Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2025

VĂN BẢO NINH KHÔNG HAY

 VĂN BẢO NINH KHÔNG HAY




Cộng đồng những người có lương tri hiện đang gọi NBCT của Bảo Ninh là “rác phẩm”, nhưng cũng có những người trong lĩnh vực văn chương khen NBCT nhiều kiểu, trong đó có “văn hay”. Có những ý cho rằng người công kích BN do không hiểu văn chương, tức đọc văn BN như đàn gảy tai trâu. Vậy hôm nay cuối tuần tôi giải trí văn chương bằng cách chứng tỏ văn BN không hay.
Hai người “có công” đầu nặn ra “Nhà Văn BN” chính là Nguyên Ngọc và Hoàng Ngọc Hiến. BN viết NBCT là “đề tài tốt nghiệp” của trường “ Đại học Viết văn Nguyễn Du” mà theo NN kể, khi về “làm Đảng đoàn ở Hội Nhà văn” NN đã trả lời Trần Độ một trong hai kế hoạch chủ yếu của mình là “làm Trường Viết văn Nguyễn Du”, với Hiệu trưởng là Hoàng Ngọc Hiến. “Luận văn” NBCT của BN đã thỏa mãn khuynh hướng lật sử, trở cờ, phản trắc của người Sáng lập trường là Nguyên Ngọc và khuynh hướng chống đối, nổi loạn của Hiệu trưởng Hoàng Ngọc Hiến. Đặc biệt, BN viết NBCT theo tinh thần của “chủ nghĩa trái Đạo” của HNH mà ông ta là người đã phủ nhận và diễu cợt văn học VN, cho là thứ “Văn học phải đạo”. Chuyện này tôi viết sau, hôm nay cuối tuần, tôi bàn chút chuyện người ta khen văn chương BN.
***
Nguyên Ngọc viết: “Bảo Ninh là người viết quá hay, từ trong máu của mình anh biết tỷ trọng tinh vi của từng từ hiện ra trên mặt giấy, và cũng tự trong máu anh biết khi từ này đứng cạnh từ kia được chọn đến tinh vi tối đa thì hiệu ứng tạo nên sẽ rung lên như thế nào trong tâm hồn người đọc. “Chẳng phải ngẫu nhiên mà anh là con trai của ông Hoàng Tuệ, người cống hiến cả đời mình cho tiếng Việt”, Phạm Ngọc Tiến, bạn thân của Bảo Ninh viết”. Cụ thể Phạm Ngọc Tiến viết: “Văn phong của Bảo Ninh được thừa hưởng từ nền tảng ngôn ngữ của người cha… Bảo Ninh thực sự là tác phẩm đời, tác phẩm xuất sắc của người chọn chữ Hoàng Tuệ. Ai đã đọc Bảo Ninh nếu chấp nhận được văn phong của anh hẳn sẽ thấy một năng lực chữ nghĩa dồi dào như mạch chảy ào ạt của sông suối. Văn Bảo Ninh giầu hình ảnh, trầm buồn, uyển chuyển, lắt léo, bất ngờ nhưng rất thực rất đời. Chữ nghĩa của Bảo Ninh cầu kỳ nhưng lại rất chính xác và đặc biệt ngập tràn cảm xúc”.
Theo tôi tầm thẩm văn của Nguyên Ngọc và Tiến như vậy là thấp, vì văn BN chỉ miêu tả, kể lể như ngôn ngữ thông thường, không có gì độc đáo, sáng tạo, riêng của BN, nên “không hay”. Đang xem Phim “Lằn ranh” và coi lại “Sinh tử” mà Tiến làm biên kịch tôi thấy được, không biết văn bản văn học của Tiến thế nào, nhưng có thể nói phản ánh của Tiến là “đổi mới văn chương” vì theo được dòng thời cuộc, chứ không phải là cái mới lộn ngược như văn BN. Tiếc là Tiến thẩm văn BN như trên thì tùy tiện, cảm tính, sai toét.
***
Tôi phải kỳ công tìm kiếm trên mạng xem GS Hoàng Tuệ, cha BN, viết gì về ngôn ngữ văn chương. Tìm mãi thì thấy một bài chắc tiêu biểu lắm nên trang web của HNVVN mới chọn đăng. Tôi thấy Hoàng Tuệ rất kỳ công, rất hàn lâm phân tích hai câu thơ của Tú Xương:

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.

Hai câu thể hiện ý người vợ tần tảo nuôi chồng con ai đọc cũng hiểu, nhưng Hoàng Tuệ đã dùng dao mổ trâu giết gà, mang cả phạm trù không gian thời gian, Triết học Mác-Lê ra bình hai câu thơ đơn giản trên, chắc mấy cô bán rau muống đọc sẽ thấy cao siêu lắm, còn với những nhà sáng tác thông thái thì thấy không có gì độc đáo, cao xa về tri thức ngôn ngữ cả.
Vậy ngôn ngữ văn chương thế nào là sáng tạo, độc đáo, là hay?
***
Tôi chính thức sáng tác văn chương vào tháng 9-1982 mà người mở cánh cửa văn chương chính là Nhà thơ Anh Thơ, người bằng tuổi mẹ tôi (sinh năm 1920) từng được Giải thưởng của Tự lực Văn đoàn với Tập thơ “Bức tranh quê”, sau này cô chính là người phụ nữ đầu tiên được Giải HCM về văn chương. Sau đó, cô đã giới thiệu để tôi đến với Chế Lan Viên, và chính sự ưu ái và quan tâm của một nhà thơ lớn, hàng đầu VN như ông đã là động lực để tôi dấn thân vào con đường văn chương.
Hồi ấy, dư luận xôn xao về Truyện ngắn “Có một đêm như thế” được Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1981 - 1982 mà tác giả là Phạm Thị Minh Thư, sinh năm 1956 cùng lứa tôi, cùng học khoa học tự nhiên như tôi, khoa Toán - Lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Không biết người ta thấy cái truyện ngắn hay như thế nào còn tôi thì nhớ mãi một câu văn, sau này trở thành một nhà LLPB thì tôi biết do nó độc đáo, sáng tạo, chưa ai viết, tức là hay. Phạm thị Minh Thư đã viết trong truyện ngắn:
“…Vầng trăng như nhòe đi. Tiếng Miên khẽ khàng. - Có điều trăng thượng huyền mà sao to và nặng, lại còn màu đỏ nữa... Tưởng như có một mặt trời được kéo ngược từ phía hoàng hôn trở về”.
Sau khi gặp cô Anh Thơ ít lâu, cô đã tặng tôi một tuyển tập thơ mà tôi thấy có mấy bài thơ tình của CLV và Xuân Diệu hay quá. Thì ra thơ CLV không chỉ ca ngợi Đảng, Bác, căm thù Mỹ Ngụy, loại “văn chương phải Đạo” như HNH diễu cợt mà CLV còn có những bài thơ tình tuyệt vời. Trong bài “Tình ca ban mai”, CLV viết:

Em đi như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về tựa mai về
Rừng non xanh lộc biếc

Đặc biệt tôi rất thích bài thơ 4 câu này của ông:

Cái rét đầu mùa anh rét xa em
Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa
Một đắp cho em ở vùng sóng bể
Một đắp cho mình ở phía không em

Còn Xuân Diệu, thú thực tôi không thích lắm thơ tình thời tiền chiến của ông, nhưng tôi lại rất thích bài “Biển” trong tuyển tập thơ đó, trong đó XD viết:

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt...

Trong một cuốn phê bình tiểu luận của CLV, tôi đã tò mò đọc xem CLV bình thơ XD như thế nào? CLV đã chọn 2 câu thơ độc đáo tiêu biểu của XD thì tôi thấy CLV đúng là tinh thật và ngôn ngữ thơ của XD đúng là hay thật:

Đêm hóa bếp hồng em chụm thổi
Ngày thành lụa tuyết để em thêu

Nói chung, cái hay của ngôn ngữ văn chương có hai điều chính, thứ nhất là chứa đựng ý tứ sâu xa, thứ hai là ngôn ngữ độc đáo, chỉ tác giả mới viết ra được. Với văn chương thế giới, với tiểu thuyết lừng danh của Doxtoievxki viết về chuyện giết người vừa tàn ác vừa lạ lùng, nhưng tôi lại luôn nhớ câu nhân vật chính Raskolnikov nói khi lạy cô gái điếm Sonya:

"Không phải tôi cúi lạy em mà tôi cúi lạy trước sự thống khổ của loài người"

Câu văn này không hay ở chỗ ngôn ngữ giầu hình ảnh, độc đáo, mà ở chỗ nó hàm nghĩa sâu xa chứa đựng tầm tư tưởng của Nhà Văn được coi là vĩ đại Doxtoievxki.

