Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Mẹ mất rồi, Hồn mẹ có còn không? (Truyện ngắn)


ĐÔNG LA
Mẹ mất rồi, Hồn mẹ có còn không?
(Truyện ngắn)
Hôm nay, nhân sự kiện trong đại của gia đình tôi là “thay áo” và xây “nhà mới” cho mẹ, tôi đăng lại cái truyện ngắn viết về đám tang của mẹ. Tôi đã viết thực 100%, muốn lưu giữ những khoảnh khắc lịch sử của gia đình để con cháu muôn đời sau biết về nguồn cội của chúng. Như bây giờ có một tài liệu viết về Tổ Tiên của mình thì chúng ta được đọc sẽ thú vị biết bao! Cũng chính vì vậy mà một xã hội văn minh luôn coi trọng chuyện chữ nghĩa, luôn coi trọng chuyện lưu giữ cẩn thận những trang lịch sử và những tác phẩm văn chương.
Câu chuyện của tôi không chỉ là trang nhật ký về gia đình mà còn là một tác phẩm văn chương, chất chứa những suy ngẫm của một nhà văn về cuộc đời, về số phận và về thế giới tâm linh. Tôi đã đăng nhiều lần, nhiều người phụ nữ đã khóc, nói tôi viết chuyện nhà tôi mà cũng như viết hộ chuyện của họ. Vì tôi luôn có độc giả mới, mà tác phẩm văn chương nếu hay người ta vẫn thú vị khi đọc lại như ta thường xuyên nghe lại các tác phẩm âm nhạc hay vậy, nên hôm nay tôi sửa lại chút xíu và lại đăng lại cho những ai thích văn chương của tôi đọc.
Câu chuyện có một chút về thế giới tâm linh, tôi viết trước khi gặp cô Vũ Thị Hoà 5 năm.
Vười Vải Phúc Yên
23-12-2018
ĐÔNG LA


