiền định.
Thế nên ta thấy khoa học, triết học, tôn giáo huyễn thần đều bất lực để giải thích ngọn ngành rõ rệt trước những vấn đề phi hữu như luân hồi, thần thông, cõi thức âm v..v...
Và khoa học chỉ ngưng ở big bang là hợp lý, muốn đi xa hơn big bang và thấu triệt được những vấn đề phi hữu nêu trên và cái sống trước big bang thì phải có trí tuệ từ thiền định, trí tuệ từ kiến tánh vô sanh. Đúng như lời tuyên bố của học giả Egerton C. Baptist (1915-1983) tuyên bố: “Phật giáo bắt đầu ở chỗ khoa học chấm dứt”.
Câu Ba Cõi Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức là câu nói đầy trí tuệ, chính xác từ Cổ Đức.
Bài đã hơi dài, hy vọng sự lý giải thô thiển của tôi sẽ tạo được sự đồng cảm từ anh và anh sẽ đồng ý với tôi những giá trị thật của vấn đề gọi là gọi hồn, ngoại cảm hiện thời.  
Thân chào anh và xin anh cho xuất hiện trên trang Blog DongLa để tôi có thể gieo duyên dần với độc giả của anh, và cũng hy vọng tôi sẽ đóng góp được một pháp lành vào việc giải thích những chuyện về gọi hồn, ngoại cảm trên diễn đàn, trên dư luận bấy lâu nay, cám ơn anh rất nhiều.

                                                       Trần Ngẫu Hồ