Một nhà văn khác tôi cũng nhớ là Pauxtovxki với cuốn “Bông hồng vàng”. Ông có đoạn văn rất hay khi viết về nghề văn:

Nghề văn là sứ mệnh… Từ "sứ mệnh" có chung một gốc với từ "tiếng gọi". Không ai hô hào con người đi làm chuyện vặt. Người ta chỉ kêu gọi con người làm tròn bổn phận và thực hiện những nhiệm vụ khó khăn. Vậy thì cái gì thôi thúc nhà văn đến với cái lao động tuyệt mỹ nhưng đôi khi cay cực kia? Trước tiên là tiếng gọi của trái tim. Tiếng gọi của lương tâm và lòng tin ở tương lai không cho phép nhà văn đích thực sống trên trái đất như một bông hoa điếc và không truyền đạt hết mình cho đồng loại tất cả cái phong phú của tư tưởng và tình cảm đang tràn ngập chính tâm hồn nhà văn”.

Pauxtovxki cũng cũng có nhiều trang văn tả cảnh tuyệt vời, tôi nhớ nhất những câu ông viết chuyện một nhà thám hiểm đã phát hiện ra Florida:

“ Đất nước ấy long lanh như một dải thắt lưng bằng kim cương mà nữ thần trinh bạch của trời và ánh sáng đã bỏ quên trên bờ biển”.
***
Còn tôi cũng là nhà văn, tôi viết thế nào? Tôi có thể tự tin viết mình là “của lạ”. Ngoài học văn sơ sài ở phổ thông, được điểm trung bình là may, ngoài hai câu, một của Anh Thơ “Thơ bây giờ phải thực, phải tình cảm, phải sâu sắc, và đặc biệt là không được giống ai”; một của CLV “Khi nào nảy ra một câu hay, tôi phải chép ngay không thì quên mất, khi cần sẽ dùng”, tôi không học một ai, một giây nào, nhưng tôi lại viết LLPB có những ông GS văn chương cả “cấp tiến” lẫn bị cho là “bảo thủ” nể phục, như Trần Đình Sử, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm. Ông Trần Đình Sử từng có thời gian dài thân thiết với tôi như NQT, lúc đầu ông bảo nhiều học trò ông là TS nhưng không bằng tôi, sau thì ông viết rõ “nể phục tôi”, riêng bài tôi viết về Lê Đạt có liên quan Vậy lý Lý thuyết thì ông bảo “mù tịt”. GS Mai Quốc Liên một lần nói với tôi: “Tôi rất phục ông bài viết về Huệ Chi”. GS Trần Thanh Đạm không nói nể phục mà ông nói tự hào khi tôi nhờ ông giới thiệu tôi vào HNV VN: “Tôi rất tự hào được là người giới thiệu người như Đông La vào HNV VN”.

Về sáng tác, CLV lần đầu đọc chùm thơ đầu tay của tôi ông cho giải thưởng luôn vì ông đang chấm thi. Nguyễn Khải một lần đọc Truyện ngắn “Lễ tưởng niệm” của tôi ông bảo cả đời viết may ra viết được vài cái như thế này; lần hai ông đọc tập truyện thiếu nhi của tôi ông bảo đọc đi lại phải đọc lại. Tôi có thể tự tin trích dẫn một đoạn văn khi nhớ về LX trong Truyện ngắn “Bài toán” của tôi từng đăng trên Báo Văn nghệ (HNV VN) nhiều người thích và được dựa vào dựng phim:

“Anh thích ngắm dòng sông cuộn chảy. Nó như một hình ảnh tượng trưng của cuộc đời. Dòng sông, dòng đời luôn miên man trôi, đầy sôi động và bí ẩn. Sài Gòn đã lên đèn, thật rực rỡ! Đã sống ở đây hai mươi năm nhưng nhiều lúc anh vẫn ngỡ ngàng vì nó. Anh bỗng nhớ đến một thành phố khác cũng tuyệt đẹp, nơi anh từng có gần một năm sinh sống, nơi mà vừa đặt chân tới, người ta đã bảo bọn anh có một vinh dự là được đến một trong những thành phố đẹp nhất thế giới: Leningrat-Saint Perterburg. Lẽ ra anh còn ở nơi ấy nhiều năm và còn có thể kiếm được nhiều tiền nữa. Phải từ biệt nó trong những ngày hè ấm áp rực rỡ của phương Bắc, với những đêm trắng trong vắt, tuyệt vời, anh rất tiếc. Giờ đây, khi ngồi trước dòng sông đầy lăn tăn sóng này, đầy ánh sáng được hắt xuống từ những bảng quảng cáo khổng lồ, đủ sắc mầu rực rỡ kia, anh vẫn còn nhớ như in những lúc đi qua những khoảnh rừng phong, dưới bóng chiều tà, mà thời gian cứ mãi chiều tà như vậy, ngước nhìn những chiếc lá non mỏng manh như làm bằng thủy tinh mầu xanh vàng, ướt đẫm ánh nắng; triệu triệu những chấm sáng nhấp nhánh như những hạt kim cương thêu trên dòng Nhê-va, rải trên Cung điện Mùa Đông, trên vòm vàng Đại Giáo đường Ixaakievxki...”

Về thơ, một lần con gái tôi hồi còn nhỏ mới biết đọc, nó đã thì thầm vào tai tôi:
“Ba ơi ba:
Anh như con thuyền lênh đênh sóng nước
Nghiêng bên nào cũng chạm phải cô đơn”.

Tôi giật mình vì là hai câu trong bài thơ dài của tôi bị tôi vò bỏ đi. Hai câu làm cô bé mới biết đọc thích nghĩa là đã chạm vào bản năng thích cái hay của loài người. Tôi đã lấy lại hai câu thơ làm thành bài 4 câu đăng dịp Tết:

Ngày đầu năm lòng chợt thấy rỗng không
Em bỏ đi đâu trong ba ngày Tết
Anh như con thuyền lênh đênh sóng nước
Nghiêng bên nào cũng chạm phải cô đơn.

Một lần chở Nhà Văn Nguyễn Bản, tôi hứng chí đọc, NB hỏi: “Thơ ai mà hay thế?”. “Thơ em đấy”. Lần khác, Nhà LLPB Đại tá Hồng Diệu gọi điện thoại: “Thơ chú mày bất tử rồi vì anh đưa bài “cô đơn” vào Từ điển”.

Cũng hồi ở Leningrat, LX, một chiều ra công viên bên “ob” thấy một cô bé mặc áo bông tròn như cái kẹo trượt tuyết trên cầu trượt, tôi nhớ đứa con gái mới 1 tuổi (chính là cô bé nhắc ở đoạn trên), nhưng lại viết 4 câu thành “nhớ em”:

Anh xa em gần nửa vòng Trái Đất
Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa Cầu
Lúc anh thức là khi em ngủ
Có bao giờ nhớ và nhớ trùng nhau?

Bài thơ đăng lên cũng có nhiều cô thích, đã hỏi mượn tôi để gởi cho người yêu ở nước ngoài.
***
Tóm lại, với tiêu chí ngôn ngữ của tôi như trên thì văn của BN trong NBCT không có câu nào sáng tạo, độc đáo, tức không hay.

28-12-2025
ĐÔNG LA

ĐÔI NÉT VỀ NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU LÀM NÊN CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI, “TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

 ĐÔI NÉT VỀ NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU LÀM NÊN CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI, “TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”