Đã quá nửa đêm, tôi bồn chồn không yên, lòng nóng như lửa đốt, nhưng biết làm gì ngoài việc nằm đung đưa trên cái võng trong phòng riêng chờ tin ở quê.
Cuộc đời đúng là vô thường, vừa vui đó đã buồn ngay đó. Chập tối còn nhậu đặc sản kỳ đà với hai ông anh cùng làng. Nào ngờ vừa về đến nhà thì có cú điện thoại của thằng em:
- Anh Hùng hở, bà hình như bị mệt nặng. Ông Đảo, thằng Mạnh Yêng đang ở trong bà. Tôi cũng chuẩn bị vào đây. Anh gọi cho thằng Mạnh Yêng xem sao?
Thằng Mạnh Yêng nghĩa là thằng Mạnh con bà Yêng, lúc nó sinh ra bị chết ngạt, bố tôi là y sĩ duy nhất ở quê hồi ấy đã rất vất vả, kiên trì cứu sống được nó, nên mẹ nó xin cho nó làm con nuôi và đặt tên trùng với thằng Mạnh em ruột tôi. Tôi bấm máy nhưng không gặp nó mà là ông Đảo, anh tôi:
- Chú Hùng hở, bà kỳ này mệt nặng, mọi lần thằng Nhận y tá nó tiêm một mũi là khỏi, không hiểu sao kỳ này không đỡ.
Mẹ tôi bị huyết áp cao vài năm nay, tôi vẫn thường gởi thuốc về. Tôi nghĩ nguy hiểm nhất là nhồi máu cơ tim nên điện về nói cho bà uống loại thuốc mà  nếu mạch vành hẹp cung cấp không đủ oxy thì nó giúp tế bào tim vẫn được bảo vệ. Xong, tôi lại bảo mọi người đưa bà đi viện cấp cứu cho chắc. Không ngờ thằng em nuôi là cán bộ huyện báo tới viện, mời cả viện trưởng xuống khám, các bác sĩ đã làm hết các biện pháp nhưng mạch bà cứ tắt dần. Thế rồi cái giây phút khủng khiếp nhất cũng đã tới. Điện thoại lại reo, đầu dây là tiếng thằng em nuôi:
- Anh ơi! Bà mất rồi! Chúng em vừa đưa bà từ bệnh viện về đến nhà anh ạ. Bà mất vào khoảng 12h30. Anh về ngay nhé!
        Thế là mẹ tôi đã mất! Một khoảng trống mênh mông bỗng dâng ngập lòng tôi. Mẹ mất nghĩa là không bao giờ được gặp mẹ nữa! Tôi nhớ đến thằng con trai xa tít mù bên Mỹ: “Con có biết là bà nội đã mất rồi không?” Còn vợ và đứa con gái ở hai phòng bên, đằng nào thì việc cũng đã rồi, cứ để yên cho ngủ thì hơn. Tôi trở lại võng nằm bật khóc thầm một mình trong đêm. Mẹ tôi, người đàn bà hiền từ đức độ, với cuộc đời trải dài gần một thế kỷ trong cái xã hội làng quê dằng dịt những mối quan hệ mà bà không hề xích mích với một ai. Hồi nhỏ tôi thấy mấy bà hàng xóm bị mất gà thường chửi rất ghê, còn mẹ tôi thì bảo: “Tao ngượng tao không biết chửi”. Sau chiến thắng Điện Biên, cha tôi được về phép 10 ngày, năm sau tôi đã được chào đời. Mẹ tôi bảo sau sinh, tôi đã khóc dạ đề 6 tháng liền, chảy cả máu mắt. Có một tài liệu nói những đứa trẻ như vậy là do chúng rất nhạy cảm nên thường là những đứa rất thông minh. Còn tôi, không biết có thông minh hay không? Nhưng quả thật có những việc thuộc các lĩnh vực tri thức người ta phải học vài chục năm may ra mới làm được việc còn tôi thì làm luôn mà không cần phải học gì cả. Từ khi mẹ tuổi cao, tôi bắt đầu lo ngại và chuẩn bị tâm lý để đối diện với cái giây phút mẹ mất. Cái tâm trạng kinh hoàng khi bất ngờ nhận được tin bố mất một cách khác thường, đã gần hai mươi năm trôi qua rồi mà vết thương trong lòng tôi vẫn chưa liền sẹo. Đôi lúc tôi vẫn khóc thầm khi nhớ đến cha và ân hận vô cùng vì chưa báo hiếu được một xu nào; trong mỗi bữa tiệc tôi vẫn luôn kinh ngạc nghĩ rằng, cả đời cha mình chưa từng biết đến mùi vị một lon bia! Ông mất đúng vào điểm giao thời của Đổi mới. Còn mẹ, anh em tôi, cả người sống lẫn người chết, đã làm được hai mươi năm cuối đời mẹ hạnh phúc. Cùng lương người anh liệt sĩ, hàng tháng tôi tự đặt cho mình một nghĩa vụ là phải gởi tiền về cho mẹ. Với xã hội, đến nay khi đã hơn 50, tôi phải tự thú là mình đã thất bại, có những khả năng tôi không biết dùng để làm gì, còn nhiều đứa tôi biết từng “học dốt như bò” vẫn đàng hoàng thành ông kia bà nọ. Tuy vậy, đối với làng quê, tôi vẫn luôn là niềm tự hào của mẹ. Tôi vừa là “kỹ sư” vừa là “nhà văn”. Bốn đứa cháu học trường cấp 3 đóng tại làng khoe, thầy Viển (một đứa em trong họ dạy toán) hay mang tôi ra nói như nêu gương: “Làng ta có ông Hùng vừa giỏi toán vừa giỏi văn”. Cô cháu út vênh mặt kể, có đứa bạn nó hỏi: “Có phải mày quen với ông nhà văn này không?” “Quen gì, ông ấy là bác ruột tao chứ quen gì!” Tôi nhớ có lần đưa mẹ trở về quê sau chuyến bay từ Sài Gòn, mẹ tôi đầy rạng rỡ khoe với mấy bà hàng xóm: “Cháu nó đang xây cái nhà máy”, thực tế tôi chỉ dựng một cái xưởng nhỏ, nhưng với bà nó là “nhà máy”, mà đúng là có “nhà” có “máy” thật! Điều làm cho bà vui nhất là anh em chúng tôi đã sinh cho bà những đứa cháu xinh xắn và học giỏi. Vợ chồng tôi 2 đứa, đủ cả trai gái, còn hai đứa em ở quê, 4 đứa con gái. Thằng con lớn của tôi, cháu đích tôn của bà, khi sinh nó tôi đã đặt tên là Duân. Bên ngoại dân miền Nam khó nói chữ Duân nên cứ gọi nó theo tên đệm là Huy, riết rồi quen luôn. Mọi người không hiểu nguyên cớ tôi đặt tên cho thằng con cái tên lạ và khó gọi đó. Hồi nhỏ, mỗi kỳ Thanh minh, vì học giỏi nên tôi thường được ông nội dẫn đi rẫy mộ, chỉ bảo cặn kẽ, ý ông tin tưởng giao cho tôi “cai quản” số mồ mả thuộc một chi của dòng họ. Vậy mà tôi thì xa quê, ở nhà mồ mả di dời tập trung thế nào lại để lạc mất mộ bà nội. Tôi thường day dứt về chuyện này, tôi luôn muốn làm một cái gì đó để thể hiện tình cảm với bà, nên khi biết lúc bà chết, người niệm xác bà là ông Duân, tôi đã lấy tên người chăm lo cho bà phút sau cùng đó đặt cho đứa con. Khi nó thi đại học đã dư điểm đậu vào ngành lấy điểm cao nhất là Công Nghệ Thông Tin của Đại học Bách khoa, vậy mà không thèm học, còn muốn du học tận bên Mỹ. Lúc đầu tôi cũng lấn cấn, thằng Mỹ nó giết anh ruột mình năm 68, giờ lại cho con sang đó học. Nhưng thằng con không phải là con riêng của tôi mà còn là con của mẹ nó. Với lại, nước ta cũng đã "khép lại quá khứ, hướng đến tương lai", đã coi Mỹ là bạn. Mấy con ông "cốp" cũng đều sang đó học, và với nước Mỹ, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích vĩnh viễn mà thôi. Nên cuối cùng tôi đã đồng ý cho nó đi. Đứa con gái tôi đặt là Thu Phương, ghép tên hai đứa bạn gái cùng học, một đẹp nhất, một giỏi nhất, những mong nó cũng được như lũ bạn. Còn thực tế thì nó học được cả văn, toán, điểm vào cấp 3 của nó là 61, trên cả điểm tuyệt đối, vì từng đoạt giải nhất Văn TPHCM được cộng thêm một điểm. Nhưng tôi không cho thi toàn quốc, bởi hiểu rằng dấn quá sâu rồi phải nặn chữ ra mà kiếm sống ở cái thời buổi này là một cực hình, nên đã cho nó thi vào Ngữ văn Anh, để vừa có thể phát huy được năng khiếu vừa biết Anh văn, mà có bằng cấp Anh văn thì không thể chết đói giữa Sài Gòn được.
      Thằng em út kém tôi 10 tuổi, vợ chồng nó được cái mát tay mở quán ăn, làm giò chả bán luôn. Thấy tôi suốt ngày lọ mọ với sách vở, từng nói: “Đời tôi suốt 25 năm nay, có đọc cuốn sách quái nào đâu mà đâu có sao?” Nay có 3 đứa con gái đều xinh xắn và học giỏi, suốt ngày chỉ bàn chuyện thi vào trường này, trường nọ, giờ sắp thành bố kỹ sư rồi. Đứa con lớn cũng học Công Nghệ Thông Tin sắp ra trường. Đứa thứ hai là Cúc vừa mới đậu đại học, ở với vợ chồng ông anh vì hai người không con, chắc cưng quá nên nó thương còn hơn cả bố mẹ đẻ; mẹ nó bảo: “Giờ nó coi chúng em là chú thím nó rồi!”. Còn cô út là Ngọc thì xinh xắn, nhưng nó không yểu điệu thục nữ mà có vẻ đẹp hiện đại theo kiểu “chân dài đến nách”, mới 15 đã 1m65, tương lai có thể thành người mẫu được, nhưng nó chỉ thích làm cô sĩ quan an ninh thôi. Bố nó thì bảo: “Mày hãy báo thù Đại học Tài chính cho bố (vì đứa lớn thi tài chính trên 20 điểm mà không đậu vẫn còn ức), nếu được, cái gì tao cũng chiều, xe máy, vi tính, mà là “xách tay” chứ không thèm chơi loại thường”. Tôi bảo: “Nó thích gì thì cho nó học, báu gì cái tài chính, sau này đi làm không thông đồng với giám đốc, nó đuổi, mà thông đồng thì có ngày vào tù”!
Trong 6 đứa cháu, bà thương đứa cháu ngoại là cái Hồng nhất, đơn giản là vì bà nuôi nó. Mẹ nó trước đây lỡ làng, có điều oái oăm là, sau khi “xin” được nó thì lại đi lấy chồng. Mẹ tôi nuôi đứa cháu ngoại là thế. Cũng may con bé rất ngoan và cũng xinh xắn, có điều học không được giỏi. Tôi nghĩ, nó chỉ học lớp cô dạy mẫu giáo là hợp nhất. Ai ngờ tôi chưa kịp nói ra thì ở quê nó đã làm đúng y như vậy, hết cấp 3 đã thi đậu vào trường dạy mẫu giáo ở Hải  Dương. Gần đây, khi bà cho tiền thường nói: “Bà cho tiền lần này là lần cuối đấy nhá, chịu khó học, sau này ra trường có đồng lương mà ăn”. Bà nói vậy cho nó chịu khó học, cũng có thể do bà đã linh cảm được ngày cuối của mình. Có điều hay là, khi bà mất cũng là lúc nó ra trường rồi được giữ lại, và đã bắt đầu tự lo cho mình được, lại còn học tiếp lên đại học nữa.
Như vậy, trước mắt còn bao khó khăn, tương lai xa không biết thế nào, nhưng mấy đứa cháu của bà đều yên ổn và đầy hứa hẹn cả, có phải bà đã tích đức, để phúc lại cho những đứa cháu hôm nay không?
Mẹ tôi, một cô bé 7-8 tuổi, bố chết, mẹ lấy chồng xa, cầu bơ cầu bất, dắt em đến ở hết nhà ông cậu đến nhà bà cô, lớn lên đi lấy chồng cũng khác thường, bởi bố tôi đã hỏi bà trong ngày bà nội tôi mất để cưới chạy tang. Rồi một đời cặm cụi với đồng áng, bà đã làm hết phần của mấy đứa cháu nên chúng sinh ra ở quê mà gót chân không một lần lấm bùn đất. Một đứa trẻ mồ côi, lại ở cái thời mông muội ấy làm sao được đi học, bà đã để dành lại tất cả chữ nghĩa cho con cháu. Dù bà không biết chữ nhưng rất thông minh, trí nhớ rất dai, cư xử mọi chuyện đâu ra đó, bà là thuyền trưởng lèo lái con thuyền nhà tôi. Bà không biết chữ nhưng đã đẻ ra nhà văn, rồi bây giờ hoàn toàn có thể trở thành bà của 6 đứa cháu cử nhân, kỹ sư. Đời một con người được vậy, hỏi có hạnh phúc nào hơn?