Tôi sẽ còn viết một bài về chuyện "những đứa" là nhà văn, nhà LLPB, GS, PGS, TS, thầy giáo văn chương đã biến văn chương thành nơi ẩn núp của sự xuyên tạc, bất nhân, thất đức, xúc phạm danh dự những chiến sĩ QĐNDVN của Bảo Ninh, tức đã phạm pháp. Nhưng hôm nay tôi đăng lại bài dưới đây.
Vào những ngày này, cách nay hơn nửa thế kỷ, tôi vừa học xong cấp III, đã khám nghĩa vụ quân sự, chuẩn bị lên đường nhập ngũ. Thời điểm này cũng chính là thời điểm mà Mỹ thực hiện Chiến dịch Linebacker II dùng B-52 ném bom “trải thảm” xuống Thủ đô Hà Nội và các thành phố khác ở Miền Bắc liên tục trong 12 ngày đêm, một cuộc ném bom dữ dội nhất trong toàn bộ lịch sử các cuộc chiến tranh.
Ngày ngày, đứng ở bụi tre rìa làng, tôi thấy cả khoảng trời trước mặt luôn dầy đặc một lũ quạ sắt, có chiếc mũi đen sì quặp xuống như mỏ diều hâu… Cả không gian thanh bình luôn bị xé rách toạc bởi những tiếng gầm rú. Đêm đêm, phía thủ đô Hà Nội, trong tiếng bom gầm, những quầng lửa cao ngút trời, mặt đất rùng rùng chuyển động.
Trong toàn cuộc Kháng chiến chống Mỹ, đỉnh cao của sự đối đầu Việt - Mỹ chính là Chiến dịch Linebacker II đó, và chiến thắng đã thuộc về Việt Nam. Dần dần, những bí mật quân sự được công bố đã khiến cho tất cả người VN ai có lương tri cũng đều phải dâng lên niềm xúc động và tự hào. Chúng ta đã chiến thắng không chỉ bằng ý chí, bằng máu mà còn bằng cả trí thông minh tuyệt vời nữa. Vì vậy, hôm nay, càng căm giận bọn bất lương vì những mục đích khác nhau, chúng lại muốn nhuộm đen máu những người anh hùng, muốn nhuộm đen những trang sử vàng chói lọi của dân tộc; chúng chính là bọn cơ hội, đón gió, trở cờ, phản trắc, đã tìm mọi cách “chiêu hồi bên thua cuộc”. Thật kỳ lạ, sao có thời cha, anh chúng ta lại giỏi giang, đức độ và anh hùng đến vậy, nhưng tại sao chính họ lại sinh ra lớp con cháu hôm nay lắm kẻ bất tài, thất đức, chỉ giỏi luồn lách để có quyền chức, để rồi vô trách nhiệm, để rồi ăn cắp cả tiền bạc lẫn danh vọng, đẩy đất nước đến “nguy cơ tồn vong”. Trong đám nhà văn, Bảo Ninh đã viết cuốn “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, cho cuộc kháng chiến vĩ đại là “nỗi buồn”; Nguyễn Huy Thiệp, bên cạnh tác phẩm bôi đen cả anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, lần sang Thụy Điển, đã thật láo xược khi trả lời phóng viên nước ngoài: “Thế hệ tôi nôn mửa vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”. Vậy mà, với sự đề cử của đám lãnh đạo Hội Nhà Văn VN bất lương như Nguyễn Quang Thiều, được bọn bất tài thất đức, đứng đầu là Trần Nho Thìn, xét duyệt, Nguyễn Huy Thiệp đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật; và nóng nhất, NBCT của Bảo Ninh được một Hội đồng bình chọn là một trong những tác phẩm tiêu biểu từ sau ngày giải phóng, khiến những người có lương tri cả nước nổi giận, mới nhất, 23-12-2025, Hội CCBVN đã đánh công văn gởi các nơi. Tôi đã viết, BN viết NBCT xuyên tạc sự thật, xúc phạm những chiến sĩ QĐNDVN là phạm pháp, Hội đồng bình chọn, trong đó có Nguyễn Quang Thiều và Trần Đăng Khoa, cũng phạm pháp vì không tuân theo Quy chế bình chọn của Quyết định số 1350/QĐ-BVHTTDL.
Hôm nay, nhân những ngày mà trận “Điện Biên Phủ trên không” đã diễn ra, tôi muốn nhắc lại đôi nét về những điều kỳ diệu đã làm nên chiến công vĩ đại, đồng thời chúng cũng như những cái tát vả vào mặt lũ bất tài, thất đức, lưu manh!

25-12-2025
ĐÔNG LA

Trước hết, chiến thắng trên bầu trời Hà Nội năm nào chính là kết quả của tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ. 1967, Bác đã nói với Tướng Phùng Thế Tài, Phó Tổng tham mưu trưởng: “Sớm muộn gì, Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Chú phải nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Thủ đô Bình Nhưỡng. Chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”. Trước đó, 1962, Bác cũng đã nói với ông Phùng Thế Tài: “B52 bay cao hơn 10 km mà trong tay chú chỉ có cao xạ thôi” và nói với ông Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu cách đánh B52. Ngày 7-2-1965, nhân dịp ông Kô-xư-ghin thăm nước ta, Bác đã yêu cầu Liên Xô giúp ta xây dựng lực lượng tên lửa phòng không. Cuối năm 1966, Mỹ bắt đầu dùng B52 đánh phá ác liệt vào Vĩnh Linh, Trung đoàn tên lửa 238 đã vào Quảng Bình để nghiên cứu cách đánh máy bay B52, tuân theo lời dạy của Bác: “Có vào hang cọp mới bắt được cọp”.
Một tờ báo Mỹ đã gọi Chiến dịch Linebacker II là cuộc "Chiến tranh điện tử” mà phần thắng đã thuộc về VN. Có những khái niệm lạ lùng lần đầu ta được nghe như “trinh sát nhiễu”, “vạch nhiễu”, “phương pháp bắn 3 điểm”, “bắn đón nửa góc”, v.v… Trung tướng Phan Thu, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên chỉ huy Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu, kể lại: “Trong suốt thời gian hoạt động trinh sát, chúng tôi không thu được nhiễu 3cm của địch. Như vậy, B-52 chưa gây nhiễu dải sóng 3cm đối với các loại radar phòng không". Một công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: ghép phần tử mục tiêu của radar K8-60 làm việc ở dải sóng 3cm với đài điều khiển SAM-2. Đại tá Nguyễn Ngọc Lạc, hồi đó là Thượng úy Kỹ sư của Cục Quân khí, một chứng nhân, từng trực tiếp sửa chữa và đề xuất thử nghiệm và cho kết quả ra-đa K-860 với băng sóng 3cm đã xác định mục tiêu tốt, đã góp phần trong việc bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.
Điều kỳ diệu tiếp là việc bộ đội phòng không của ta đã hóa giải được tên lửa “không đối đất” Shrike của Mỹ. Tên lửa này có thể tìm và “bắt” được mục tiêu theo sóng ra-đa, chuyên dùng để phá hủy các hệ thống phòng không đối phương. Tại Trung Đông, hàng chục hệ thống tên lửa phòng không của Khối Ả Rập từng bị loại tên lửa này phá hủy. Bộ đội ta đã vô hiệu hóa bằng cách phát sóng tức thì, tắt máy đột ngột và quay ngay đài ăng-ten đi hướng khác, tên lửa Shrike đã “bị điều khiển” chệch khỏi mục tiêu!
Tiếp nữa, có thời điểm, bộ đội tên lửa phóng tên lửa nhưng tên lửa không bay thẳng tới máy bay mà quay đầu rơi xuống đất, có khi thành bom rơi xuống nhà dân. Chính bộ đội ta đã phân tích và biết tên lửa rơi là do phía Mỹ đã biết tần số của sóng điện từ dẫn tên lửa tới mục tiêu, nên họ đã chế thiết bị gây nhiễu. Vì vậy phía ta buộc phải thay đổi toàn bộ các linh kiện để thay đổi tần số dẫn bắn đó. Nhưng đây là vấn đề bí mật quốc gia, mọi thay đổi phải được phép của lãnh đạo Liên Xô. Theo Đại tá Nguyễn Thuỵ Anh, trong phim tài liệu “Vạch nhiễu tìm thù”: “Những người đại diện tập đoàn tên lửa không đồng ý cho mở cái khối điều khiển vô tuyến… Lúc bấy giờ đ/c Đại sứ LX ở VN đã rất quyết đoán, đ/c nói: “Có gì là bí mật nữa vì người Mỹ đã phát hiện ra rồi, đã gây nhiễu đánh chúng ta thì bây giờ chúng ta phải mở ra và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều này”. Quyết định quan trọng này đã giúp bộ đội tên lửa ta bắn B52 “rụng như sung” trong vụ tập kích chiến lược vào Hà Nội sau đó. Có điều bất ngờ và thú vị là vị đại sứ đó chính là Ilya Sherbakov, với quyết định đó ông đúng là một đại ân nhân của dân VN, nhưng có những thông tin không chính thống và đủ thứ suy diễn, ông là trùm tình báo của LX mà vụ án gián điệp chống Đảng ở ta có liên quan đến ông. Ngay vị đại tướng lừng danh Võ Nguyên Giáp cũng bị tai tiếng không ít. Nhưng tôi thấy hơi buồn cười là, trước nay người ta chỉ thấy làm gián điệp cho quân địch chứ làm gì có chuyện làm gián điệp cho người “anh em”? làm gián điệp cho đại ân nhân cứu giúp chúng ta?



Cuối cùng để giành chiến thắng không thể không nhắc đến chiến công của các cán bộ tình báo quân sự đã phải ngày đêm theo dõi mọi động thái của địch. Đại tá Trần Văn Tụng, từng thuộc Trung đoàn Trinh sát Kỹ thuật, Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng kể lại, vào những năm 60, ông là 1 trong 10 sinh viên của trường ngoại giao được tuyển vào Cục 2. Ông cho biết lúc đầu chúng ta chưa biết cách làm thế nào để có tin cụ thể. Sau những mày mò, phán đoán từ các thông tin trinh sát có được, đơn vị của ông dần dần đã hình thành được nhiều bộ giải mã tin, từ đó dự đoán chính xác thời gian, địa điểm, số lượng máy bay Mỹ sẽ tham chiến. Chính vì thế, chiều 18-12-1972, Đại tá Phan Mạc Lâm, người được mệnh danh là đã “lập hồ sơ B-52”, khi Tướng Phùng Thế Tài hỏi:
- Này cậu, B-52 đến đâu rồi?
Ông mới có thể khẳng định:
- Giữa đường rồi, thưa Thủ trưởng - có cả hướng Gu-am và Thái Lan.
Như vậy chúng ta hoàn toàn sẵn sàng chủ động đón đánh địch, đã sơ tán hàng chục vạn dân tới nơi an toàn trước trận đánh. Và chỉ có như thế chúng ta mới làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không”, giành thắng lợi hoàn toàn.
***
Với tinh thần của Bác: “…chúng tôi phải được yên ổn. Chúng tôi không muốn trở thành người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mỹ cút đi! Gút-bai!” Và theo lời dậy của Người: “Chúng ta căm thù Đế quốc Mỹ xâm lược nhưng không được căm thù nhân dân Mỹ”, sau ngày toàn thắng, chúng ta chủ trương "khép lại quá khứ, hướng đến tương lai", và đã có được một thành tựu ngoại giao quan trọng, mở ra một thời kỳ mới dựng xây đất nước. Nước ta trở thành nơi đúng như một câu thơ của tôi trong bài TỔ QUỐC-NỬA BÀN CHÂN DÍNH BÙN VÀ MÁU:
Một đất nước đến những người từng là kẻ thù cũng đem lòng yêu mến
Ngày 15 tháng 7 năm 1995, TT Clinton tuyên bố thiết lập bang giao đầy đủ với Việt Nam. Năm 2000, ông cùng với vợ con thăm Việt Nam. Trong bài Binh-thuong-hoa-quan-he-Viet-My, ông nói: “Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ là thời khắc tuyệt vời trong nhiệm kỳ của tôi”; “Việt Nam là đất nước có vị trí đặc biệt trong trái tim tôi”.