***

Sáng sau, rất may là tôi đã mua được vé chuyến 11giờ 30. Về nhà sửa soạn, tôi lấy tấm ảnh của mẹ treo ở bàn thờ đặt tại phòng khách. Tôi bắt chước ở quê, đặt bàn thờ ở phòng khách cho ấm cúng, Ông Bà Tổ Tiên có về thì luôn có con cháu quây quần. Vợ chồng con cái thắp hương lạy bà xong tôi nói: “Lẽ ra hai mẹ con phải về cùng tôi chịu tang bà, nhưng gấp gáp, mẹ mày cũng yếu, về quê bệnh, phải lo đám ma lại lo thêm cho mẹ mày nữa thì cũng rắc rối ra. Thôi để tôi về một mình. Sống xa quê thì phải vậy thôi”. Xong, tôi kêu tắc xi ra sân bay.

***

Sau các thủ tục, chuyến bay bắt đầu cất cánh. Tôi có một niềm tự hào nho nhỏ là, so với mấy bà ở quê được đi huyện chơi cũng khó thì tôi đã cho mẹ “cưỡi máy bay” vào Sài Gòn không chỉ một lần. Mỗi khi bước lên máy bay tôi lại nhớ những lần cùng đi với mẹ. Khi máy bay đạt độ cao ổn định, mặt đất chỉ còn lờ mờ phía dưới, còn trước mặt thì mở ra cả một khoảng trời mênh mông, ngàn trùng mây trắng. Tôi nhớ cô con gái lúc còn nhỏ xíu trong một lần về quê khi nhìn thấy cảnh này đã thốt lên: “Ôi! Bao la quá!”. Tôi biết nó rất nhạy cảm và có khiếu văn chương thực sự. Nhưng với kinh nghiệm của tôi, đến tận giờ tôi cũng chưa thể trả lời được, có tài văn chương sẽ là phúc hay họa? Nên tôi không khuyến khích và cũng không ngăn cản nó. Thôi cứ để cho số phận xếp đặt. Như tôi đây, hồi nhỏ ghét học văn vô cùng, không biết do cơ duyên nào đã dẫn tôi đến nghiệp văn chương, nó đã làm tôi hao tổn biết bao tâm trí và thời gian mà mang lại rất ít lợi lộc. Bên cạnh công việc chuyên môn phải làm, tôi từng lao vào văn chương với tất cả niềm say mê của mình. Nhưng khi bận, viết cũng ngại, và cái chính là nghề văn này không phải cứ viết hay thì được đăng và hay dở cũng không có chuẩn mực cụ thể. Tôi viết văn thiên về chất tư tưởng và quan tâm nhiều đến lĩnh vực tri thức, đơn giản là vì tôi làm nghề nghiên cứu, vì vậy mà ít độc giả. Nước mình đa số nông dân, chất nông dân đã ngấm vào máu từ ngàn đời nên thẩm mỹ số đông vẫn còn là thẩm mỹ tiểu nông, không chỉ ở người bình dân mà ở cả giới trí thức, nhà văn, nhà thơ. Tác phẩm có một chút thâm nho, một chút tếu táo người ta khoái đọc, như khoái ăn cà pháo mắm tôm với canh cải nấu cua vậy, hơn là những vấn đề tư tưởng cao siêu, tri thức khoa học rắc rối. Vì vậy mà tôi nản, nhiều lần muốn buông bút. Người thân, bạn bè học tự nhiên lại đế thêm: “Viết làm đéo gì”. Ngược lại, không ít bạn viết và những độc giả hiểu biết lại bảo: “Ông mà không viết là phí lắm đấy!” Còn tôi, thực tình không thích văn chương lắm, nhưng luôn có một động lực vô hình nào đó thúc đẩy, những nghĩ suy, tâm tư cứ dâng đầy, buộc tôi phải viết ra. Theo giáo lý nhà Phật, tôi đã bị ngọn gió nghiệp cuốn đi. Nhưng kiếp trước tôi đã làm gì để nay phải trả cái nghiệp văn này? Dù vậy, cái nghiệp văn chương cũng mang lại cho tôi không ít niềm vui, mỗi khi những tác phẩm tâm đắc được đăng, tôi thấy mình như được sinh ra, bạn viết, độc giả khắp nơi tíu tít điện thoại đồng cảm. Hơn nữa, nhờ những con chữ, tôi đã tạc được hình bóng mẹ, tôi muốn mẹ bất tử trong những trang văn của tôi. Tôi bỗng nhớ đến chuyện tôi từng làm một bài thơ dài dự thi ở một tạp chí Văn Nghệ lớn nhất nước nhân dịp Giao thừa Thiên niên kỷ. Bài thơ của tôi từng được xếp đầu nửa chặng thi gần 5000 bài nên được tặng thưởng năm đó. Bài thơ có nhiều chi tiết tôi viết về mẹ, trong đó có chuyện đi máy bay này:
Mẹ ơi!
Mẹ hãy vào chơi với con
Con sẽ mời mẹ đi máy bay
Xin mẹ đừng có ngại ngần vì đôi bàn chân gần một thế kỷ lấm láp trong phân gio bùn đất 
Mẹ hãy cứ kiêu hãnh dẫm lên những bậc cầu thang sáng loáng, dẫm lên những tấm thảm trải sàn sang trọng 
Rồi mẹ sẽ bay lên tận cái khoảng không mà suốt đời mẹ vẫn tưởng chỉ giành riêng cho thiên thần tiên nữ…

Vậy mà giờ đây mẹ tôi cũng đã hóa thành tiên rồi! Mẹ ơi! Giữa những tầng trời thăm thẳm kia, linh hồn mẹ đang ở đâu?

***

Vừa về đến Nội Bài, điện thoại lại tíu tít. Có lẽ giờ này mọi người đã tề tựu đông đủ, vì thân thích nhất ngoài nhà tôi ở Sài Gòn, chỉ có hai đứa cháu học xa, bà cô ruột ở Hà Nội và bà dì ruột lấy chồng người dân tộc trên mạn ngược. Mẹ tôi sinh 7 anh em, chết 3 (bà chị cả tên Vẻ (mẹ tôi là Vui) anh trai thứ hai là Sơn liệt sĩ năm 1968 và đứa em trai áp út tên Dũng chết lúc còn bé; còn sống bốn: ông anh thứ 2 là Đảo, tôi, cô em gái là Lân và thằng út là Mạnh. Bố tôi vốn là một chiến sĩ Điện Biên đã đặt tên mấy đứa con trai là: Sơn, Đảo, Hùng, Dũng, Mạnh để thể hiện tinh thần quật cường của đất nước. Từ sân bay, tôi thuê tắc xi về quê, nhưng rất nóng ruột vì nó chạy như rùa bò bởi sợ bị bắn tốc độ. Cứ được một khúc lại có điện thoại. Rồi cuối cùng tôi cũng về đến được đầu làng. Chuyện trò với tài xế dọc đường, tôi đã nguôi đi phần nào nỗi đau mất mẹ, nhưng khi thấy văng vẳng tiếng kèn trống đám ma, nỗi đau trong lòng tôi lại bùng phát, mỗi lần “về quê” đồng nghĩa “về với mẹ”, nay mẹ mất rồi, tôi về với ai?
Loạng choạng xách đồ đạc theo con ngõ quen thuộc, tôi lao về nhà gặp mẹ. Gần tới nhà, tôi thấy lá cờ đám ma mà tôi từng gặp đây đó ở các con hẻm Sài Gòn khi nhà ai đó có tang, thì nay ác thay, nó lại cắm ngay đầu ngõ nhà mình! Rải rác hai bên đường mấy bà mấy cô túm năm tụm ba, thấy tôi mọi người kêu lên: “A, Thằng Hùng về kia rồi, cháu ơi về nhanh lên, mẹ mất rồi, cháu ơi!” Đến lúc này tôi không kìm nổi nước mắt được nữa. Đến cổng, tôi chỉ thấy nhấp nhoáng người vào người ra tấp nập. Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đàn bầu, tiếng nhị được khuyếch đại inh ỏi, trộn với tiếng gào khóc của cô em gái, 4 đứa cháu, cùng với bà con cô bác. Tất cả mọi người đổ dồn về phía tôi. Một bà thân thích nào đó, vì tôi quá chú ý đến mẹ nên không còn biết là ai nữa, kéo tay tôi vào nhà: “Vào gặp mẹ đi cháu”. Tôi lao đến bên quan tài kê giữa nhà. Mẹ tôi đó, giờ đã lọt thỏm trong chiếc quan tài màu vàng nâu mộc mạc, trên nắp có vắt những dải khăn trắng, có lẽ là khăn tang dành cho vợ con tôi. Dưới ánh nến bập bùng, qua ô kính nhỏ, tôi thấy gương mặt mẹ thanh thản, không có dấu vết gì của bệnh tật cả, mắt nhắm nghiền như người đi ngủ. Tôi nấc lên: “Mẹ ơi!” Tiếng gọi ngắn ngủi, thầm thì, chìm lấp trong những tiếng gào khóc xung quanh, nhưng nỗi đau trong lòng tôi thì thăm thẳm mênh mông!
Rồi mọi người kéo tôi ra giường, tôi ngồi thất thần như khúc gỗ kệ cho họ mặc áo tang và thắt khăn. Tôi bỗng thấy mình bé nhỏ biết bao, thế là từ nay tôi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ! Áo tang bằng vải sô, là áo “trảm thôi”, nhưng chắc là cắt bằng kéo chứ không phải chặt bằng dao theo đúng tục lệ cho tướp ra, cũng có sợi đay buộc vòng ở bụng. Sau đó, thật lạ, tôi nguôi đi rất nhanh, mẹ tôi cũng đã 89 rồi. Mà có ai tránh được cái chết? Từ các thánh nhân, vua chúa xưa đến các nguyên thủ quốc gia nay. Đức Phật cũng từng dạy: “Không ở trên không, không ở dưới biển, không ở rừng núi, không một chỗ nào trốn được cái chết”; rồi: “Ngay đến chư Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thinh văn còn phải bỏ cái thân vô thường, huống nữa là phàm phu". Tôi không chỉ đã làm tròn bổn phận mà còn được xóm giềng coi như một tấm gương về lòng hiếu thảo. Cái đầu hay phân tích lại bắt đầu hoạt động trở lại, thì ra cái tâm trạng khổ đau hay sung sướng cũng có cơn như đói như no vậy. Trời đã về chiều, mấy đứa con gái, dâu rể của bà cô ruột phải về Hà Nội, nên tôi phải đi ăn tiếp chúng nó. Nhưng tôi mệt bã người làm sao mà nuốt được, chỉ ngồi nhấp rượu suông, thỉnh thoảng húp ít nước luộc thịt mà quê tôi gọi là nước “suýt”.
Ăn uống, tôi tiễn mấy đứa em ra về xong, trời bắt đầu tối, lúc này tôi mới tỉnh táo quan sát khung cảnh đám ma mẹ mình. Bàn thờ mẹ tôi là chiếc bàn bằng mây đặt ở đầu hè trước cửa chính, phía sau cột hai cây chuối nhỏ, ảnh mẹ tôi đặt trên đó, phía trước là khoanh thân cây chuối cho mọi người cắm nhang, hai bên treo lá cờ vải sô trắng ghi hai chữ Nho “Trinh Thuận” và dăm bẩy vòng hoa xếp quanh. Hai bức trướng, một của bà cô, một của ông thông gia bố vợ thằng em út treo ở bàn thờ trong nhà. Văn chương Hà Nội quả có khác ở quê: “Bóng hạc xe mây về cõi Phật/ Để lại trần gian phúc cháu con”; còn bức mua ở quê thì nôm na: “Thắp nén hương thơm lòng tưởng nhớ/Vô cùng thương tiếc lúc tiễn đưa”. Ông anh cùng thằng em nuôi đứng hai bên bàn thờ đáp lễ, cũng chống gậy vông theo tục lệ nhưng không đẽo vuông. Ông chú con cô cậu ruột với bố tôi bảo: “Mày nay mệt thì thôi chứ mai phải đứng cùng thằng Đảo đáp lễ đấy”. Thì ra cây gậy vông dựa trước bàn thờ là chuẩn bị cho tôi. Tất nhiên phải vậy rồi. Bây giờ phú quý sinh lễ nghĩa hay các hiện tượng tâm linh xuất hiện nhiều đã buộc dương gian phải thay đổi thái độ trước thế giới huyền bí? Ngày xưa vẫn hay xuất hiện những câu chuyện ma làm lũ trẻ con chúng tôi hoảng sợ, đi chơi về khuya, tôi thường chạy chứ không dám đi. Không biết có phải do khí âm bao đời tích tụ lại làm đêm quê lạnh lẽo, hay hệ thần kinh thực vật có thể nhận diện được những hồn ma đã khiến tôi sợ một cách vô cớ như thế?
Quê  tôi có một cái chùa nhỏ, theo Ngọc phả thì được cụ Thành Hoàng xây từ thời vua Trần Thái Tông, hầu như không có ai đi tu nên có chùa mà không có sư. Bây giờ chủ tế trong những ngày lễ tết là chị Thậm, một phụ nữ xinh xắn, chồng hy sinh nhưng không tái giá, không biết cơ duyên nào đã dẫn chị đến kinh kệ; chị khoảng 60, mặt trông còn trẻ nhưng tóc bạc trắng trông như một đạo sĩ. Chập tối, các cụ đã đến làm lễ “quy Đông quy Tây”. Sau đó các bà các cô mặc áo dài trắng đồng tế, cầu Phật cho linh hồn mẹ tôi được siêu thoát. Có lẽ do tự phát nên nghi lễ quê tôi không thuần nhất, đã được pha trộn giữa đạo Phật, đạo Nho và cả những tập tục riêng. Nhưng dù sao tôi thấy cái mộc mạc dân dã cũng có cái hay riêng của nó. Có ồn ào náo nhiệt đấy nhưng không thiếu bi thương; bề bộn, rườm rà, thậm chí luộm thuộm đấy nhưng không thiếu trang nghiêm, thành kính. Nhưng  trùm lên hết là cái quý giá nhất, nhân văn nhất mà không lễ nghi sang trọng nào có thể sánh được, đó chính là cái nghĩa tình làng quê chân chất, mộc mạc, đằm thắm. Ở Sài Gòn, tôi thấy đám ma cũng làm cơm, nhưng chủ yếu cho người nhà và những bà con ở quê lên đến bữa thì ăn, còn quê tôi không phải làm cơm mà là làm tiệc. Nhà nào có người nằm xuống là phải lo bắc rạp, mổ gà, mổ lợn. Người hiểu Đạo Phật sẽ thật e ngại vì việc sát sinh, nhưng đã thành tập tục rồi thì thật khó mà thay đổi được. Và có gì không phải khi người nhà nằm xuống mà lại làm tiệc như ăn mừng? Nhưng ngẫm đi ngẫm lại thấy nhiều điều thâm thúy. Theo nguyên lý cân bằng âm dương, âm phải được dương cân bằng thì nỗi buồn cần được chữa trị bằng niềm vui, mất mát cô đơn thì cần được tề tựu đông vui khỏa lấp. Vì tình nghĩa người ta đến viếng, đưa tang xong ra về bụng đói meo sao bằng tiệc tùng thỏa mãn no đủ. Xuống nhà dưới tôi thấy gà, lợn mổ xếp hàng hàng. Người xay giò, người chặt thịt, người thái rau nhoay nhoáy nhoay nhoáy, nhộn nhịp như một công xưởng. Tiệc tùng đám ma mẹ tôi một tay cô em dâu chỉ đạo tất, công nhận là nó tháo vát thật. Còn chuyện tiền bạc tính sao đây? Sợ kỳ này mang về thiếu, tôi hỏi ông anh, không ngờ ông anh cho là chuyện nhỏ:
- Không sao đâu, người ta đi cũng đủ ấy mà, ở nhà chúng tôi đi cho người ta thì nay họ đi lại, chú đừng lo.
Tôi yên tâm, lên nhà thấy thằng em nuôi ngáy khò khò trên cái giường kê ở gian bên phải; mấy đứa cháu gái vẫn quanh quẩn bên quan tài bà, trông rã rượi, chắc mệt nên không khóc nữa. Tôi khẽ nằm xuống tránh động mạnh để thằng em nó ngủ. Đây là cái giường mà mỗi lần về quê mẹ thường trải chiếu giăng mùng cho tôi đây. Đêm đầu tiên mẹ nằm trong quan tài thế kia sao mà tôi ngủ được. Nhưng mệt quá sắp thiếp đi được thì lại thấy ồn ào, thì ra mọi người đang làm lễ “dở mình” cho bà, sợ bà nằm lâu, bị mỏi.