Ngày 6-12-2006, ông đã nói với Chủ tịch Nguyễn Minh Triết: “Sáu mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Roosevelt đã muốn hai nước Việt - Mỹ thật sự là bạn. Quá trình này đã có những bước gập ghềnh. Tuy nhiên, tôi vô cùng hạnh phúc chứng kiến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước mà đáng lẽ phải có từ cách đây 60 năm”.

19-12-2022
ĐÔNG LA

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

“MƯA ĐỎ” KHÁC “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”, HƯ CẤU TÔN TRỌNG SỰ THẬT KHÁC XUYÊN TẠC SỰ THẬT

“MƯA ĐỎ” KHÁC “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”, HƯ CẤU TÔN TRỌNG SỰ THẬT KHÁC XUYÊN TẠC SỰ THẬT




Tôi tính không xem “Mưa đỏ” sợ thấy những điều không hay buộc phải lên tiếng sẽ làm phật lòng rất nhiều fan của “Mưa đỏ” và đặc biệt là “sư huynh” Chu Lai, biên kịch phim. Tôi gọi anh “sư huynh” vì 1975, anh từng cùng đơn vị tôi (E5, Quân khu Miền Đông (QK7) bây giờ). Qua nữ ĐTBS Văn Khoa, tôi và anh Chu Lai lại mới kết bạn fb. Nhưng VTV3 lại chiếu “Mưa đỏ” thì gần như tôi buộc phải coi. Xem xong thật mừng vì điều tồi tệ không xảy ra, dù rằng phim vẫn có những điều mà một số CCB góp ý và tôi cũng thấy có mấy điều chưa được hay, nhưng là thuộc về tay nghề, tầm tri thức của những người làm phim chứ không phải do nhân cách, đạo đức gây ra những sai phạm như Bảo Ninh viết NBCT. “Mưa đỏ” cũng hư cấu nhưng tôn trọng sự thật, chứ không phải như BN viết xuyên tạc sự thật.
Xem thành phần làm phim “Mưa đỏ” thấy đúng là cả nước đã ra trận trên mặt trận Văn hóa Nghệ thuật. Chỉ đạo nội dung là Quân Ủy Trung Ương, gồm những vị lãnh đạo cao nhất nước.
Đầu phim có cảnh hai mẹ con nhân vật chính Cường (Nhật Hoàng) gặp nhau. Người mẹ nói:
-Con cứ định như thế mà đi không chào mẹ à. Học viện Traicopxki ở bên kia đang chờ đợi con.
Cường trả lời mẹ:
- Cả nước đang tổng động viên tất cả ra mặt trận. Bạn bè của con đi cả rồi, một mình con ở lại làm sao đành.
Câu thoại này của “Mưa đỏ” đối nghịch hoàn toàn với câu dặn dò của cha nhân vật Kiên trong NBCT: “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ…, mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy” (Nỗi buồn chiến tranh, nxb Hội nhà văn, 1991, tr. 61).
Câu thoại của Cường trong “Mưa đỏ” đã phản ánh đúng sự thật, cái không khí lên đường nhập ngũ của thanh niên Miền Bắc hồi ấy, trong đó có chính tôi (Đông La). Còn câu trên trong NBCT là câu được viết ra bởi một tâm địa phản trắc. Nếu sự thực ở Miền Bắc hồi ấy có người cha dặn con trước khi lên đường nhập ngũ “đừng ngu mà chết vì lý tưởng” như thế thì chỉ là cá biệt, tác giả có lương tri nếu viết ra phải có thái độ phê phán, ngược lại BN viết ra là có chủ đích bôi đen đội quân anh hùng, cùng với một chuỗi những hành động xấu xa khác: trốn chạy, hiếp dâm tập thể, hành lạc bầy đàn, v.v…
Sáng tác văn chương nghệ thuật là phản ánh, tái hiện hiện thực chứ không phải chụp ảnh sự thật. Vì vậy văn chương có đặc ân, có quyền hư cấu để văn chương cuốn hút hơn, có sức mạnh hơn, có giá trị hơn. Viết về cái tốt đẹp sẽ tốt đẹp hơn, viết về cái xấu để hướng người đọc đến cái tốt, viết về cái ác để hướng đến cái thiện, nhưng hư cấu phải giữ được bản chất hiện thực, không được xuyên tạc sự thật. Vậy hư cấu là gì? Trong “Mưa đỏ”, chiến sĩ Cường (Đỗ Nhật Hoàng) yêu cô y tá kiêm lái đò Hồng (Hạ Anh) dựa trên nguyên mẫu cô du kích Nguyễn Thị Thu chính là chuyện hư cấu. Nó ca ngợi tình yêu, tình người, trên nền tảng những điều tốt đẹp, cao cả, đó là sự hy sinh vì đất nước, vì sự chính nghĩa và giá trị của cuộc kháng chiến. Còn trong NBCT, viết bộ đội hiếp dâm tập thể trên tầu, hành lạc bầy đàn giữa phân đội trinh sát với 3 cô gái trong khu trại tăng gia huyện đội, tàn sát tù binh, v.v… thì BN đã xuyên tạc sự thật, bôi đen, xúc phạm danh dự các chiến sĩ Quân đội NDVN, đã thực sự phạm pháp.
***
Tôi đi bộ đội cuối 1972, tính tháng mới 17 tuổi rưỡi, chỉ ở chiến trường Miền Đông NB một năm rưỡi nhưng gần như đã chứng kiến và trải qua hầu hết những gian khổ, ác liệt, hy sinh đã được tái hiện trên Phim “Mưa đỏ”. Cám ơn sư huynh Chu Lai và ĐD Đặng Thái Huyền cùng ê kíp đã cho tôi sống lại cái khoảng thời gian máu lửa cùng đồng đội mình. Trong phim có cảnh moi hầm bị sập thì tôi cùng đồng đội, trong đó có anh Lộc y tá, nay là bạn facebooker Thạch Tùng Phong, cũng moi hầm bị sập trong trận đánh ở Ấp La Ngà bên cầu La Ngà. Dưới hầm là 3 đồng đội Khuê, Thinh, Khu. Khu là người cùng xã tôi. Trong phim thì là bùn đen, còn chúng tôi moi hầm là đất đỏ, trộn với máu đỏ nhòe nhoẹt chảy ra từ vết thương ở đầu Khuê. Sau đó Khuê còn sống, còn Khu, Thinh đã hy sinh. Trận đánh có chuyện bộ đội đặc công dùng 6 tạ bộc phá giật đổ Cầu La Ngà (không sập), không biết lúc đó anh Chu Lai là đặc công đã về đơn vị tôi chưa, và có tham gia trận đó không? Trong phim có chuyện cưa chân thương binh không thuốc tê thì hôm tôi bị sốt rét đi bệnh xá bên Sông La Ngà cũng tận mắt chứng kiến các BS đã phẫu thuật vết thương ở xương ống chân của Hậu, chính là người đã vác xác Khu trong trận La Ngà về cứ. Hậu dân Nghệ-Tĩnh cũng anh hùng bảo: “Em đau lắm, nhưng chịu được, các BS cứ mổ cho em”. Đến nửa đêm hôm đó thì Hậu mất. Trong phim có chuyện ăn rắn sống thì chính tôi cũng đói quá, đã vặt rau lang sống ăn trong đêm, rồi lên võng ngủ, để nguyên bùn đất bê bết sau một cuộc hành quân vượt lộ. Trong phim có cảnh lính ngụy thiêu sống bộ đội thì đồng đội của tôi là Thái bị hy sinh, lính ngụy cũng mổ bụng để gài mìn, đợi chúng tôi đến lấy xác đồng đội sẽ kích nổ. Chính tôi có mặt trong nhóm đi lấy xác này. V.v…
Về kỹ thuật điện ảnh, tức tái hiện những cảnh quay như thật, thì “Mưa đỏ” dưới tay đạo điễn, tài năng của các diễn viên, các họa sĩ tạo khung cảnh, hiện thực ác liệt của chiến tranh đã được tái hiện rất sống động, đặc biệt các pha hành động kịch tính, gay cấn, ác liệt, tàn khốc đã được diễn như thật. Đây là một thành công lớn của bộ phim. Nếu được chấm điểm tôi sẽ cho điều này 9,5 điểm! Tiếc là bộ phim vẫn còn những điểm khác cần phải góp ý.
***
Đặng Thái Huyền đã tái hiện tốt những cảnh quay, những hành động đã chứng tỏ mình đúng là một đạo diễn phim tài năng. Nhưng để tái hiện được sự thật lịch sử cho đúng thì còn khó hơn nhiều, chỉ tài năng của đạo diễn thì chưa đủ mà còn phải cần thêm trí tuệ của một nhà sử học, cao hơn nữa là một nhà minh triết.
“Nhân vật” trung tâm của “Mưa đỏ” hư cấu từ nguyên mẫu là Tiểu đội 1 thuộc Tiểu đoàn K3 Tam Đảo, Quân Giải phóng, được đặt tên trong phim là K3 Tam Sơn, với nhân vật chính là Cường, Tạ, v.v…
Thực tế, 9 tháng 9, một trung đội VNCH đã lọt vào thành cổ, bị K3 Tam Đảo phản kích dữ dội phải tháo chạy, để lại 11 xác chết. Sau trận này, K3 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. BS Trịnh Hòa Bình, một CCB Thành Cổ Quảng Trị đã viết trên fb:
“Từ những ngày đầu tiên của 81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị cho đến khoảng 10.9.1972, các trận đánh ác liệt giằng co chỉ diễn ra ở các làng xã xung quanh ấy, CHƯA BAO GIỜ TRONG LÒNG THÀNH CỔ!”; “Trong phim Mưa đỏ, các trận đánh đều diễn ra trong lòng thành cổ từ những ngày đầu tiên. Và điều đó là sai cơ bản với lịch sử”.
Tôi (Đông La) đã viết, truyện ngắn, phim ngắn (không nhiều tập), như lát cắt của hiện thực, không thể thể hiện hết được sự kiện lịch sử, nhưng nhà văn, đạo diễn có tài thì phải có ngón nghề sao đó để cho người đọc, người xem hiểu rõ tác phẩm mình chỉ là lát cắt từ một tổng thể nào đó, còn không thì biến độc giả, người xem thành những người mù sờ chân voi. Tôi sau khi xem kỹ phim “Mưa đỏ” thì thấy ý của Trịnh Hòa Bình đúng.
Nội dung phim đa phần là những cuộc đấu súng và đấu võ. Theo phong trào ca nhạc ở ta, hết Hip hop đến Rap, cảnh chiến đấu trong “Mưa đỏ” cũng có phần giống phim Hoolywood, rất khác với thực tế tác chiến của bộ đội ta hồi đó. Bộ đội ta hồi ấy đa phần 19, 20, tôi 17 tuổi rưỡi nặng có 39,5 kg, sức khỏe B1 là áp chót; cả nước còn nghèo, thiếu ăn, đa phần bộ đội không đô con nên không thể đấu tay đôi như trên phim được. Ta thắng trận chủ yếu vì bầy binh bố trận của chỉ huy tài giỏi, đánh bí mật bất ngờ, đánh nhanh diệt gọn, chứ không phải thắng như trên sàn đấu.
Một điều nữa tôi thấy các tác giả nên mặc cho bộ phim cái áo choàng lịch sử để các trận chiến đỡ trần trụi hơn. Nhất là trong tình trạng đổi mới giáo dục, đổi mới SGK đã xảy ra nhố nhăng, rồi khuynh hướng đón gió, trở cờ, lật sử đang phát tác, bản chất cuộc kháng chiến còn bị phản ánh sai lạc như trong NBCT của Bảo Ninh thì phim “Mưa đỏ” cần có định hướng giáo dục lịch sử cho khán giả trẻ thì sẽ tốt hơn biết bao.
Sự thật lịch sử Mỹ đã dùng con bài Ngô Đình Diệm nặn ra VNCH thế chân Pháp duy trì cuộc chiến ở VN để thực hiện Học thuyết Domino chống CS. Nhưng Mỹ đã thất bại, đến thời trận Quảng Trị, Mỹ đã muốn rút nhưng vẫn muốn VNCH tồn tại như cái đồn bốt nối liền cái hàng rào từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philipin, Malaysia, Thái lan, v.v… bao vây các nước phe CS. Trong trận Thành Cổ Quảng Trị, Mỹ đã hỗ trợ vũ khí tối đa cho VNCH dốc toàn lực để tái chiếm là một trong những cố gắng cuối cùng của Mỹ, trước chiến dịch Mỹ ném bom HN là trận cuối cùng. Nhưng cuối cùng Mỹ đã thua, bỏ rơi hoàn toàn VNCH. Còn VNCH gần như dốc toàn lực để tái chiếm Quảng Trị. Vì vậy mà những đơn vị của quân ta ở Quảng Trị đã đánh một trận như cảm tử, mà đã là cảm tử thì tất nhiên phải mất mát hy sinh. VNCH đã tái chiếm được QT, nhưng thể hiện quá yếu kém, làm Mỹ mất lòng tin hoàn toàn, còn ta tạm mất Quảng Trị nhưng lại khiến Mỹ bỏ cuộc, tạo ra được thế trận ba năm sau giải phóng hoàn toàn MN, thống nhất đất nước.
Bộ phim cần có thủ pháp nào đó để khán giả trẻ biết bản chất của cuộc chiến tại VN, trong đó có trận Thành Cổ Quảng Trị. Tưởng là khó nhưng thực ra rất dễ. Như trong “Mưa đỏ” câu thoại của Tạ nói ý “Mấy thằng là sinh viên phải bỏ học thật tiếc, chỉ tại chiến tranh”. Nếu để Tạ nói: “Mẹ kiếp cái thằng rước thằng Mỹ vào gây ra cái chiến tranh làm chúng mày phải bỏ học, tiếc thật, còn tao cũng phải xa vợ con” thì phim sẽ hay hơn. Đoạn Cường và Quang đấu tay đôi, Quang nói: “Mày đánh hay lắm. Nếu không phải là thời chiến tranh loạn lạc tao và mày đã có thể là những thằng bạn chơi được đấy”. Như vậy, nhân vật ở cả hai phía chiến tuyến đều nói về cái điều tồi tệ của chiến tranh, mà theo cách viết của Bảo Ninh là “nỗi buồn”. Một cuộc chiến chung chung người làm phim không giải thích gì, rất dễ khiến khán giả cho là nội chiến, mà phía VNDCCH chúng ta Đảng, Bác đã phát động cuộc kháng chiến rất dễ bị cho là gây chiến. Điều này là điểm trừ cho phim.
Có người khen Mưa Đỏ có những chi tiết ẩn dụ giàu tính điện ảnh. Đó là hình chiếc khăn rằn hình chữ S bị đứt đôi, nằm giữa và được Cường và Quang nắm trong tay khi cả hai đã bị hạ sát sau trận đấu tay đôi. Theo tôi hình ảnh này không hay vì ẩn dụ không đúng với thực tế. Bởi trận Quảng Trị đã góp phần vào chiến thắng 30-4-1975, làm nước ta liền một dải chứ không phải đứt đôi. Nếu Cường đại diện cho VNDCCH thì Cường phải sống như Nước CHXHCN hôm nay, chứ không phải cũng chết như Quang đại diện cho VNCH.
***
Tóm lại, về mặt tái hiện sự thật lịch sử, tính giáo dục lịch sử của phim thì tôi cho “Mưa đỏ” 6,5 điểm. Còn tương tự, nhận thức về lịch sử qua văn chương nghệ thuật của đám Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Phim “Đất rừng Phương Nam” của Quang Dũng, Trấn Thành, v.v… tôi cho 0 điểm.

23-12-2025
ĐÔNG LA


Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2025

NHỮNG AI CA NGỢI, BÊNH VỰC NBCT?

 NHỮNG AI CA NGỢI, BÊNH VỰC NBCT?