***

Sáng sau, sau hai đêm không ngủ, người tôi ê ẩm, miệng đắng ngắt, hai mắt khô khốc. Đánh răng xong, tôi đi kiếm tí nước cháo húp cho lại sức. “Nay vào việc chính bị xỉu thì nguy to!” Mọi người xếp sẵn ghế cho 4 anh em tôi, khi ai đến viếng thì đứng dậy đáp lễ, xong lại ngồi xuống.
Đến giờ, kèn trống, đàn nhị lại tấu lên. Tôi giật mình khi nghe qua loa:
- Ờ mẹ ơi! Con là con dâu thứ hai của mẹ khóc mẹ đây mẹ ơi!
Thì ra ai đó đã đưa tiền cho đội khóc thuê khóc thay cho vợ tôi. Một lúc sau tiếng loa lại vang lên:
- Ờ bà ơi! Cháu là cháu đích tôn của bà khóc bà đây bà ơi!...
Nghĩ tới thằng con xa tít mù bên Mỹ, trước đông người, đàn ông khóc thì ngượng, nhưng rồi tôi chẳng kìm được, mặc kệ nước mắt cứ trào ra.
Lúc này khách khứa bắt đầu lục tục vào viếng. Tất cả đều được xướng tên và ghi vào sổ, khi họ thắp nhang khấn vái thì bốn anh em chúng tôi đứng chống gậy cúi đầu đáp lễ, sau đó người phát ngôn nói lời cảm ơn và: “Xin mời các cụ, các ông, các bà dùng cơm với gia đình, đến trưa đưa cụ tôi ra đồng”. Đám ma mẹ tôi quả thực là rất đông. Một phần bà hiền từ nên ai cũng quý, một phần đúng vào ngày lễ 2-9, mọi người đi xa đều về nghỉ lễ. Đoàn viếng của họ Nguyễn Huy nhà tôi do ông Sơ, vai anh tôi, trưởng họ dẫn đầu gần 100 người; thằng em tôi sau này tự hào: “Đông nhất từ trước tới nay!”
Ròng rã mấy tiếng thì khoản cúng viếng và ăn uống cũng hoàn tất. Đến giờ làm lễ truy điệu, quan tài được khiêng ra ngoài sân, tôi và anh tôi chống gậy đứng hai bên. Ông ấy dặn:
- Chốc nữa mình đi lũi ra đến cổng thì thôi, rồi chống gậy đi trước, lẽ ra phải đi chân đất, nhưng chú đi giày cũng được!
Một ông khác cũng trong họ làm trưởng thôn đọc điếu văn, nêu đức độ và công trạng của mẹ tôi là đã “Sinh ra được một người con trai đã hy sinh anh dũng cho sự nghiệp Cách mạng”, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là mẹ tôi cả đời chỉ biết làm ruộng cũng có một danh phận: “Hội viên Hội Nông dân Việt Nam”. Rồi giây phút động quan trọng đại nhất đã đến, mệt nhất là bốn đứa cháu gái, chúng khóc không phải thảm thiết mà như điên dại, cứ ôm ghì khoảng kính nhỏ trên nắp quan tài chỗ gương mặt bà. Mấy bà can: “Các cháu ơi! đừng nhỏ nước mắt vào mặt bà, rồi bà sẽ khổ mà các cháu cũng khổ đấy!” Theo giáo lý đạo Phật, sau khi chết, thần thức con người thành “thân trung ấm”, còn rất bỡ ngỡ trước cái chết và nhiều lưu luyến với gia đình, nên người nhà mà khóc quá thì linh hồn sẽ khó siêu thoát. Còn các bà có lẽ sợ chuyện âm dương tiếp xúc xảy ra chuyện “quỷ nhập tràng”. Nhưng mấy đứa dường như không nghe thấy gì, chúng cứ ngăn không cho người ta gỡ miếng kính ra để đóng nắp gỗ kín lại. Tôi đâm cáu:
- Mấy đứa có thôi ngay đi không, để yên cho người lớn làm việc. Thương bà thì ai mà không thương, phải biết kiềm chế chứ, chúng mày muốn bà khổ à!
          Vậy mà phải nhùng nhằng một lúc mới dẹp yên được. Đúng 11 giờ trưa, cô em dâu coi thầy bảo phải hạ huyệt trong khoảng 11-12 giờ, quan tài được mấy thằng cháu trong họ khỏe như voi nâng trên vai khiêng ra đầu ngõ đặt lên xe tang kéo tay. Tôi và ông anh đi giật lùi đúng theo tục “cha đưa mẹ đón”. Giữa trưa nắng đến rát cả mặt, nhưng cũng còn hơn mưa. Nhà tôi ở rìa làng nên cách nghĩa địa không xa. Đám ma mẹ tôi không “phương tướng” đuổi quỷ mở đường; không “thể kỳ” ghi câu “Dĩ lĩnh vân mê”; không “minh tinh” ghi chức tước, họ tên, thụy hiệu,… chỉ có hương án, người đánh chiêng và cờ dẫn đường trước xe tang. Cũng không có cảnh con gái trưởng và con dâu trưởng vừa khóc vừa lăn đường thảm thiết. Tục lệ chỉ còn thế, mà nếu có còn đủ thì mẹ tôi, một người chỉ quen cho chứ ít khi biết nhận, sẽ rất ngại khi phải nhận những gì quá long trọng. Sau một lúc, anh em con cháu chúng tôi cùng bà con xóm giềng đã rồng rắn đưa mẹ tôi đến nghĩa địa. Huyệt đào chỗ ruộng lúa đang làm đòng, khoảng nới rộng của nghĩa trang. Mấy đứa nhóc con đã bị khống chế không cho đến gần huyệt mộ. Cũng chẳng có lễ tế thổ thần, quan tài mẹ tôi được hạ huyệt. Mỗi người cầm một hòn đất ném xuống mộ, tôi tra sách thì biết tục đó gọi là “đi dong nhan”.  Rất nhanh sau đó nấm mộ đã thành hình, vòng hoa được ốp xung quanh, mấy khoanh cỏ được đắp lên để đồ cắm nhang, bát cơm cúng với quả trứng luộc và cắm chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn. Chiếc đũa chữ Hán Việt là “khoái”, chữ “khoái” có một nghĩa là lính bắt cướp; cái gai nhọn chữ Hán Việt là “thứ”, “thứ” có nghĩa là đâm chết. Vì vậy, chiếc đũa gai tượng trưng cho một người lính bảo vệ, được người xưa dùng làm bùa trừ ma quỷ.
Thế là cát bụi lại trở về với cát bụi, thân thể mẹ tôi rồi sẽ tan dần vào lòng đất, ngay trên cánh đồng quê này, nơi đã nuôi sống bao đời người dân quê tôi. Một lần tôi đã viết:

Đất như bị lột da vẫn không kịp cho những vụ chiêm mùa
Những vụ mùa xếp hàng chờ nhau đến lượt

Cánh đồng là nguồn mạch của hồn thơ tôi, những câu thơ hay nhất của tôi chính là viết về cánh đồng này, về những người thân yêu. Tôi nhớ hình ảnh ông nội tuổi 70 vẫn mặc áo tơi, còng lưng cuốc ruộng; mẹ tôi còng lưng cấy lúa, dáng cong cong như dáng những nhịp cầu, cùng với vô vàn người nông dân đã bắc nên cây cầu bằng xương thịt, bằng bao nỗi khó nhọc, không phải để xe cộ đi qua mà tất cả, từ lịch sử, niềm vinh quang cho đến cả nền văn minh đã đi trên đó. Thử hỏi loài người không có hạt lúa củ khoai do những người nông dân làm ra thì sẽ đi được tới đâu, không bước nổi trên mặt đất chứ nói gì đến những nền văn minh! Nhưng loài người vốn bất công và bội bạc, những người cao quý nhất lại được coi là thấp kém nhất, những sản phẩm do họ làm ra, không có chúng cuộc sống sẽ không tồn tại, lại được định giá rẻ mạt nhất. Người nông dân được mùa thì mất giá, còn mất mùa thì mất ăn luôn, mãi mãi luôn là tầng lớp nghèo khổ nhất. Ngược lại, người ta đã bầy ra đủ thứ trò, trong đó có không ít những thứ nhăng nhít, rồi xúm vào sơn phết, tôn vinh những cái mà không có chúng cuộc sống chẳng sao cả, để rồi đầu cơ trục lợi qua chính những trò đó. Từ những suy nghĩ đó tôi đã viết:

Cong cong như lưng ong
Cong cong như lưng tôm
Như mẹ tôi
Như ông nội tôi
Như Tổ Tiên tôi
Những nhịp cầu
Trên bao cánh đồng quê

Không phải bằng sắt thép bê tông
Những nhịp cầu xương thịt
Không phải để dòng sông chảy qua
Mà máu chảy
Không phải để xe cộ đi qua
Mà lịch sử đi qua

Trên đó có bước đi của nền văn minh
Có bước đi của niềm vinh quang

Cuộc sống đã vươn tới những tầm cao nhất
Luôn ở tầng thấp nhất những nhịp cầu.
Thôi mẹ hãy an nghỉ. Cầu mong Trời Phật phù hộ độ trì cho linh hồn mẹ được siêu thoát và sớm được tái sinh đúng như Phật dạy: “Chúng sanh nào tình và tưởng bằng nhau thì sẽ phát sinh vào cõi người… Bởi tưởng là thông sáng, tình là u mê. Nếu tình và tưởng ngang bằng nhau thì không lên và cũng không đi xuống”. Trước sáu cõi, thần thức có thể được đầu thai vào cõi cao hơn, sung sướng hơn cõi người, nhưng con chỉ cầu xin Trời Phật cho mẹ con được trở lại cõi người, cái cõi có lắm gian nan, lắm khổ đau, nhưng cũng nhiều niềm vui này, để rồi các con lại được làm con của mẹ, các cháu lại được làm cháu của bà, cứ thế mãi mãi, vô lượng kiếp!

***

An táng mẹ xong, anh em chúng tôi cảm thấy nhẹ người vì chúng tôi đã hoàn thành công việc trọng đại một cách trọn vẹn, chúng tôi đã giành cho mẹ những gì tốt đẹp nhất. Đến chiều anh em ngồi lại với nhau, kiểm kê và xử lý tài sản của bà. Tôi ngồi nghe mà cay cay sống mũi. Hai mươi năm nay tôi chỉ mong được cho mẹ chứ có bao giờ nghĩ lại có ngày ngồi như thế. Tiền mặt của bà quyết định chia cho tất cả những đứa cháu để lấy lộc, cả ruột lẫn nuôi 11 đứa. Bà còn một thằng con nuôi là thằng Cưỡng, nó mua nhà của ông anh ở phía dưới rồi thành con luôn. Nó đúng là một nông dân chính hiệu, khi nhà có việc, những gì nặng nhọc nó gánh hết. Anh em tôi có tính lười, chỉ tài chỉ tay năm ngón. Còn vàng vòng, thóc lúa tính ra bà còn gần một cây, cả nhà quyết cho cái Hồng tất, vì nó sống với bà và cái chính là nó không có bố. Chi phí đám tang người ta đi vừa đủ. Bà ra đi nhẹ nhàng không làm phiền đến ai, con cháu đã không phải tốn công chăm sóc, cũng chẳng mất một xu nào, thế là trọn vẹn một đời bà chỉ biết hy sinh, chỉ biết cho mà không biết nhận, nếu có nhận của tôi cũng là để cho các cháu. 
Lần đầu tiên, trước một sự kiện trọng đại mà tôi lại không mất tiền, không mất tiền lẽ ra phải vui nhưng tôi thấy hụt hẫng, thế là từ nay mẹ không còn cần gì ở mình nữa. Trời đã nhá nhem, con mèo ở đâu đó trở về, cứ nhảy lên giường, đi vòng vòng “ngao ngao” khóc bà. Tôi lại chảy nước mắt: “Mẹ kiếp! đến con vật mà nó còn biết thương mẹ mình thế!” Tôi nghĩ đến không ít trường hợp bố mẹ chết, con cháu chửi bới, đâm chém nhau vì chia tài sản; thậm chí có kẻ còn mong bố mẹ chết sớm để chóng hưởng thừa kế, đúng là nhiều kẻ làm người mà còn thua xa loài vật!