Số người phê phán, công kích, kể cả tố cáo NBCT của BN rất nhiều, là những người có tâm, có tầm, đặc biệt là có lương tri nên đã không thể chấp nhận một cuốn sách xuyên tạc sự thật, bôi đen đội quân anh hùng, phủ nhận ý nghĩa, giá trị của Cuộc Kháng chiến vĩ đại do Đảng, Bác phát động để chống ngoại xâm và tay sai, tác giả hiện nguyên hình là chiêu hồi bên thua cuộc. Ngược lại, số người ca ngợi, bênh vực, bảo vệ NBCT của BN cũng không ít, nói chung là thiểu năng trí tuệ nên không phân biệt được đúng sai, bất lương tức thiếu lương tri nên đã ca ngợi, bảo vệ cái sai, cái xấu, cái ác. Vậy “chúng nó” là những “đứa” nào?
Hôm nay tôi chỉ dẫn ra hai nhân vật tiêu biểu, thuộc hai thế hệ, đều từng và hiện đang lãnh đạo HNV VN là Nguyên Ngọc và Nguyễn Quang Thiều.
***
Nhà văn Nguyên Ngọc, theo (http://phamxuannguyen. vnweblogs. com/ post/1958/114671) là “người có công lớn trong việc trao giải cho Nỗi buồn chiến tranh, đánh giá rất cao tác phẩm này. Ông viết: "Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay. Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình… Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằn quại và đầy trách nhiệm, quằn quại vì đầy trách nhiệm". Với lời nhận xét này thực ra Nguyên Ngọc chưa hiểu gì về Nỗi buồn chiến tranh, chỉ thấy cái hơi hướng hợp với ý mình rồi tán ra cho thành tuyệt vời mà hoàn toàn không có căn cứ gì từ tác phẩm. Còn Nỗi buồn chiến tranh thực chất là cuốn sách BN viết về sự chấn thương tâm thần của một người lính giải phóng đã trải qua một cuộc chiến tàn khốc: “Chiến tranh là cõi không nhà không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”(Nỗi buồn chiến tranh, tr. 32); và đổ vỡ niềm tin: “Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng còn gì nữa cả… Chỉ còn những mộng mị hão huyền… Càng ngày Kiên càng có cảm giác rằng không phải mình đang sống mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này” (tr. 87); vì thế đã “tìm lẽ sống hôm nay”(ý Nguyên Ngọc) và “chiến đấu lại” bằng cách: “dầm mình trong rượu” (tr. 87) và “viết văn”, nhưng phải “làm cách mạng văn chương” (theo ý Bảo Ninh) bằng cách mô tả cuộc chiến của mình và đồng đội mình man dại như dã thú: “Tôi như sẵn sàng nhập thân trở lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng. Thói hiếu sát. Máu hung tàn. Tâm lý thú rừng. Ý chí tối tăm và lòng dạ gỗ đá” (tr. 49); “Dằng dặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết, lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh” (tr. 26) … và chỉ liệt kê ra những gì xấu xa nhất của đội quân mình đã đứng trong đó: Hiếp dân lành (chuyện cô Phương bị hiếp tập thể trên tầu) (tr. 243); hành lạc tập thể (giữa phân đội trinh sát với 3 cô gái trong khu trại tăng gia huyện đội) (tr.31); bài bạc, hút xách (hút hồng ma), trốn chạy (nhân vật Can), tàn sát tù binh (tr. 42) … ; để rồi với “Trách nhiệm lương tâm” (ý Nguyên Ngọc) đã chỉ ra sự hy sinh của mình và bao đồng đội là vô nghĩa: “ - Hừ! Hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình…”(tr. 44); “ Nền hòa bình này… Hừ tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bày ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra…” (tr. 45).
Như vậy NN đã hoàn toàn chủ quan, tùy tiện, tâng bốc không ăn nhập gì với tác phẩm, mà thực chất, NN ca ngợi NBCT của BN chỉ vì nó có thể là ngọn cờ để NN “đổi mới lộn ngược văn chương”, một kẻ trở cờ, phản trắc.
***
Người thứ hai là NQT, đương kim lãnh đạo HNVVN, có chân trong Hội đồng Bình chọn 50 tác phẩm Văn học Nghệ thuật tiêu biểu từ sau giải phóng đến nay.
Theo Quy chế Bình chọn của Quyết định số 1350/QĐ-BVHTTDL ngày 20/5/2024 của Bộ VHTTDL thì Nguyễn Quang Thiều và Hội đồng bình chọn đã phạm pháp bởi đã không tuân theo Quyết định trên. Theo tiêu chí của Quyết định, tác phẩm được chọn phải “ca ngợi truyền thống lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”; “góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VNXHCN”, nhưng NBCT đã cho Cuộc Kháng chiến mà Đảng Bác phát động để giành lại nền độc lập của Tổ quốc là nỗi buồn, cho sự hy sinh của các chiến sĩ giải phóng là vô nghĩa, đã phủ nhận giá trị của hòa bình, v.v…
Một tiêu chí khác: “Ưu tiên những tác phẩm đã được tặng thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, giải thưởng của Hội Văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương hoặc được tặng giải thưởng văn học quốc tế có uy tín". NBCT cũng hoàn toàn không đạt tiêu chí này.
Lần 1, năm 1991, NBCT được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam nhưng sau đó đã bị thu hồi giải thưởng (1993), Ban Lãnh đạo HNVVN hồi đó phải đọc kiểm điểm trước Đại hội, được đăng tải trên báo CATPHCM. Sau đó NBCT còn bị cấm tái bản và phát hành.
Lần 2, NBCT bị “Nhà nước” loại khỏi Giải Nhà nước. Qua câu chuyện này, chúng ta thấy quan điểm về các chuẩn mực giá trị văn chương của giới văn chương mà Hữu Thỉnh, với tư cách Chủ tịch HNVVN đứng đầu, đã đi chệch hướng chính trị của chế độ, tức không đi theo đường hướng Văn học Hiện thực XHCN, một trong những thành phần thuộc nền tảng tư tưởng của chế độ. Bởi Hữu Thỉnh cho biết về Hội đồng xét Giải thưởng Nhà nước: “Hội đồng có 28 người nhưng số người hoạt động trong văn học nghệ thuật chỉ chiếm một nửa. Trong văn chương chỉ có mấy tên: Tôi, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Hoàng Nhuận Cầm … Trên hàng ghế “cầm cân nảy mực” những người trong nghề (ủng hộ BN) chỉ là thiểu số…”. HT cũng cho biết ở tuyến cơ sở (Hội Nhà Văn), Bảo Ninh đạt tỉ lệ 100% phiếu bầu; ở ủy ban chuyên ngành cấp bộ, Bảo Ninh cũng đạt tới 90 % phiếu bầu, ở cấp Nhà nước, tỉ lệ sụt xuống chỉ còn 76%, Bảo Ninh “rớt” sâu. Như vậy, những người đại diện văn chương đồng ý trao giải cho BN hết, nhưng những người có chức trách quản lý văn chương của thể chế đã phủ quyết, một hành động kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ.
Như vậy, lần này NQT và Hội đồng đã bình chọn NBCT là “tác phẩm tiêu biểu” không chỉ có quan điểm lật sử của đất nước mà còn lật sử của chính HNV VN, và có quan điểm chống lại Nền tảng tư tưởng của Chế độ XHCN.
***
Riêng Nguyễn Quang Thiều từ lâu đã tâng bốc NBCT là “chạm vào mẫu số chung nhân loại”. Tôi đã viết Thiều thuộc dạng rất hiếm là có khả năng sai trái một cách bài bản, trang trọng, nên thơ. Ca ngợi NBCT véo von như vậy Thiều đúng là huyên thuyên, lăng nhăng, một dạng thiểu năng. Bởi cho cuộc Kháng chiến chống xâm lược là “nỗi buồn” là “mẫu số chung” của nhân loại tức phủ phận hết những cuộc kháng chiến dọc theo chiều dài lịch sử của đất nước thì nước VN ta sẽ không còn tồn tại. Trên thế giới, nếu không có phe Đồng Minh, mà chủ yếu là LX, để chống chiên tranh xâm lược của Phát Xít Đức thì thế giới đã thuộc về Chủ nghĩa Phát xít, tóc người Israel đã được dệt thảm, mỡ người Israel đã được nấu xà phòng, hôm nay người Israel sẽ không còn để gây chiến ở Dải Gaza. Và trên thế giới, nếu không có các cuộc cách mạng chống bất công và nô dịch theo Các Mác, cứ giữ nguyên hiện trạng như thời thực dân cũ, thế giới chỉ chia làm hai, ba mảng, chủ yếu thuộc Anh và Pháp. Nước Mỹ cũng sẽ không tồn tại mà chỉ là trang trại của những ông chủ bên Mẫu quốc Anh; nước ta cũng sẽ không còn tên trên bản đồ thế giới, sẽ là trang trại của những ông chủ nô Pháp. Người như ông Obama sẽ bị bày bán ngoài chợ chứ không thể làm được TT Mỹ.
***
Còn rất nhiều “đứa” ca ngợi và bênh vực NBCT, số sau tôi viết tiếp.
20-12-2025
ĐÔNG LA