***

 Đêm đầu tiên thân xác mẹ tôi giữa cánh đồng nhưng hồn mẹ đang ở đâu? Mấy bà mấy cô đến làm lễ phục hồn. Nói chung mọi người đã dành cho mẹ tôi tất cả sự chu đáo. Nhưng trước cái biến cố quá lớn lao này, đã được cầu an, liệu hồn mẹ có an tĩnh được không?
 Sáng sau tôi ra quán thằng em ăn sáng, nó bảo:
- Có chuyện rắc rối, cái Nhung điện về bảo, nó nằm mơ thấy bà không chịu về nhà cứ lang thang ngoài đường, vào vườn chuối bốc cơm của con ngan ăn, nó hỏi bà có thích ăn đậu không cháu dẫn bà đi mua, rồi bà bám vai nó dìu đi chợ, sáng dậy nó thấy chỗ vai mà bà bám tê dại và rất đau. Vợ tôi với bà Đảo đi coi rồi.
Trước đây thì tôi bật cười, nhưng bây giờ lắng nghe một cách nghiêm túc. Gần đây tôi dành khá nhiều thời gian tìm hiểu hai lĩnh vực huyền bí từng ít nhiều trải nghiệm là khoa coi Tử vi và đặc biệt là hiện tượng ngoại cảm; nhiều chuyện từng được cho là thần thoại thì giờ buộc phải nghĩ khác. Ngay hôm trước cũng đã có một chuyện lạ xảy ra với mấy đứa cháu, vì mải lo chuyện tang ma tôi chưa chú ý. Lúc chúng ôm quan tài bà, cái Hồng đột nhiên kêu lên: “Ơ mẹ ơi! Bà nắm tay con, bàn tay con tê cứng như có tay bà ở trong, con không co ngón tay vào được”. Một lát sau cái Hồng hết, đến lượt cái Nhung: “Ô đến lượt bà nắm tay em…”. Rồi đến cái Cúc. Kể bình thường cũng có lúc người ta tê chân tay, nhưng làm sao lại tê cả 3 đứa cùng một lúc, còn lần lượt hết đứa này rồi mới đến đứa khác! Tôi đôi lúc có luyện khí công. Khi khai mở luân xa và các huyệt đạo, dẫn dòng năng lượng bên ngoài vào cơ thể chỗ nào sẽ làm chỗ đó tê nặng, nếu tập trung cao độ, có lúc tôi đạt trạng thái mà tôi chưa thấy sách nào viết, cả người tôi được thổi căng như quả bóng vậy. Dường như dòng năng lượng bên ngoài là dòng ion cùng dấu đã đẩy nhau làm cơ thể tôi căng ra. Vậy phải chăng “cơ thể” linh hồn mẹ tôi cũng được cấu tạo bằng một dạng năng lượng điện, khi bà nắm tay mấy đứa, đã truyền điện làm tay chúng tê đi. Còn cái Nhung khi nằm mơ gặp bà bám vào vai, sáng dậy chỗ vai đó đau đến 3 ngày. Phải chăng linh hồn bà thuộc khí âm lạnh, làm máu kém lưu thông, nên sáng dậy nó bị đau như người ta bị trúng gió, bị cảm vậy?
Đến gần trưa vợ thằng em sau khi đi coi về kể:
- Bà ấy nói đúng quá anh ạ! Đầu tiên em với chị Đảo viết tên tuổi bà hỏi xem bà thế nào. Bà ấy bảo: “Tuổi này quy tiên rồi”. Em mới giả vờ không biết hỏi: “Quy là gì?” “Là chết chứ là gì. Có phải đưa cụ đi viện ban đêm không?” “Dạ phải, chúng em đưa bà em về nhà, bà em mất lúc 12h30”. “Không phải đâu, cụ mất 12h kém 5, chỗ cái cầu gần cổng bệnh viện đấy. Bây giờ cụ còn lưu luyến chỗ đó nên chưa về nhà đâu. Có phải cụ đã về báo mộng cho một đứa cháu phải không?” “Dạ phải, thế bây giờ chúng em phải làm thế nào ạ?” “Tối nay sắm một cái lễ, nắm 9 nắm cơm nhỏ, luộc quả trứng cắt ra 9 miếng, lấy một cái áo cụ vẫn mặc, đi ra chỗ đó chiêu hồn cụ về. Mà áo cũ đã đốt hết, còn giữ lại áo đẹp phải không?” “Dạ phải”.
Đến tối, một đám đàn bà con gái do bà chị dâu dẫn đầu làm theo lời bà thầy bói. Lúc về đến nhà, tôi thấy bà chị bê mâm lễ có phủ cái áo của mẹ tôi, đặt lên bàn thờ chỗ để ảnh của bà. Cái Hồng thắp ba nén nhang, nó đã cẩn thận tắt ngọn lửa mới cắm, tôi chợt thấy ngọn lửa bùng lên ở đầu ba cây nhang nên mới buột miệng kêu lên:
- A, Bà về rồi, yên tâm rồi!
Mọi người đều vui mừng, nỗi lo hồn mẹ mình phải lang thang đói khát đã được cất đi. Khi thấy nhang bùng cháy cái Hồng kể: “Hôm qua chúng cháu ra mộ bà, cháu thắp hương, cháu tắt lửa đi rồi mới cắm xuống mà bát hương nó cứ cháy bùng lên, cháu sợ quá mới nói với bà: “Bà ơi bà, bà đừng làm cháu sợ” ngọn lửa lại tắt đi, rồi một lúc sau nó lại bùng lên”. Tôi nhớ lần trở về chịu tang bố, khi thắp nhang, cả bát nhang cũng bùng cháy, nhưng hồi ấy tôi không để ý chuyện linh thiêng mà chỉ sợ cháy nhà. Chuyện bát nhang cháy này thì tôi còn được nghe nhiều người kể. Phải chăng linh hồn là năng lượng đã tiếp thêm cho những đốm than đỏ đầu que nhang bùng cháy, như người ta thổi oxy vào vậy?
Sáng sau tôi chở cái Nhung đi coi ở chỗ hai bà con dâu của mẹ tôi vừa coi, tôi muốn tự mình kiểm chứng, không chỉ về chuyện của nhà mình mà còn về cả một thực tại huyền bí, từng bị chủ nghĩa duy vật thô thiển nhân danh khoa học phủ nhận, nhưng từ ngàn đời nó vẫn hiển hiện bằng những hiện tượng mà chỉ những người có cơ duyên khai mở được những giác quan đặc biệt mới có thể nhận biết được. Họ như có sứ mệnh kết nối đời phàm với thế giới vô hình, vén bức màn vô minh bởi cái nhìn duy lý thô thiển của chúng ta. Đến nhà, tôi thấy bà thầy bói tuổi trung niên, mặt tròn, gồ má cao, đặc biệt đôi mắt có ánh lạ. Bà dẫn chúng tôi lên căn phòng có điện thờ, sàn trải chiếu, có cái bàn nhỏ để một cái gương lớn. Ở nhà bảo đặt lễ một chục, tôi thấy ít quá nên đặt ba chục. Tôi và đứa cháu ngồi xuống tấm chiếu, viết tên tuổi cả nhà và địa chỉ, thư thái như ngồi thiền, vì người ta nói nếu mình nghi ngờ sẽ gây nhiễu làm thày bà nói sai; tôi cũng không nghĩ về chuyện gì để đề phòng khả năng “tha tâm thông”, đọc được ý nghĩ người khác của bà thầy bói. Sau khi lầm rầm khấn vái tung đồng xu xin âm dương xong bà ấy nói:
- Sao cái nhà bác này mất nhiều tiền thế, tiền tỷ chứ không phải trăm triệu đâu, mà mất cả mấy năm nay rồi (đúng quá! Tôi nghĩ thầm). Bác cũng bị người ta lừa nhiều (tôi giật mình, đây là điều tôi muốn giấu mọi người) nhưng những người ấy sẽ gánh nạn cho bác đấy. Bây giờ bác hết tiền rồi, chỉ có bán đất thì mới có tiền thôi, cũng phải 5 tỷ đấy (Thật đúng quá!). Còn số bác cũng may là bác có cái tâm tốt, bác đã giúp đỡ rất nhiều người nên mới còn sống đến ngày hôm nay, nếu không thì bác bốc mộ lâu rồi (Tôi giật mình, nghe mà hoảng).
Về thằng con trai tôi, bà nói nó chưa làm được gì đâu, còn tốn rất nhiều tiền cho nó (du học Mỹ sao mà không tốn được!), bây giờ cách núi cách sông không về được đâu (Đúng quá, cái Nhung phì cười luôn, bà ấy đâu biết con tôi bên Mỹ). Bà ấy nói tôi mới có tang và khuyên những điều y như hôm trước nói với hai người con dâu nhà tôi, nên tôi phải khai ra chúng tôi là một nhà, rồi hỏi luôn mẹ tôi đã về chưa. Bà ấy trả lời:
- Cụ về rồi, tối qua đi rước cụ về chứ gì. Bây giờ tốt rồi.
Tiện dịp tôi hỏi về bố mình:
- Nhờ chị coi cho bố tôi tuổi Nhâm Tuất (1922) thì thế nào?
Bà ấy lại lầm rầm khấn vái tung đồng xu rồi nói:
- Mất lâu rồi còn gì (bố tôi mất 1990), đào lên lấp xuống vài lần, xây mộ rồi còn gì. Mộ hướng Đông Nam. Tốt đẹp rồi.
Tôi không chắc mộ bố hướng gì, nhưng áng chừng là hướng Tây cơ, nhưng sau về hỏi một ông kỹ sư từng mang la bàn ra đo thì bảo đúng là hướng Đông Nam thật. Thật không thể phủ nhận được.
Nhà tôi thuộc họ Nguyễn Huy, cụ Tổ đã đến vùng quê tôi lập nghiệp sinh ra 3 chi, chi giữa là dòng nhà tôi. Về các đời trước tôi chỉ được nghe kể một ít chuyện mang tính lịch sử của cả dòng họ, còn về ông nội, tôi được nghe câu chuyện về thời ông sang Lào. Trong đoàn có ông Viện bị “ngã nước” (bệnh sốt rét) chết; mọi người bảo chôn; nhưng ông tôi không chịu, đã vác ông Viện từ tận Lào về để ông được chôn ở quê. Một lần đến thăm nhà thờ họ, tôi được nghe bà Ầm, dâu trưởng họ tôi, kể: “Hồi cải cách đánh địa chủ, không có ông cụ nhà anh thì cái nhà này bị phá rồi”. Ông tôi không phải địa chủ, lẽ ra phải vào hùa với mọi người để kiếm chác, nhưng đã đứng ra bảo vệ di sản của cả dòng họ. Tôi biết ông tôi rất trọng văn hóa, được học một ít chữ Nho, còn được thầy giáo gả con gái cho (chính là bà nội tôi), thường bảo chúng tôi: “Tiên sư chúng bay, ông mà thấy trong hố xí có chữ của ông là ông giết”. Tôi, hồi cấp 1, cấp 2, học giỏi nhất trường nên ông rất quý tôi, mời cả thầy chủ nhiệm đến nhà mổ gà thết đãi. Đến đời bố tôi thì ông là y sĩ Tây y đầu tiên của vùng quê tôi. Ông luôn chữa bệnh không lấy tiền, cứu sống được mấy người thì cả vùng ai cũng biết. Đến thời tôi thì dù không thiết tha lắm nhưng rồi ở quê, tôi cũng lại là người có danh hiệu Nhà Văn Việt Namđầu tiên mà đến nay vẫn là duy nhất. Đến lượt thằng con tôi thì hiện nó cũng lại là người duy nhất tốt nghiệp không phải một mà hai trường ở một nước tiên tiến nhất thế giới là Mỹ.  Xem chừng nhà tôi, về mặt tri thức và văn hoá đúng là có nhiều cái là đầu tiên và duy nhất ở quê.
Giờ đây tôi đã vào tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, từng làm công việc nghiên cứu khoa học ở một viện, từng viết sách, từng tranh luận trên diễn đàn trong nước, trên mạng khắp thế giới, chính vậy tôi đã phải tìm hiểu tất cả, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, từ triết học đến lý luận văn học nghệ thuật, từ giáo lý các tôn giáo đến những hiện tượng tâm linh trong đời sống. Với lĩnh vực tâm linh, để tin thì ngay cả với những người mù chữ, nhưng họ có khả năng đặc biệt do cơ duyên nào đó, nếu họ nói có lý, có đầy đủ chứng cớ thì buộc tôi phải tin. Như bà thầy bói trên đây đã nói đúng những chuyện chỉ riêng nhà tôi có thì tôi không thể không tin.     