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

ĐÔNG LA ĐÚNG NHƯNG ĐỪNG CHỬI TỤC QUÁ

 ĐÔNG LA ĐÚNG NHƯNG ĐỪNG CHỬI TỤC QUÁ




Tiếp chuỗi bài về những người ca ngợi sai trái NBCT, hôm nay tôi viết chuyện này.
16-12-2025, trên trang fb của mình, Giang Chu tức Nhà LLPB, nguyên Giám đốc NXB Văn học Nguyễn Văn Lưu, có chia sẻ bài của tôi với lời giới thiệu: “Rất xác đáng nhưng xin đừng chửi tục quá. Trobg những người ca ngợi NBCT có các bậc thầy của tôi như GS Đỗ Đức Hiểu. Những bậc đàn anh đáng kính như Ngô Văn Phú hay Ngô Ngọc Bội...Tôi đang tìm hiểu tại sao những nhà văn hàng đầu lúc ấy ( 1990-1991) lại đánh giá cao NBCT đến như vậy”. Với ngôn ngữ Việt, tục tĩu chỉ chuyện người ta nói, viết những từ chỉ các bộ phận sinh dục và các hành động tình dục một cách thô thiển. Tôi đọc kỹ lại bài tôi viết thấy không có và thường tránh, bởi tôi thường phê phán, thậm chí đã kiện Nguyễn Quang Thiều làm thơ, phát hành thơ tục tĩu, vô văn hóa; tôi cũng phê phán nhiều lần văn NHT thô tục, thơ của đám Inrasara, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Mở Miệng, Hoàng Hưng, Trần Dần, v.v… Còn trong NBCT của BN cũng viết chuyện ngậm “ti”, hiếp dâm, hành lạc tập thể, v.v…
Chuyện tình yêu, tình dục đối với con người là thiêng liêng, cao quý, nhưng nhà sáng tác tài năng sẽ thể hiện trong tác phẩm để độc giả thấy chúng đúng là thiêng liêng cao quý, ngược lại, người sáng tác chỉ viết được chuyện thô tục, bẩn thỉu. Có nhóm nhân danh đổi mới, nhân danh tự do sáng tác, còn dựa vào Hậu Hiện đại đấu tranh đòi bình đẳng ngôn ngữ, tôi đã phê phán là mất nhân tính, bởi đã là người thì ai cũng biết xấu hổ, ai có văn hóa cũng sẽ biết là thô tục, vô văn hóa.
Đọc lại bài tôi viết, tôi cũng không thấy mình chửi câu nào. Tôi đã viết BN là “phản động”, “phản quốc”, với lý do thế này:
“Trong năm 2025, vào dịp 30-4 và 2-9, nhân dân cả nước đã vui mừng chào đón hai ngày lễ lịch sử, kỷ niệm Ngày Quốc khánh, Ngày Chiến thắng, Ngày Giải phóng, thống nhất đất nước, chấm dứt cuộc chiến mà Mỹ thế chân Pháp duy trì nó trên Tổ quốc VN thân yêu của chúng ta. Hai lễ được tổ chức trang trọng, hoành tráng, tưng bừng nhất, chưa từng có, lần đầu chúng ta chứng kiến duyệt binh cả ba binh chủng Bộ binh, Không quân, Hải quân. Nhưng Bảo Ninh lại viết NBCT cho những cái đó là “nỗi buồn”, tức BN đã phản lại cả một dân tộc, phản lại cả đất nước. Nói cho gọn là phản động, là phản quốc.
Cụ thể, trong NBCT, BN viết nhân vật Kiên đi bộ đội với lời dặn của cha: “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ…, mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy” (Nỗi buồn chiến tranh, nxb Hội nhà văn, 1991, tr. 61). Nếu nhân dân cả nước ai cũng làm theo lời dặn trên thì làm sao có được ngày 2-9-1945, 30-4-1975, để rồi chúng ta làm lễ kỷ niệm tưng bừng, hoành tráng, vui mừng đến như vậy?”
Giang Chu có nhắc đến thầy mình là GS Đỗ Đức Hiểu. Những bậc đàn anh đáng kính như Ngô Văn Phú hay Ngô Ngọc Bội… đã “ca ngợi” NBCT bị tôi “chửi tục quá”.
Sự thật tôi viết:
“Về phía VN, chúng ta là nạn nhân của cuộc chiến, khi chúng ta chiến thắng, giành lại được chủ quyền đất nước và được sống trong thanh bình, tất nhiên ai cũng phải vui mừng và tự hào. Vậy mà thật kỳ quái, lại không ít người thái độ lộn ngược.
Đông nhất là đám nhà văn, đầu tiên phải kể là Dương Thu Hương, người từng “đã khóc như cha chết” trong ngày giải phóng; rồi đến Nguyễn Duy (Huy Đức, San “hô”, nhai lại): “Bên nào thắng thì nhân dân cũng thất bại”; Nguyễn Huy Thiệp: “Thế hệ tôi nôn mửa vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”; và rùm beng nhất, còn kéo dài mấy chục năm đến tận hôm nay là chuyện Nguyên Ngọc và cả một đám lâu la, bất chấp sự thật lịch sử, đã ca tụng NBCT của Bảo Ninh, cuốn sách đã cho cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta là một “nỗi buồn”!”; “Vậy Nguyên Ngọc và cả một đám lâu la ca ngợi, bênh vực BN là những “đứa nào”? Với những lý lẽ sai trái ra sao, tôi sẽ viết mấy số sau”.
Như vậy, Giang Chu viết tôi là “chửi tục quá” là do tôi gọi thầy mình là GS Đỗ Đức Hiểu, những bậc đàn anh đáng kính của mình như Ngô Văn Phú hay Ngô Ngọc Bội như trên. Những người này về tuổi với tôi là hàng cha chú. Nếu tôi sai khi gọi họ là “lũ lâu la”, “những đứa” thì Giang Chu viết tôi là “hỗn láo” thì chính xác về ngôn ngữ hơn. Nhưng sự thật tôi lại không sai.
Như bài tôi vừa đăng, tôi cho rằng BN là “phản động”, “phản quốc”. Và khi viết NBCT, BN cũng từng tự thú là mình muốn viết “khác” đi, đã viết không đúng sự thật; GS Nguyễn Cảnh Toàn, người đồng đội từng sống và chiến đấu sát bên Hoàng Ấu Phương (BN) cũng tố cáo BN là xuyên tạc sự thật, nói xấu và xúc phạm đồng đội của mình. Với Pháp luật VN, nói xấu và xúc phạm danh dự cá nhân thôi đã là phạm pháp, vậy BN viết xấu, xúc phạm danh dự cả đội quân của Quân đội Nhân dân VN anh hùng thì chắc chắn cũng phạm pháp.
Như vậy, những người ca ngợi NBCT của BN không chỉ sai sái mà còn là đồng phạm. Vậy gọi những người phạm pháp là “những đứa” là còn nhẹ, chính xác hơn phải gọi chúng là “những kẻ”.
18-12-2025
ĐÔNG LA

NHỮNG LÝ LẼ BÊNH VỰC NBCT SAI TRÁI NHƯ THẾ NÀO?

 NHỮNG LÝ LẼ BÊNH VỰC NBCT SAI TRÁI NHƯ THẾ NÀO?

Tôi có chút việc bận nên ảnh hưởng đến tiến độ viết lách. Tôi phải sơn lại một căn phòng trong nhà để chuẩn bị đón cháu đích tôn về chơi, và bận “bế em”. “Em” là em đứa cháu ngoại 9 tuổi, chứ không phải như khoảng 60 năm về trước tôi bế thằng em út. Thằng cháu ngoại hơn 1 tuổi, ba mẹ nó thuê một bà bế trong giờ hành chính, nên khi bả về tôi phải phụ bế nó trung bình ngày khoảng 2 tiếng. Đôi khi tôi bảo chị nó: “Tina! Con coi em 15 phút, phụ ông ngoại để ông viết bài đánh bọn trở cờ, phản trắc”. Đúng 15 phút không dư một giây, nó kêu: “Ông ngoại bế em”. Vì vậy mà chuyện tôi hứa với bạn đọc nay mới viết được bài “NHỮNG LÝ LẼ BÊNH VỰC NBCT SAI TRÁI NHƯ THẾ NÀO?”. Trước hết, tôi viết về cái sai của Bảo Ninh viết NBCT, tôi đã viết nhiều nhưng mãi không hết vì nó nhiều quá, như cỏ, rác.

***
Bảo Ninh đã thể hiện chủ đề tư tưởng, ý tứ, nhận thức, thái độ của mình trong cái nhan đề cuốn sách: “NBCT”. Trong năm 2025, vào dịp 30-4 và 2-9, nhân dân cả nước đã vui mừng chào đón hai ngày lễ lịch sử, kỷ niệm Ngày Quốc khánh, Ngày Chiến thắng, Ngày Giải phóng, thống nhất đất nước, chấm dứt cuộc chiến mà Mỹ thế chân Pháp duy trì nó trên Tổ quốc VN thân yêu của chúng ta. Hai lễ được tổ chức trang trọng, hoành tráng, tưng bừng nhất, chưa từng có, lần đầu chúng ta chứng kiến duyệt binh cả ba binh chủng Bộ binh, Không quân, Hải quân. Nhưng Bảo Ninh lại viết NBCT cho những cái đó là “nỗi buồn”, tức BN đã phản lại cả một dân tộc, phản lại cả đất nước. Nói cho gọn là phản động, là phản quốc.
Cụ thể, trong NBCT, BN viết nhân vật Kiên đi bộ đội với lời dặn của cha: “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ…, mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy” (Nỗi buồn chiến tranh, nxb Hội nhà văn, 1991, tr. 61). Nếu nhân dân cả nước ai cũng làm theo lời dặn trên thì làm sao có được ngày 2-9-1945, 30-4-1975, để rồi chúng ta làm lễ kỷ niệm tưng bừng, hoành tráng, vui mừng đến như vậy?
Thực tiễn, dù xã hội VN còn nhiều yếu kém tệ nạn, nhưng vẫn vào hàng đất nước ổn định nhất, thanh bình nhất, phát triển nhất. So với những nước tương đương về trình độ cũng bị nước lớn can thiệp, cũng trải qua chiến tranh, như I-rắc, Xy-ri, Ly-bi, Apganixtan, Pakistan, v.v… thì hiện tại VN ta đúng là Thiên Đường. Tất cả đều từ nền hòa bình do Cách mạng T8 và những chiến thắng vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến mang lại. Nhưng trong NBCT, Bảo Ninh đã phủ nhận giá trị của hòa bình. Cụ thể, trang 86, Nỗi buồn chiến tranh, nxb Hội nhà văn, 1991, BN viết: “Chao ôi! Như vậy đấy: Hoà bình, hạnh phúc… ”; “Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng còn gì nữa cả… Chỉ còn những mộng mị hão huyền… Càng ngày Kiên càng có cảm giác rằng không phải mình đang sống mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này” (tr. 87). BN đã chỉ ra sự hy sinh của mình và bao đồng đội là vô nghĩa: “ - Hừ! Hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình…”(tr. 44); “ Nền hòa bình này… Hừ tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bày ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra…”.
Viết NBCT, BN đã nhìn cuộc kháng chiến mà Đảng, Bác đã phát động và duy trì để đánh đuổi ngoại xâm và tay sai theo con mắt của kẻ xâm lược, như rửa nhục cho họ. Chính vậy, đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước, Mỹ đã cho BN khoảng 40.000 USD, một số tiền khổng lồ so với thu nhập hồi ấy. Chính vậy, nó đã đốt cháy lòng tham điên cuồng của nhiều kẻ muốn lấy BN làm gương. BN đã gọi cuộc chiến của dân ta theo Mỹ gọi là Vietnam War, tức BN đã viết ngược theo văn bản chính trị cũng như Lịch sử mà dân ta gọi là Cuộc Kháng chiến. Nó cũng không phải như ý khác mà BN gọi là “nội chiến”, bởi dân Việt không phải tự dưng cầm súng bắn đầu nhau, mà chúng ta tiến hành cuộc chiến chống chiến tranh xâm lược và tay sai.
***
Vietnam War xảy ra do Mỹ đã thế chân Pháp, lập ra chế độ VNCH để duy trì cuộc chiến, thực hiện "thuyết domino" (domino theory) của Tổng thống Dwight D. Eisenhower, sử dụng VN làm tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Dương. 1/6/1956, thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống) John F. Kennedy tuyên bố:
“Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó”.(https://vi.wikipedia.org/).
Còn thân phận tay sai của VNCH, Nguyễn Văn Thiệu từng nói: "Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!" Tướng Nguyễn Cao Kỳ, năm 2005, khi về Việt Nam và trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên, đã nói: "Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê".
Còn muốn nói đến “Nỗi buồn” thì chính là nỗi buồn giành cho Vietnam War của Mỹ.
Tổng thống Donald Trump, nhân dịp thăm Anh, 6 tháng 6 2019, (dịp kỷ niệm D-Day lần thứ 75) đã trả lời phỏng vấn của Piers Morgan cựu nhân viên CNN. Ông Trump đã cho Vietnam War là một cuộc chiến tồi tệ (I thought it was a terrible war).





Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara, kiến trúc sư trưởng của Vietnam War, đã phải thú nhận: “Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp!” Maxwell Taylor, từng là đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH, đã nói: “Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Không hề có một anh hùng nào mà toàn là những kẻ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó”. (We all have a share in it, and none of it is good. There are no heroes, just bums. I include myself in that.
Về phía VN, chúng ta là nạn nhân của cuộc chiến, khi chúng ta chiến thắng, giành lại được chủ quyền đất nước và được sống trong thanh bình, tất nhiên ai cũng phải vui mừng và tự hào. Vậy mà thật kỳ quái, lại không ít người thái độ lộn ngược.
Đông nhất là đám nhà văn, đầu tiên phải kể là Dương Thu Hương, người từng “đã khóc như cha chết” trong ngày giải phóng; rồi đến Nguyễn Duy (Huy Đức, San “hô”, nhai lại): “Bên nào thắng thì nhân dân cũng thất bại”; Nguyễn Huy Thiệp: “Thế hệ tôi nôn mửa vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”; và rùm beng nhất, còn kéo dài mấy chục năm đến tận hôm nay là chuyện Nguyên Ngọc và cả một đám lâu la, bất chấp sự thật lịch sử, đã ca tụng NBCT của Bảo Ninh, cuốn sách đã cho cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta là một “nỗi buồn”!
Họ đưa ra rất nhiều lý lẽ, từ chính trị (chính sách ngoại giao, hòa hợp dân tộc), triết học, lý thuyết văn chương, quyền tự do sáng tác, tự do dân chủ, v.v…, nhưng cái sai trái của Bảo Ninh lù lù trước mắt thì họ không nhìn thấy.
Phạm Xuân Nguyên, một tín đồ của “Nỗi buồn chiến tranh” cho biết: “… Dennis Mansker… khi đọc Nỗi buồn chiến tranh. … ông choáng váng và xúc động. Ông viết: "Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc về bi kịch của một người lính Bắc Việt bị tê liệt hết nhân tính của mình sau mười năm tham chiến…”.
Tôi đã viết đáp lại trong cuốn Bóng Tối Của Ánh Sáng của tôi là:
“Sau chiến tranh, có thể có những chấn thương thần kinh về bệnh học, còn chấn thương tinh thần mang tính ý thức hệ để rồi tuyệt diệt niềm vui sống, như Bảo Ninh viết, chỉ là vô cùng hãn hữu. Bản thân cựu lính chiến Bảo Ninh cũng còn rất khôn ngoan, chẳng có “tê liệt” cái quái gì hết, không hiểu vì cái gì mà ông ta viết để cho người ngoài hiểu đồng đội của mình “tê liệt hết nhân tính” như một lũ súc vật vậy?!” Đến hôm nay thì tôi có thể tự trả lời, đó là “vì tiền”.
Trong bài “Những kẻ chiêu hồi Bên thua cuộc”, tôi đã viết:
“GS Trần Thanh Đạm viết về cái quái gở của cuốn “Nỗi buồn chiến tranh”: “Nỗi buồn chiến tranh ở đây mang màu sắc của một sự sám hối của những người anh hùng đã lỡ gây nên một sự nghiệp anh hùng”, còn tôi (Nhà Văn Đông La) thì cũng thấy cái chuyện kỳ quái, có những kẻ sau giải phóng lại đi tìm mọi cách đầu hàng phía thua trận. Đầu tiên tôi rất ngạc nhiên, nhưng rồi đã nhận ra, nếu phía thua VN mà nghèo đói như các nước Châu Phi thì chắc chắn sẽ không bao giờ có chuyện ngược đời đó. Nhưng phía thua VN lại là Pháp, là Mỹ, những nước rất giầu có, vì vậy mà đã có những kẻ cơ hội, đón gió, mà muốn vậy, chúng phải trở cờ. Chúng phải đổi giọng, đổi những thứ vô giá thiêng liêng như niềm tự hào dân tộc, sự chính nghĩa, cái thiện… để mong lấy những cái có giá cụ thể hơn, đó là tiền!”
Đoạn này chắc hay quá nên nhiều bạn đã trích dẫn nhưng lại nhầm tác giả là GS Trần Thanh Đạm. Tôi đề nghị các bạn sửa đi, nếu không tôi là chủ văn lại thành đạo văn. Nhiều bạn khác cũng trích những bài của tôi nhưng không ghi nguồn gốc, tôi cũng đề nghị các bạn ghi rõ nguồn trích dẫn, nếu không nhiều đứa ghét tôi sẽ có cớ cho tôi là đạo văn.
***
Tôi cũng đã viết (2020), chiến tranh đã lùi xa chẵn 45 năm, với nước Mỹ chúng ta đã “khép lại quá khứ, hướng đến tương lai”, Việt Nam đúng như câu thơ tôi viết:
Một đất nước đến những người từng là kẻ thù cũng đem lòng yêu mến
Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại VN, được những người từng là cựu thù đón tiếp như những người thân; những tổng thống Mỹ đến VN đã được dân VN đón chào còn nồng nhiệt hơn cả ở Mỹ.
Với những người từng liên quan đến chế độ VNCH nhà nước cũng đã có chính sách hoà hợp dân tộc từ lâu. Càng ngày Việt kiều càng trở về thăm quê hương đất nước nhiều hơn, kể cả chuyện ở lại luôn, vì đất nước đã thay đổi rất nhiều.
Nhưng mọi người cũng cần phải hiểu một lẽ tất nhiên rằng, “khép lại quá khứ” không có nghĩa là xoá bỏ tất cả, không phải là chuyện lộn tùng phèo chính nghĩa, phi nghĩa, trắng đen lẫn lộn, thiện ác bất minh, mà cũng như nhân loại trên toàn thế giới, họ luôn làm lễ kỷ niệm những sự kiện trọng đại thì nhân dân VN cũng sẽ mãi vui mừng và tự hào, sẽ luôn làm đại lễ để kỷ niệm ngày Quốc khánh và Ngày Chiến thắng vĩ đại 30-4-1975!
***
Vậy Nguyên Ngọc và cả một đám lâu la ca ngợi, bênh vực BN là những “đứa nào”? Với những lý lẽ sai trái ra sao, tôi sẽ viết mấy số sau.

16-12-2025
ĐÔNG LA