***

Những ngày sau, mấy anh em làm lễ ấp mộ, dẫy cỏ phủ kín, sau ba ngày, làm lễ mở cửa mả, thế là mẹ tôi đã mồ yên mả ấm. Tôi thấy nghĩa trang trở nên thân thuộc hơn, cách mộ mẹ tôi mấy chục mét là mộ cha và ông nội. Tôi từng nghĩ sau khi mẹ chết thì mình về với ai? Nhưng khi mẹ mất rồi lại thấy khác, với những đứa con xa, dường như cha mẹ mất rồi mối liên hệ có khi còn bền chặt hơn, có một sợi dây vô hình ràng buộc xuất phát từ chính nơi nghĩa địa thiêng liêng này.
Còn bây giờ, ngày ngày ba bữa, tôi cúng cơm mẹ mình. Từ trước tới nay tôi làm giỗ cha ông, chủ yếu là để nhắc nhở con cái biết về nguồn cội, nhưng cứ bưng lên đặt xuống thấy thức ăn còn nguyên vẹn, thật khó tin là người thân đã được hưởng gì đó. Nhưng sau khi tìm hiểu, tôi thấy có những chứng cớ chứng tỏ người chết có thưởng thức được những lễ vật. Theo giáo lý nhà Phật, sau khi chết 49 ngày, thần thức con người thành thân trung ấm, sống bằng mùi hương nên còn được gọi là thực hương ấm. Từ đó tôi thấy có cơ sở để làm cơm cúng mẹ, còn nếu chỉ vì mê tín không phải tâm linh mà là khoa học, trở thành một kẻ có học ngu dốt, cố chấp, tôi lại để cho linh hồn mẹ mình lang thang đói khát thì thật đại bất hiếu! Vậy là trần sao âm vậy, ngày ba bữa tôi làm cơm cúng mẹ. Giống như khi làm thí nghiệm khoa học để đạt hiệu quả cao nhất, tôi thường làm những món ăn thật thơm, thật nóng sốt, khi hương bay ngào ngạt, tôi đặt lên bàn thờ cúng mẹ mình. Tôi chỉ còn làm được như vậy cho mẹ tôi thôi.
Mẹ ơi! Mẹ mất rồi! Hồn mẹ có còn không?
Lễ chung tất, ngày 49 mất Mẹ
Sài Gòn, 21-9 năm Mậu Tý (2008).
ĐÔNG LA